Yêu Cầu Phi Chức Năng Là Gì / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Yêu Cầu Chức Năng Hay Phi Chức Năng?

Đã có một câu trả lời tuyệt vời của Aaronaught, nhưng vì đã có những câu trả lời khác, hiện đã bị xóa, hoàn toàn sai về yêu cầu phi chức năng là gì, tôi nghĩ sẽ hữu ích khi thêm một vài lời giải thích để tránh những sai lầm về những gì yêu cầu phi chức năng là.

Yêu cầu phi chức năng là “chất lượng hoặc tài sản mà sản phẩm phải có” . James Taylor nói rằng một yêu cầu phi chức năng “[…] dù sao cũng là một yêu cầu và điều quan trọng đối với khách hàng, đôi khi còn quan trọng hơn cả yêu cầu chức năng” . Sau đó, ông đưa ra hai ví dụ: logo của sản phẩm, độ chính xác và độ tin cậy của thiết bị. Cả hai ví dụ cho thấy rất rõ rằng:

Các yêu cầu phi chức năng không phải là một jibber-jabber tiếp thị như: “Internet ngày nay rất quan trọng và chúng tôi muốn có một trang web”.

Các yêu cầu phi chức năng là hoàn toàn khách quan.

Điểm cuối cùng là cần thiết. Nếu yêu cầu là chủ quan, nó không có gì để làm trong danh sách các yêu cầu. Không thể xây dựng các bài kiểm tra xác nhận từ một cái gì đó chủ quan . Mục đích duy nhất của danh sách các yêu cầu là liệt kê những kỳ vọng không mơ hồ của khách hàng. “Tôi muốn hình vuông này có màu đỏ” là một yêu cầu. “Tôi muốn hình vuông này có màu sắc đẹp” là một điều ước cần có lời giải thích.

Hãy nhớ rằng danh sách các yêu cầu giống như một hợp đồng (và trong hầu hết các trường hợp là một phần của hợp đồng). Nó được ký bởi khách hàng và công ty phát triển, và trong trường hợp kiện tụng, nó sẽ được sử dụng hợp pháp để xác định xem bạn đã thực hiện đúng công việc của mình chưa. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi đặt hàng cho bạn một sản phẩm phần mềm, xác định rằng “sản phẩm phải tuyệt vời” và từ chối thanh toán khi sản phẩm được hoàn thành, bởi vì đối với tôi, những gì bạn thực sự đã làm không phải là một sản phẩm tuyệt vời ?

Vì vậy, hãy xem một số ví dụ.

1. Sản phẩm phần mềm đáp ứng cho người dùng cuối.

Đây không phải là một yêu cầu. Không phải là một chức năng. Không phải là một chức năng. Nó không phải là một yêu cầu. Ở tất cả. Nó có giá trị bằng không. Bạn không thể kiểm tra xem hệ thống phần mềm có đáp ứng yêu cầu này trong quá trình kiểm tra xác nhận hay không. Không phải bạn – bộ phận QA, cũng không phải khách hàng.

2. Việc tải lại số liệu thống kê người dùng thực hiện 90% thời gian dưới 100 ms. khi được thử nghiệm trên máy với hiệu suất được chỉ định trong phụ lục G phần 2 và tải dưới 10% cho CPU, dưới 50% cho bộ nhớ và không có hoạt động đĩa R / W hoạt động.

Đó là một yêu cầu. Nếu phụ lục G phần 2 đủ chính xác, tôi có thể lấy máy có phần cứng tương tự và thực hiện kiểm tra xác nhận trong bộ phận QA và tôi sẽ luôn nhận được kết quả nhị phân: đã vượt qua hoặc thất bại.

Đây có phải là một yêu cầu chức năng? Không. Nó không chỉ định những gì hệ thống phải làm. Có thể có một yêu cầu chức năng trước đó, xác định rằng ứng dụng phần mềm phải có thể tải lại số liệu thống kê người dùng.

Đây có phải là một yêu cầu phi chức năng? Nó là. Nó chỉ định một thuộc tính mà sản phẩm phải có, tức là thời gian phản hồi tối đa / trung bình, được đưa ra ngưỡng phần trăm.

4. Cơ sở mã C # của sản phẩm tuân theo Quy tắc khuyến nghị tối thiểu của Microsoft và Quy tắc toàn cầu hóa của Microsoft.

Đây là một điều kỳ lạ. Cá nhân, tôi không muốn gọi nó là một yêu cầu, và đưa nó vào một tài liệu riêng quy định các tiêu chuẩn và thực tiễn tốt nhất.

5. Cửa sổ chính của ứng dụng có viền 10px màu xanh lam (# 00f) với các vòng tròn được tô màu hồng (#fcc), các vòng tròn đó được đặt ở cạnh trong của đường viền và có đường kính 3px, cách nhau 20px.

Đây là một yêu cầu, và không có chức năng. Nó chỉ định một cái gì đó chúng tôi có thể kiểm tra trong quá trình kiểm tra xác thực và nó chỉ định một thuộc tính của sản phẩm, chứ không phải những gì sản phẩm dự định làm.

6. Hệ thống theo dõi xe đo tốc độ với độ chính xác ± 0,016 dặm / giờ.

Cũng là một yêu cầu phi chức năng. Nó đưa ra một ngưỡng có thể đo lường được về độ chính xác của hệ thống. Nó không cho biết hệ thống phải làm gì, nhưng cho biết chính xác thì nó hoạt động như thế nào. Nhưng còn chờ gì nữa? Nó nói rằng hệ thống theo dõi xe đo tốc độ, phải không? Vì vậy, đó là một yêu cầu chức năng quá? Chà, không, vì chúng tôi nhấn mạnh vào độ chính xác của phép đo, chứ không phải trên thực tế là phép đo được thực hiện.

7. Hệ thống theo dõi xe đo tốc độ của xe.

Bây giờ nó là một yêu cầu chức năng. Nó không cho biết hệ thống hoạt động như thế nào, nhưng nó đang làm gì. Thông qua các yêu cầu chức năng, chúng ta có thể biết rằng hệ thống theo dõi xe đo tốc độ, năng lượng pin, áp suất của tôi không biết đèn nào sáng và có bật hay không.

8. Các trang của trang web mất 850 ms. để tải.

Đây không phải là một yêu cầu. Là cố gắng là một, nhưng hoàn toàn không hợp lệ. Làm thế nào bạn có tài sản này? Những trang nào? Tất cả các? Đã thử nghiệm qua mạng 1Gbps cục bộ trên máy khách lõi tứ và máy chủ tám lõi với SSD được sử dụng ở mức 2% hoặc qua modem của máy tính xách tay cũ và xảo quyệt trong khi trang web được lưu trữ bởi một máy chủ nhỏ được sử dụng ở mức 99% ? “Tải” nghĩa là gì? Có nghĩa là tải xuống trang? Tải về và hiển thị nó? Gửi yêu cầu POST với một số dữ liệu lớn, sau đó tải phản hồi và hiển thị nó?

Để kết luận, một yêu cầu phi chức năng luôn là một yêu cầu, có nghĩa là nó mô tả một cái gì đó là hoàn toàn khách quan và có thể được kiểm tra thông qua một bài kiểm tra xác nhận tự động hoặc bằng tay, nhưng thay vì nói những gì hệ thống đang làm, nó giải thích cách hệ thống đang làm một cái gì đó hoặc làm thế nào hệ thống là chính nó .

Quản lý các dự án công nghệ thông tin: Áp dụng các chiến lược quản lý dự án cho các sáng kiến ​​tích hợp phần cứng, phần cứng và tích hợp, James Taylor, ISBN: 0814408117.

Hỏi: Yêu Cầu Phi Chức Năng Chung Cho Các Hệ Thống Thông Tin Cung Cấp Dịch Vụ Công Trực Tuyến Gồm Những Chức Năng Gì?

Trả lời: Ngày 06/5/2013, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành văn bản số 1276/BTTTT-ƯDCNTT gửi các đơn vị chuyên trách về CNTT các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc hướng dẫn về các yêu cầu phi chức năng chung cho các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Trong hướng dẫn nêu rõ Phạm vi áp dụng là Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, nhằm hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong việc: Xây dựng yêu cầu phi chức năng cho các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến; xây dựng bộ tiêu chí dùng để đánh giá về sự đáp ứng của các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với yêu cầu đặt ra trước khi nghiệm thu và tiếp nhận hệ thống. Đối tượng áp dụng gồm: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; Các cơ quan, doanh nghiệp và các tổ chức khác có nhu cầu có thể tham khảo, áp dụng.

Đối với hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến cần đáp ứng yêu cầu của người sử dụng, và xác định mối quan hệ tương tác giữa người sử dụng và hệ thống được phân loại thành hai nhóm:

1. Các yêu cầu chức năng là các chức năng tối thiểu mà hệ thống cần có nhằm đáp ứng các yêu cầu của các đối tượng tham gia vào việc quản lý, vận hành, duy trì, thực hiện nghiệp vụ bên trong, sử dụng dịch vụ cung cấp ra bên ngoài của hệ thống; 

2. Các yêu cầu phi chức năng là những ràng buộc và điều kiện đối với các yêu cầu chức năng của hệ thống như: ràng buộc về thời gian, ràng buộc về hiệu năng, các tiêu chuẩn được sử dụng… Những yêu cầu này ảnh hưởng đến chất lượng, khả năng sử dụng của hệ thống và có tác động trực tiếp đến sự hài lòng của người sử dụng, do đó, quyết định sự thành công của hệ thống. Các yêu cầu phi chức năng chung cho các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến, gồm 7 chức năng cơ bản, đó là: 

(1) Hiệu năng hoạt động: Yêu cầu về thời gian; Tài nguyên sử dụng; Công suất tối đa; 

(2) Tương thích: Cùng tồn tại; Tương tác liên thông; 

(3) Tính khả dụng: là mức độ sử dụng được và làm hài lòng người sử dụng như: Phù hợp với nhu cầu;  Dễ dàng học cách sử dụng; Giao diện người sử dụng; Khả năng truy cập, khai thác;

(4) Tính tin cậy: Trưởng thành; Sẵn sàng; Khả năng chịu lỗi; Khả năng phục hồi; Thời gian giữa các lần xảy ra sự cố gián đoạn hoạt động của hệ thống;

(5) An toàn thông tin: Bảo mật; Toàn vẹn; Xác thực.

(6) Duy trì được là Phân tích được; Hiệu chỉnh được và Khả chuyển là Mức độ hiệu suất và hiệu quả của việc dịch chuyển một hệ thống từ một nền tảng phần cứng, phần mềm, hệ điều hành từ môi trường sử dụng này sang môi trường sử dụng khác; hỗ trợ khả năng dịch chuyển từ nền tảng chạy trên Unix sang nền tảng chạy trên Windows Server một cách dễ dàng, không phát sinh thêm chi phí hoặc kinh phí không đáng kể; Thích ứng: là hỗ trợ và sử dụng các trình duyệt thông dụng hiện nay như Micrsoft Internet Explorer, Google Crome, Mozila Firefox…; Cài đặt được; Vận hành; khai thác; Khả năng thay thế được là mức độ một sản phẩm phần mềm của hệ thống có thể được thay thế bởi một sản phẩm phần mềm khác có cùng mục đích sử dụng trong cùng một môi trường. 

 Chi tiết tải bản mềm Công văn hướng dẫn từ trang thông tin điện tử: http://www.aita.gov.vn.

BBT

 

Hồng Cầu Là Gì, Cấu Tạo, Chức Năng Của Hồng Cầu

Hồng cầu là 1 trong những thành phần quan trọng cấu tạo nên máu bên cạnh bạch cầu, tiểu cầu, huyết tương. Trong máu, tế bào hồng cầu có số lượng nhiều nhất (hơn 99% các thành phần) và chứa thành phần chứa huyết sắc tố giúp máu có màu đỏ.

Hồng cầu là thành phần quan trọng trong máu

Về hình dạng, tế bào hồng cầu có hình đĩa lõm hai mặt với đường kính khoảng 7,8 µm (1.000.000 µm = 1m). Ở vị trí dày nhất hồng cầu có độ dày khoảng 2,5 µm, ở vị trí trung tâm độ dày tối đa khoảng 1 µm. Thông thường, hồng cầu có thể tích trung bình khoảng từ 90 – 96 µm3. Thành phần chính cấu tạo nên tế bào hồng cầu là hemoglobin (Hb), chiếm 34% trọng lượng. Hình dạng đĩa lõm giúp hồng cầu tăng diện tích bề mặt tiếp xúc và gia tăng khả năng khuếch tán oxy, từ đó dễ dàng vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Bên cạnh đó, tế bào hồng cầu cũng có khả năng biến dạng tốt để dễ dàng di chuyển qua các mao mạch mà không bị vỡ.

Thông thường số lượng hồng cầu ở 1 người lớn là khoảng 5.400.000 ± 300.000 /mm3 với nam giới và khoảng 4.700.000 ± 300.000/mm3 với nữ giới. Tuy nhiên số lượng hồng cầu trung bình cũng có thể thay đổi tùy theo các trường hợp cụ thể.

Vai trò, chức năng của hồng cầu

Là 1 trong những tế bào máu, hồng cầu có vai trò rất quan trọng với cơ thể.

Nhiệm vụ chính và quan trọng của hồng cầu đó là vận chuyển oxy cho các tế bào, cơ quan trong cơ thể. Sau đó, các tế bào hồng cầu lại đưa khí cacbonic từ các tế bào trở về phổi để thải ra ngoài.

Hồng cầu cũng có chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng, axit amin, glucose từ ruột non đến các tế bào và từ đó đưa lại các chất thải của quá trình chuyển hóa đến các cơ quan bài tiết.

Do hồng cầu có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển oxy, chất dinh dưỡng và là thành phần tạo ra màu đỏ đặc trưng cho máu nên khi máu đủ số lượng hồng cầu, cơ thể sẽ khỏe mạnh, da hồng hào. Những trường hợp thiếu máu, lượng hồng cầu giảm hoặc ít thì da dẻ sẽ có biểu hiện xanh xao nhợt nhạt. Cùng với đó, sự thiếu hụt hồng cầu cũng khiến cho cơ thể mệt mỏi, thiếu tập trung, choáng váng… do chức năng vận chuyển oxy và chất dinh dưỡng bị ảnh hưởng.

Hồng cầu có nhiều vai trò với cơ thể

Ý nghĩa các chỉ số xét nghiệm hồng cầu thường gặp

Số lượng hồng cầu

Chỉ số số lượng hồng cầu phản ánh tình trạng sức khỏe của cơ thể. Cụ thể như sau:

Nếu lượng hồng cầu tăng cao hơn so với bình thường thì cơ thể đang gặp phải tình trạng cô đặc máu (gặp trong các trường hợp người bệnh bị mất nước, tiêu chảy, nôn…) hoặc tình trạng đa hồng cầu thực (bệnh lý Vaquez).

Nếu số lượng hồng cầu thấp hơn bình thường thì có thể là biểu hiện tình trạng thiếu máu, mất máu do 1 số nguyên nhân như chảy máu bên trong hoặc bên ngoài. Bên cạnh đó cơ thể bị thiếu sắt, không cung cấp đủ vitamin B12 cũng khiến số lượng hồng cầu giảm. Bên cạnh đó số lượng hồng cầu giảm cũng có thể do hồng cầu bị phá hủy. Trường hợp chỉ số số lượng hồng cầu giảm cũng thường gặp ở người già, phụ nữ có thai hoặc người bị bệnh lý như suy tủy, thấp khớp, ung thư, bệnh lý về thận….

Lượng huyết sắc tố

Lượng huyết sắc tố (HBG) là chỉ số thể hiện lượng huyết sắc tố trong máu, hemoglobin là thành phần chính có trong hồng cầu. Nếu lượng huyết sắc tố thấp hơn so với mức trung bình thì người bệnh đang gặp phải tình trạng thiếu máu. Trường hợp lượng huyết sắc tố xuống dưới 60g/l là tình trạng nghiêm trọng và cần phải được truyền máu cấp cứu.

Chỉ số Hematocrit cho biết hồng cầu chiếm bao nhiêu phần trăm thể tích máu. Nếu chỉ số này cao hơn bình thường có thể do cơ thể thiếu nước hoặc gặp trong các bệnh lý như rối loạn dị ứng, tăng hồng cầu, do hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), bệnh lý mạch vành, chứng giảm lưu lượng máu (hypovolemia). Chỉ số này giảm trong các trường hợp mất máu hoặc người bị thiếu máu hoặc do phụ nữ đang trong thời kỳ thai nghén.

XEM THÊM CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

➽ Rbc là gì? Rbc trong máu đóng vai trò thế nào với sức khỏe?

➽ Tình trạng bạch cầu tăng báo hiệu cơ thể gặp vấn đề gì?

➽ Nhóm máu AB và đặc điểm của người mang nhóm máu này

Yêu Cầu Của Cán Bộ, Công Chức

Theo V.I.Lênin, phẩm chất cao quý của cán bộđược hiểu là họ có lòng trung thành cới sự nghiệp và có năng lực. Do đó CB,CC nhà nước phải có trình độ và tiêu chuẩn nhất định

Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định. Nói cách khác năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong một điều kiện xác định. Thông thường người ta chi rằng năng lực gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ .

Năng lực của cán bộ công chức không phải là năng lực bất biến, được sử dụng trong mọi hoàn cảnh, môi trường. Ơ thời điểm hay môi trường này, năng lực được thể hiện, phát huy tác dụng, nhưng ở thời điểm khác thì cần phải có loại năng lực khác .Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh , môi trường khác nhau đặt ra yêu cầu về năng lực khác nhau. Người có năng lực tổ chức trong kháng chiến khác không có nghĩa là có năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ giỏi trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa thị trường, cũng không có nghĩa là người đó cung có khả năng trở thành một giáo viên ngay được

Năng lực của CB, CC luôn gắn với mục đích tổng thể , với chiến lược phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực, điều kiện cụ thể.

Năng lực không phải là bằng cấp, trình độ được đào tạo chính quy.

Trong một tổ chức có năng lực tồn tại những cá nhân chưa có năng lực công tác và ngược lại, có những cá nhân có năng lực công tác tồn tại trong tổ chức hoạt động kém hiệu quả.

Thông thường người ta phân thành 4 mức độ của năng lực:

Có thực hiện công việc khi được hướng dẫn, kèm cặp cụ thể thường xuyên.

Thực hiện được công việc, nhưng thỉnh thoảng vẫn cần sự hướng dẫn.

Có thể thực hiện tốt công việc một cách thành thạo, độc lập.

Thực hiện công việc một cách thành thạo và có khả năng hướng dẫn được cho người khác

Năng lực chuyên môn

Năng lực chuyên môn được thể hiện trong việc quản lý nhân sự, quản lý công nghệ thông tin, tư vấn pháp lý, cũng như trong quan hệ với uần chúng, trong quản lý và phân công lao động. Tỏn đó cốt lõi của nó là kiểm soát dược mục tiêu công việc và phương tiện để đạt được mục đích, làm chủ được liến thức và quản lý thực tiễn, thể hiện cụ thể ở:

Trình độ văn hóa và chuyên môn(thông qua chỉ tiêu bậc học, ngành được đào tạo, hình thức đào tạo, ngạch, bậc công chức…)

Kinh nghiệm công tác ( thông qua chỉ tiêu thâm niên công tác, vị trí công tác đã kinh qua).

Kỹ năng(thành thạo nghiệp vụ, biết làm các nghiệp vụ chuyên môn).

Năng lực tổ chức

Năng lực tổ chức bao gồm khả năng động viên và giải quyết các công việc, đó là khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động của các nhân viên của đồng nghiệp, khả năng làm việc với con người và đưa tổ chức tới mục tiêu, biết dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hành, phối hợp công việc và kiểm soát công việc.Năng lực này đặc biệt cần thiết và quan trọng đối với CB,CC, vì vậy nó hay được xem xét khi đề bạt, bổ nhiệm. Cách nhận biét một người có năng lực tổ chức có thể dựa vào những tiêu chuẩn mang tính địng tính:

+ Biết mình, nhất là biết nhìn mình quan nhận xét của người khác.

+ Biết người, nghĩa là biết nhìn nhận con người đúng với thực chất của họ và biết sử dụng họ

Có khả năng tiế cận dễ dàng với những người khác

Biết tập hợp những người khác nhau vào một tập thể theo nguyên tắc bổ sung nhau

Biết giao việc cho người khác và kiểm tra việc thực hiện của họ

+ Tháo vát, sáng kiến biết cần phải làm gì và làm như thế nào trong mọi tình huống, có những giải pháp sáng tạo.

+ Quyết đoán, dám ra quyết định và dám chịu trách nhiệm

Đây là một tiêu chuẩn quan trọng đối với CB, CC, họ phải là người hết lòng trong công việc, vì sự nghiệp phục vụ nhà nước, là công bộc của nhân dân, có đạo đức tốt, có tư cách đúng đắn trong thực thi công vụ

Người CB, CC trước tiên phải có một lịch sử bản thân rõ ràng, có một lý lịch phản ánh rõ rang mối quan hệ gia đình và xã hội. Chúng ta chống lại quan niệm cũ kỹ, duy ý chí về thành phần chủ nghĩa, nhưng như thế không có nghĩa là không xem xét đến đạo đức của con người cụ thể biểu hiện trong quan hệ tương tác vố gia đình, xã hội và trong lịch sử bản thân. nếu không xem xét kỹ điều đó sẽ dẫn đến việc tuyển dụng những con người thiếu tư cáchvà trong thực thi công vụ họ sẽ lợi dụng chức quyền đẻ mưu ccầu lợi ích cá nhân.