X Là Một Tetrapeptit Cấu Tạo Từ Một Amino Axit / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Amino Axit Tính Chất Hoá Học, Công Thức Cấu Tạo Và Bài Tập Về Amino Axit / 2023

– Amino axit là là những hợp chất hữu cơ tạp chức trong phân tử có chứa đồng thời 2 nhóm chức: nhóm amino (NH 2) và nhóm cacboxyl (COOH).

⇒ Amino axit đơn giản nhất là: H2N-COOH

2. Công thức cấu tạo của Amino axit

– Trong phân tử amino axit, nhóm NH 2 và nhóm COOH tương tác với nhau tạo ion lưỡng cực. Vì vậy amino axit kết tinh tồn tại ở dạng ion lưỡng cực

– Trong dung dịch, dạng ion lưỡng cực chuyển một phần nhỏ thành dạng phân tử

3. Cách gọi tên amino axit – danh pháp

a) Tên thay thế:

Ví dụ: H 2N-CH 2-COOH: axit aminoetanoic ; HOOC-[CH 2] 2-CH(NH 2)-COOH: axit 2-aminopentanđioic

b) Tên bán hệ thống:

Ví dụ: CH 3 -CH(NH2)-COOH : axit α-aminopropionic

c) Tên thông thường:

– Các amino axit thiên nhiên (α-amino axit) đều có tên thường.

Ví dụ: NH 2-CH 2-COOH : Axit aminoaxetic tên thường là glixin hay glicocol)

CH 3-CH(NH 2)-COOH : Axit aminopropionic (alanin)

II. Tính chất vật lý của Amino Axit

– Chất rắn, dạng tinh thể, không màu, vị hơi ngọt.

– Nhiệt độ nóng chảy cao, dễ tan trong nước vì amino axit tồn tại ở dạng ion lưỡng cực:

dạng phân tử dạng ion lưỡng cực

III. Tính chất hoá học của Amino Axit

1. Sự phân li trong dung dịch

– Sự phân ly trong dung dịch tạo ion lưỡng cực

2. Aminoaxit có tính lưỡng tính

a) Tính axit của amino axit (amino axit + NaOH hoặc amino axit + KOH)

– Tác dụng với bazơ mạnh tạo ra muối và nước:

* Chú ý: để giải bài tập amino axit các em chú ý sử dụng phương pháp tăng giảm khối lượng.

b. Tính bazơ của amino axit (amino axit + HCl hoặc amino axit + H2SO4)

– Amino axit tác dụng với axit mạnh tạo muối.

* Chú ý: sử dụng phương pháp tăng giảm khối lượng và định luật bảo toàn khối lượng khi giải bài tập.

3. Phản ứng trùng ngưng của amino axit

– Phản ứng trùng ngưng của 6-aminohexanoic (axit ε-aminocaproic) hoặc axit 7-aminoheptanoic (axit ω-aminoenantoic) với xác tác tạo thành polime thuộc loại poliamit.

– Từ n aminoaxit khác nhau có thể tạo thành n! polipeptit chứa n gốc aminoaxit khác nhau; n n polipeptit chứa n gốc aminoaxit.

4. Amino axit tác dụng với HNO2 (phản ứng của nhóm NH2)

5. Amino axit phản ứng este hoá (phản ứng este hoá nhóm COOH)

* Chú ý: Aminoaxit có làm đổi màu quỳ tím hay không tùy thuộc vào quan hệ giữa số nhóm COOH và số nhóm NH 2 có trong phân tử amino axit:

+ Nếu phân tử amino axit có số nhóm COOH = số nhóm NH 2 → amino axit không làm đổi màu quỳ tím.

+ Nếu phân tử amino axit có số nhóm COOH < số nhóm NH­ 2 → amino axit làm đổi màu quỳ tím thành xanh.

– Các phản ứng do muối của amino axit tác dụng với dung dịch axit hoặc dung dịch kiềm.

IV. Điều chế và ứng dụng của Amino Axit

1. Phương pháp điều chế Amino axit

– Thủy phân protit:

– Amino axit thiên nhiên (hầu hết là α – amino axit) là cơ sở để kiến tạo nên các loại protein của cơ thể sống.

– Một số amino axit được dùng phổ biến trong đời sống như muối mononatri của axit glutamic dùng làm gia vị thức ăn (gọi là mì chính hay bột ngọt); axit glutamic là thuốc hỗ trợ thần kinh, methionin là thuốc bổ gan.

– Axit 6-amino hexanoic và 7-amino heptanoic là nguyên liệu để sản xuất tơ nilon-6 và nilon-7.

Ứng với công thức phân tử C 4H 9NO 2 có bao nhiêu amino axit là đồng phân cấu tạo của nhau?

A. 3. B. 4. C. 5. D. 6.

– Đáp án: C. 5

Để nhận ra dung dịch của các chất trên chỉ cần dùng thuốc thử nào sau đây?

A. NaOH. B. HCl. C. CH 3 OH/HCl. D. Quỳ tím.

– Đáp án: D. Quỳ tím.

– Cho quỳ tím vào 3 mẫu thử, mẫu thử nào quỳ tím có màu đỏ là CH 3CH 2COOH, mẫu thử nào quỳ tím có màu xanh là CH 3[CH 2] 3NH 2, mẫu thử mà quỳ tím không màu là H 2NCH 2 COOH

Bài 3 trang 48 SGK hóa 12: Amino axit X có phần trăm khối lượng các nguyên tố C, H, N là 40,45%; 7,86%; 15,73%, còn lại là oxi, và công thức phân tử trùng với công thức đơn giản nhất. Xác định công thức cấu tạo và gọi tên của X.

⇔ x : y : z : t = 3 : 7 : 2 : 1

⇒ Công thức cấu tạo CH 3-CH(NH 2)-COOH Axit α-aminopropinoic (alanin)

Bài 4 trang 48 SGK hóa 12: Viết phương trình hóa học của các phản ứng giữa axit 2-aminopropanoic với NaOH, H 2SO 4; CH 3 OH khi có mặt khí HCl bão hòa.

Bài 5 trang 48 SGK hóa 12: Viết phương trình hóa học phản ứng trùng ngưng các amino axit sau:

a) Axit 7 – aminoheptanoic

b) Axit 10- aminođecanoic

– Axit 7-aminoheptanoic

– Axit 10-aminođecanoic

Bài 6 trang 48 SGK hóa 12: Este A được điều chế từ amino axit B (chỉ chứa C, H, N, O) và ancol metylic. Tỉ khối hơi của A so với H 2 là 44,5. Đốt cháy hoàn toàn 8,9 gam este A thu được 13,2 gam CO 2, 6,3 gam H 2O và 1,12 lít N 2(đo ở đktc). Xác định công thức phân tử và công thức cấu tạo của A và B.

– Cũng theo bài ra, ta có có:

– Mặt khác, ta có M = 89.n = 89 ⇒ n = 1

⇒ Công thức cấu tạo của B là H 2N-CH 2-COOH

Van Một Chiều Lò Xo Là Gì? Cấu Tạo Van Nước Một Chiều Lò Xo / 2023

Van một chiều lò xo là thiết bị không thể thiếu trong quá trình phòng cháy và chữa cháy. Nó giúp con người dập tắt đám cháy một cách tối ưu. Hạn chế những nguy hiểm gây ra do hỏa hoạn.

Van một chiều lò xo là gì?

Van một chiều lò xo tương tự như van một chiều lá lật là loại van giúp cho dòng chảy của nước hoặc chất khí chỉ có thể đi theo một hướng nhất định và không cho chúng đi theo hướng ngược lại. Van hoạt động một cách tự động nhờ vào áp suất của dòng nước và chất khí. Không cần kết nối thiết bị điều khiển. Van một chiều lò xo thường được kết nối vào hệ thống ống dẫn.

Các loại van một chiều hiện nay rất đa dạng. Có những loại van được thiết kế từ đồng, gang, inox. Và có những loại van xuất xứ từ Đài Loan, Việt Nam, Malyasia,..

Cấu tạo van nước một chiều lò xo

Van nước một chiều thường được cấu tạo bởi 4 thành phần chính.

Thân van thường được cấu tạo từ gang, inox, nhựa phù hợp với mục đích sử dụng của từng yêu cầu.

Ty van thường thấy là loại được làm từ inox với độ bền cao và không bị gỉ sét.

Lá van là loại đĩa tròn nằm bên trong thân van, có thể làm từ nhiều chất liệu, chống ăn mòn được bọc một lớp cao su EPDM bảo đảm nước, khí không bị lọt qua.

Lò xo nẵm giữa ty van và lá van thân trên van với độ bền cực cao không bi gỉ sét.

Thông số kỹ thuật của van một chiều lò xo

Nguyên lý hoạt động van nước một chiều lò xo

Khi có dòng nước hoặc khí đi qua van một chiều. Dưới tác dụng của áp suất và lực đẩy sẽ đẩy lò xo và ép lá van đến vị trí mơ cho dòng nước đi qua.

Khi dòng nước chảy nguôi lại lò xo sẽ trở về vị trí đóng và ngăn dòng chất lỏng, khí chảy ngược trở về.

Van hoạt động hoàn toàn tự động và kết nối 2 chiều trên mặt bích trên đường ống giúp dễ dang thay thế. Với thiết kế gọn nhẹ giúp van dễ dàng thay thế.

Được thiết kế bằng nhiều chất liệu khác nhau như, đồng, inox, nhựa giúp van phù hợp với nhiều môi trường. Và vận chuyển nhiều loại chất lỏng khác nhau. Cần lưu ý lắp đúng chiều dòng chảy cho van.

Khi lắp đặt van một chiều lò xo cần lưu ý những gì?

Khi lắp đặt cần lắp đặt theo chiều mũi tên được kí hiệu trên thân van

Cần kiểm tra xem khoảng cách từ đầu van đến cuối thân van có vừa với chỗ thay thế hay không

Để tăng độ kín khi lắp đặt có thể thêm đẹm cao su hoặc gioăng cao su vào

tùy vào nhu cầu sử dụng của bạn để lắp đặt van theo phương nằm ngang hoặc phương thẳng đứng.

Gọi ngay 0965 848 555 để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí

Tại sao nên dùng van một chiều lò xo?

Với khả năng hoạt động hoàn toàn tự động, dựa trên lực đẩy của dòng chảy. Giúp tiết kiệm điện một cách tối đa.

Với thiết kế nhỏ gọn, van rất dễ dàng để lắp đặt và không tốn diện tích

Van có độ bền cao, an toàn cho người sử dụng. Được làm từ các vật liệu chống gỉ và chống ăn mòn cao.

Với tính năng vượt trội, loại van này luôn được người sử dụng tin tưởng. Loại van này là một trong những loại bán chạy nhất thị trường Việt Nam hiện nay. Cũng chính vì những tính năng vượt trội này mà loại van này trở nên rất phổ biến trên thị trường. Vậy nên mua van một chiều lò xo ở đâu thì uy tín?

Nếu bạn đang muốn chọn một đơn vị cung cấp uy tín, chất lượng mà giá cả lại hợp lý phải chăng thì BAT Group là lựa chọn hàng đầu. Chúng tôi luôn cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chính hãng, chất lượng. Các sản phầm đều đảm bảo đầy đủ tem kiểm định, các giấy tờ CO/CQ khi giao đến khách hàng. Đồng thời chúng tôi còn đảm bảo các chính sách bảo hành và hậu mãi cho khách hàng. Đến với BAT Group bạn có thể hoàn toàn yên tâm và trải nghiệm các dịch vụ hàng đầu của chúng tôi. Rất hân hạnh được phục vụ!

Cấu Tạo Của Một Động Cơ Xăng / 2023

Động cơ xăng bao gồm các bộ phận chính và các hệ thống phụ.

Bộ phận chính bao gồm: Thân máy, nắp máy, piston, thanh truyền, trục khuỷu, bánh đà… và cơ cấu phân phối khí.

Các hệ thống phụ gồm: Hệ thống làm trơn, hệ thống làm mát, hệ thống nạp và thải, hệ thống nhiên liệu và hệ thống điện động cơ.

Bộ phận chính có thể chia làm các bộ phận cố định, các bộ phận di động và cơ cấu phân phối khí.

Bộ phận chính

Thân máy và nắp máy.

Các piston và các thanh truyền.

Trục khuỷu và bánh đà.

Cơ cấu phân phối khí.

Các-te chứa nhớt.

Hệ thống phụ

Hệ thống làm trơn.

Hệ thống làm mát.

Hệ thống nạp và thải.

Hệ thống nhiên liệu.

Hệ thống điện động cơ.

Các bộ phận cố định bao gồm: Nắp máy, thân máy, các-te.

Thân máy là thành phần chính của động cơ, nó được chế tạo bằng gang hoặc hợp kim nhôm.

Thân máy có chức năng như một cái khung, nó dùng để bố trí các chi tiết và để giải nhiệt. Thân máy chứa các xy lanh và piston chuyển động lên xuống trong xy lanh.

Thân máy được đậy kín bởi nắp máy, ở giữa chúng có một joint làm kín. Hộp trục khuỷu được bố trí bên dưới thân máy, nó chứa đựng trục khuỷu. Các-te chứa nhớt được kết nối ở bên dưới thân máy. Mạch dầu làm trơn được bố trí bên trong thân máy. Một số động cơ, thân máy còn chứa trục cam, trục cân bằng và một số chi tiết khác.

Thân máy có dạng thẳng hàng hoặc chữ V tuỳ theo cách bố trí xy lanh. Ở động cơ chữ V các xy lanh được bố trí theo hai nhánh hình V nhưng chúng chỉ có một trục khuỷu. Người ta chế tạo động cơ chữ V với mục đích rút ngắn chiều dài thân máy. Số xy lanh ở loại này có thể là 6 hoặc 8 đôi khi có tới 12…

1.1.1/ Ống lót xylanh

Động cơ xăng, xy lanh thường được chế tạo liền với thân máy. Ở động cơ Diesel thường dùng ống lót xy lanh.

Ống lót xy lanh được chế tạo bằng thép cứng và được ép vào thân máy. Có hai loại ống lót xy lanh, đó là ống lót ướt và ống lót khô.

Ống lót ướt được lắp tiếp xúc với nước làm mát. Loại này phải làm kín tốt để ngăn ngừa nước làm mát rò rỉ xuống hộp trục khuỷu. Ống lót ướt rất dễ dàng sửa chữa thay thế.

1.1.2/ Hộp đỡ trục khuỷu

Hộp đỡ trục khuỷu dùng để gá lắp trục khuỷu. Số lượng các ổ trục chính để gá lắp trục khuỷu phụ thuộc vào chiều dài của trục khuỷu và sự bố trí xy lanh.

1.3/ Joint nắp máy

Joint nắp máy được đặt giữa khối xy lanh và nắp máy. Nó dùng để làm kín buồng đốt, làm kín đường nước làm mát và dầu nhớt làm trơn.

Joint nắp máy chịu được nhiệt độ cao và áp suất lớn. Cấu trúc của nó gồm một lớp thép mỏng đặt ở giữa , hai bề mặt của tấm thép được phủ một lớp carbon và một lớp bột chì để ngăn cản được sự kết dính giữa joint với bề mặt khối xy lanh và thân máy. Nó cũng được chế tạo bằng thép, aminian bọc đồng hoặc nhôm…

Nắp máy được bố trí trên thân máy, phần lõm bên dưới nắp máy chính là các buồng đốt của động cơ. Nắp máy chịu áp lực và nhiệt độ cao trong suốt quá trình động cơ hoạt động.

Nó được chế tạo bằng hợp kim gang hoặc bằng hợp kim nhôm. Trong nắp máy có bố trí các dường nước làm mát. Các bu gi, xú pap, trục cam, đường ống nạp, đường ống thải… được bố trí và gá lắp trên nắp máy.

Tuỳ theo sự bố trí các xú pap và số lượng của chúng, buồng đốt trên nắp máy có các dạng cơ bản sau:

1.4.1/ Buồng đốt kiểu hình bán cầu

Loại này có đặc điểm là diện tích bề mặt buồng đốt nhỏ gọn. Trong buồng đốt bố trí một xú pap nạp và một xú pap thải. Hai xú pap này bố trí về hai phía khác nhau. Trục cam bố trí ở giữa nắp máy và dùng cò mổ để điều khiển sự đóng mở của xú pap. Sự bố trí này rất thuận lợi cho việc nạp hỗn hợp khí và thải khí cháy ra ngoài.

1.4.2/ Buồng đốt kiểu hình nêm

Loại này có đặc điểm diện tích bề mặt tiếp xúc nhiệt nhỏ. Buồng đốt mỗi xy lanh được bố trí một xú pap thải và một xú pap nạp, đồng thời hai xú pap bố trí cùng một phía. Đối với loại này trục cam được bố trí ở thân máy hoặc bố trí trên nắp máy. Sự điều khiển sự đóng mở của các xú pap qua trung gian của cò mổ.

Kiểu này mỗi buồng đốt bố trí một xú pap thải và một xú pap nạp. Hai xú pap bố trí lệch cùng một phía và các xú pap đặt thẳng đứng. Kiểu này có khuyết điểm, đường kính đầu xú pap bị hạn chế nên việc nạp và thải kém.

Ngày nay, loại buồng đốt này được sử dụng khá phổ biến, mỗi xy lanh động cơ được bố trí hai xú pap nạp và hai xú pap thải. Bu gi được đặt thẳng đứng và ở giữa buồng đốt giúp cho quá trình cháy được xảy ra tốt hơn. Hai trục cam bố trí trên nắp máy, một trục điều khiển các xú pap nạp và trục cam còn lại điều khiển các xú pap thải.

2/ Các bộ phận di động

Các bộ phận di động bao gồm: Piston, xéc măng, trục piston, thanh truyền, trục khuỷu và bánh đà.

2.1/ Trục khuỷu

Trục khuỷu là chi tiết quan trọng và phức tạp của động cơ. Nó tiếp nhận lực đẩy của thanh truyền và truyền cho bánh đà.

Trục khuỷu làm bằng thép rèn chất lượng cao để đảm bảo được độ cứng vững và mài mòn tốt.

Trục khuỷu được đặt trong các ổ trục chính ở thân máy. Để dễ dàng tháo lắp trục khuỷu, ổ trục chính chia làm hai nửa và được lắp ghép lại với nhau bằng vít.

Đầu trục khuỷu được lắp bánh xích hoặc bánh đai răng để dẫn động cơ cấu phân phối khí. Ngoài ra, nó còn dẫn động bơm trợ lực lái, máy nén hệ thống điều hoà, bơm nước, máy phát điện…

Đuôi trục khuỷu có mặt bích để lắp bánh đà và để đỡ đầu trục sơ cấp hộp số.

Các cổ trục chính và chốt khuỷu được gia công rất chính xác và có độ bóng cao. Dầu nhờn từ thân máy được dẫn tới các ổ trục chính để bôi trơn các cổ trục và các bạc lót.

Chốt khuỷu dùng để gá lắp đầu to thanh truyền. Ở động cơ chữ V, trên cùng một chốt khuỷu được gá lắp hai thanh truyền. Dầu nhờn bôi trơn chốt khuỷu được dẫn từ cổ trục chính qua đường ống.

Đối trọng dùng để cân bằng lực quán tính và mô men quán tính.

Trong quá trình làm việc trục khuỷu sinh ra dao động xoắn. Tần số dao động xoắn là 5 lần/s. Khi tăng tốc và có tải, tần số dao động từ 25 đến 30 lần trong một giây. Để giảm dao động xoắn, ở đầu trục khuỷu người ta lắp bộ giảm chấn. Bộ giảm chấn thường là pu li dẫn động các hệ thống bên ngoài.

Bạc lót chính dùng để đỡ cổ trục chính của trục khuỷu. Các bạc lót chính được chia làm hai nửa hình tròn bao xung quanh cổ trục chính.

Nửa phía trên của bạc lót có một hoặc nhiều lỗ dầu dùng để dẫn nhớt từ thân máy đến cổ trục. Nó được gá lắp vào nửa ổ trục trên thân máy.

Nửa phía dưới được lắp vào nắp của bợ trục. Thông thường nửa bạc lót trên và dưới không th? lắp lẫn với nhau được. Trên mỗi nửa bạc lót có vấu định vị để chống xoay.

Lớp hợp kim chịu ma sát là vật liệu mềm, nó có thể là hợp kim trắng, Kelmet hoặc hợp kim nhôm.

Hợp kim trắng: Vật liệu hợp kim chịu ma sát gồm thiếc, chì, antimon, kẽm và một số loại khác. Loại này chịu ma sát tốt, nhưng độ bền thấp, do đó nó được sử dụng ở động cơ có tải nhỏ.

Hợp kim Kelmet: Loại này trên miếng thép được phủ một lớp đồng và hợp kim chì. Có khả năng chịu áp suất và chịu mỏi lớn hơn loại dùng hợp kim trắng. Nó được sử dụng trong động cơ có số vòng quay cao và tải trọng lớn.

Hợp kim nhôm: Lớp hợp kim chịu ma sát gồm hợp kim nhôm và thiếc. Loại này có khả năng chịu mòn rất cao và truyền nhiệt lớn hơn hợp kim trắng và kelmet. Vì vậy, nó được sử hầu hết trong các loại động cơ xăng.

Các bạc lót thanh truyền giống như bạc lót cổ trục chính về mặt kết cấu. Một nửa miếng bạc lót lắp trên thanh truyền và nửa còn lại lắp trên nắp đầu to thanh truyền.

2.1.3/ Hạn chế chuyển động dọc

Ở một trong các cổ trục chính người ta có lắp một bạc chận để hạn chế chuyển động dọc của trục khuỷu. Bạc chận có thể được chế tạo liền với bạc lót chính hoặc chế tạo rời gồm 4 mảnh. Nó được lắp ráp ở hai đầu của cổ trục chính, trên bạc chận có gia công các rãnh thoát nhớt.

2.1.4/ Khe hở dầu

Trong quá trình làm việc phải đảm bảo có một lớp nhớt mỏng bôi trơn nằm giữa các bạc lót và cổ trục, để trục và bạc lót không ma sát trực tiếp với nhau khi trục khuỷu chuyển động. Do đó, phải tồn tại một khe hở bé giữa cổ trục và bạc lót để hình thành màng dầu làm trơn. Khe hở này được gọi là khe hở dầu. Trị số khe hở tuỳ thuộc vào kiểu động cơ, thông thường nó nằm trong khoảng 0,02 đến 0,06mm.

Dòng dầu nhớt ổn định chảy qua bạc lót, có tác dụng làm trơn, làm mát và cuốn đi các mạt kim loại và chất bẩn ra khỏi bề mặt bạc lót.

2.2/ Thanh truyền

Thanh truyền kết nối giữa trục piston và chốt khuỷu. Nó dùng để biến chuyển động lên xuống của piston thành chuyển động quay tròn của trục khuỷu và ngược lại.

Số lượng thanh truyền sử dụng bằng với số xy lanh của động cơ. Thanh truyền được chia làm 3 phần: Đầu nhỏ thanh truyền kết nối với trục piston, đầu to thanh truyền được chia làm hai nửa được lắp ghép với chốt khuỷu, phần nối giữa đầu nhỏ và đầu to thanh truyền được gọi là thân thanh truyền.

Dầu nhờn từ cổ trục chính đi qua đường ống dẫn trong trục khuỷu đến bôi trơn đầu to thanh truyền, sau đó đi ra hai mép đầu to để bôi trơn xy lanh-piston dưới tác dụng của lực li tâm.

Bánh đà chế tạo bằng gang và được bố trí ở đuôi trục khuỷu. Động cơ sử dụng hộp số tự động, nó là một vành mỏng kết hợp với biến mô thuỷ lực. Khi số xy lanh của động cơ càng cao, khối lượng của bánh đà càng nhỏ.

Bánh đà dùng để ổn định số vòng quay trục khuỷu ở tốc độ bé nhất. Ngoài ra, nó còn dùng để khởi động và truyền công suất đến hệ thống truyền lực.

Đầu piston bao gồm đỉnh piston và vùng chứa xéc măng. Trên đầu piston có lắp các xéc măng để làm kín buồng cháy. Trong quá trình làm việc, một phần nhiệt từ piston truyền qua xéc măng đến xy lanh và ra nước làm mát.

Tình trạng chịu nhiệt của piston là không đều, nhiệt độ của đầu piston cao hơn phần thân rất nhiều nên nó giãn nở nhiều hơn khi làm việc. Do vậy, người ta chế tạo đường kính đầu piston hơi nhỏ hơn phần thân một chút ở nhiệt độ bình thường, dạng này được gọi là dạng côn của piston.

Đuôi piston là phần còn lại của piston, nó dùng để dẫn hướng. Sự mài mòn nhiều nhất của phần thân xảy ra theo phương vuông góc với tâm trục piston.

Thân piston có dạng oval, dường kính theo phương vuông góc với trục piston hơi lớn hơn đường kính theo phương song song với trục piston, để bù lại sự giãn nở nhiệt do phần kim loại bệ trục piston dày hơn các chỗ khác. Khi piston làm việc ở nhiệt độ bình thường thì nó có dạng hình trụ.

Khi piston chịu tác dụng của nhiệt độ, nó sẽ giãn nở làm cho đường kính của piston gia tăng. Do Đó, cần thiết phải có một khe hở để đảm bảo piston chuyển động trong xy lanh khi làm việc. Khe hở này được gọi là khe hở piston. Khe hở này phụ thuộc vào kiểu động cơ, nó nằm trong khoảng 0,02 mm đến 0,12 mm.

2.4.2/ Độ lệnh tâm

Trong quá trình nén, thanh truyền đẩy piston đi lên. Dưới tác dụng của lực ngang, làm cho piston tiếp xúc với xy lanh ở bên phải theo hình vẽ. Ở kỳ nổ, dưới tác dụng của áp suất cháy, lực ngang sinh ra hướng trái làm cho piston thay đổi chiều đột ngột. Nguyên nhân này làm cho piston va đập mạnh vào vách xy lanh sinh ra tiếng gõ.

Ở động cơ piston lệch tâm, khi thanh truyền đẩy piston đi lên ở kỳ nén, dưới tác dụng của lực ngang sẽ làm cho piston tiếp xúc với vách xy lanh ở bên phải.

Các xéc măng được bố trí bên trong các rãnh của piston. Đường kính ngoài của xéc măng hơi lớn hơn đường kính ngoài của piston. Khi lắp cụm piston-xéc măng vào xy lanh, lực đàn hồi của xéc măng sẽ làm cho bề mặt làm việc của xéc măng áp sát vào vách xy lanh. Vật liệu chế tạo xéc măng là vật liệu chống mài mòn cao, nó thường là gang hợp kim hoặc thép hợp kim.

Ở quá trình nạp, piston chuyển động đi xuống, mép dưới của xéc măng làm kín gạt dầu bám vào vách xy lanh mà xéc măng dầu chưa gạt hết. Ở quá trình nén và thải, xéc măng làm kín lướt trên màng dầu sao cho dầu không đẩy vào buồng đốt. Ở quá trình cháy, xéc măng làm kín làm kín hoàn toàn buồng đốt.

Xéc măng lắp vào xy lanh phải tồn tại khe hở miệng. Khe hở này phải nhỏ để đảm bảo làm kín khi nhiệt độ động cơ đạt bình thường. Khe hở miệng của xéc măng nằm trong khoảng 0,2 đến 0,5mm.

2.6/ Trục Piston

Trục piston kết nối piston với đầu nhỏ thanh truyền. Nó dùng để truyền chuyển động từ piston đến thanh truyền và ngược lại. Có hai kiểu lắp ghép trục piston.

Cố định trục piston trong đầu nhỏ thanh truyền bằng cách ghép độ dôi hoặc dùng bu lông.

Kiểu ghép thứ hai: trục piston xoay được trong lỗ trục piston và đầu nhỏ thanh truyền. Đối với loại này phải hạn chế chuyển động dọc của trục piston bằng cách dùng khoen chận ở hai đầu trục.

Cấu Tạo Ắc Quy Axit / 2023

Cấu tạo ắc quy axit – chì (AGM-VRLA):

Gồm các bản cực bằng chì và oxit chì ngâm trong dung dịch axit sulfuaric. Các bản cực này thường có cấu trúc phẳng, dẹp, dạng khung lưới , làm bằng hợp kim chì antimon, có nhồi các hạt hóa chất tích điện. Các hóa chất này khi được nạp đầy là dioxit chì ở cực dương và chì nguyên chất ở cực âm. Các bản cực được nối với nhau bằng những thanh chì ở phía trên, bản cực dương nối với bản cực dương , bản cực âm nối với bản cực âm. Chiều dài, chiều ngang, chiều dày và số lượng các bản cực sẽ xác định dung lượng của bình ắc quy.

Thông thường, các bản cực âm được đặt ở phía bên ngoài, do đó số lượng các bản cực âm nhiều hơn các bản cực dương . Các bản cực âm ngoài cùng thường mỏng hơn, vì chúng sử dụng diện tích tiếp xúc ít hơn. Chất lỏng dùng trong bình ắc quy là dung dich axit sulfuaric. Nồng độ của dung dịch biểu trưng bằng tỷ trọng đo được, tùy thuộc vào loại ắc quy và tình trạng phóng nạp của bình.

Dung lượng của bình ắc quy thường được tính bằng ampe giờ (Ah). Ah đơn giản chỉ là tích số giữa dòng điện phóng với thời gian phóng điện. Dung lượng này thay đổi tuỳ theo nhiều điều kiện như dòng điện phóng, nhiệt độ chất điện phân, tỷ trọng của dung dịch, và điện thế cuối cùng sau khi phóng.

Quy trình nạp xả ắc quy axit – chì

Quá trình nạp ắc quy axit-chì

Khi ắc quy đã đƣợc lắp ráp xong, ta đổ dung dịch axit sunfuric vào các ngăn bình thì trên các bản cực sẽ sinh ra lớp mỏng chì sunfat (PbSO4). Vì chì tác dụng với axit theo phản ứng:

PbO + H2SO4 = PbSO4 + H2O

Đem nối nguồn điện một chiều vào hai đầu cực của ăc quy thì dòng điện một chiều được khép kín qua mạch ắc quy và dòng điện đi theo chiều: Cực dương của nguồn một chiều → Dung dịch điện phân → Đầu cực 2 của ắc

quy → Cực âm của nguồn một chiều. Dòng điện một chiều sẽ làm cho dung dịch điện phân phân ly:

H2SO4 → 2H(+) + SO4(2-)

Cation H+ theo dòng điện đi về phía bản cực nối với âm nguồn điện và tạo thành phản ứng tại đó:

2H(+) + PbSO4 → H2SO4 + Pb

Các anion SO4(2-) chạy về phía chùm bản cực nối với dương nguồn điện và cũng tạo thành phản ứng tại đó:

PbSO4 + H2O + SO4(2-) → PbO2 + 2H2SO4

Từ các phản ứng hóa học trên ta thấy quá trình nạp điện đã tạo ra lượng axit sunfuric bổ sung vào dung dịch điện phân, đồng thời trong quá trình nạp điện dòng điện còn phân tích ra trong dung dịch điện phân khí hydro (H2) và oxy (O2), lượng khí này sủi lên như bọt nước và bay đi.

Do đó nồng độ của dung dịch điện phân trong quá trình nạp điện được tăng lên. Ắc quy được coi là đã nạp đầy khi quan sát thấy dung dịch sủi bọt đều (gọi đó là hiện tượng sôi). Lúc đó ta có thể ngắt nguồn nạp và xem như quá trình nạp điện cho ăc quy đã hoàn thành 95-98%.

Quá trình phóng điện của ắc quy

Nối hai bản cực của ắc quy đã được nạp điện với một phụ tải, ví dụ như một bóng đèn thì năng lượng tích trữ trong ắc quy sẽ phóng qua tải, làm cho bóng đèn sáng. Dòng điện của ắc quy sẽ đi theo chiều: Cực dương của ắc quy (đầu cực đã nối với cực dương nguồn nạp) → Tải (bóng đèn) → Cực âm của ắc quy → Dung dịch điện phân → Cực dương của ắc quy. Quá trình phóng điện của ắc quy, phản ứng hoá học xảy ra trong ắc quy như sau:

Tại cực dương: PbO2 + 2H+ + H2SO4 +2e → PbSO4 + 2H2O

Tại cực âm:Pb + SO4(2-) → PbSO4 + 2e

Như vậy khi ắc quy phóng điện, chì sunfat lại được hình thành ở hai bản cực, làm cho các bản cực dần trở lại giống nhau, còn dung dịch axit bị phân thành cation 2H+ và anion SO4(2-) , đồng thời quá trình cũng tạo ra nước trong dung dịch, do đó nồng độ của dung dịch giảm dần và sức điện động của ắc quy cũng giảm dần.

Các thông số cơ bản của ắc quy axit-chì

Dung lượng ắc quy

Là điện lượng của ắc quy đã được nạp đầy, rồi đem cho phóng điện liên tục với dòng điện phóng tiêu chuẩn theo catalogue sản phẩm tới khi điện áp của ắc quy giảm xuống đến trị số giới hạn quy định ở nhiệt độ quy định. Dung lượng của ắc quy được tính bằng ampe-giờ (Ah).

Điện áp ắc quy

Tuỳ thuộc vào nồng độ chất điện phân và nguồn nạp cho ắc quy mà điện áp ở mỗi ngăn của ắc quy khi nó được nạp đầy sẽ đạt 2,6V đến 2,7V (để hở mạch), và khi ăc quy đã phóng điện hoàn toàn là 1,7V đến 1,8V. Điện áp của ắc quy không phụ thuộc vào số lượng bản cực của ắcquy nhiều hay ít.

Điện trở trong ắc quy

Là trị số điện trở bên trong của ắc quy, bao gồm điện trở các bản cực, điện trở dung dịch điện phân có xét đến sự ngăn cách của các tấm ngăngiữa các bản cực. Thường thì trị số điện trở trong của ắc quy khi đã nạp đầy điện là (0,001-0,0015)Ω và khi ắc quy đã phóng điện hoàn toàn là (0,02-0,025)Ω.