Việt Nam Gia Nhập Wto Năm Nào

Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức WTO, đây được coi là một bước ngoặt trọng đại và một khởi đầu đầy tốt đẹp từ năm 2007, mặc dù sự kiện này đã được biết trông đợi từ trước (năm 1995, Việt Nam đã chính thức xin gia nhập vào Tổ chức mậu dịch Thế Giới, hay còn được gọi với tên theo Anh ngữ là WTO).

Trước đó, Việt Nam đã kết thúc năm 2024 với rất nhiều thành công trong việc đàm phán gia nhập WTO và quan trọng hơn hết là đạt được những chỉ số kinh tế vĩ mô hơn cả sự mong đợi.

Vì sao việt nam gia nhập wto?

Mong muốn Việt Nam được gia nhập WTO cũng vì mục tiêu thúc đẩy tự do hàng hóa thương mại với thế giới, WTO có các hình thức hỗ trợ như: Giảm thuế quan, xóa bỏ những rào cản phi thuế quan ( hạn ngạch, cấp phép xuất nhập, khẩu), xóa bỏ đi trợ cấp, mở cửa thị trường kinh doanh với các nước, tạo một sân chơi bình đẳng cho hầu hết doanh nghiệp trong và ngoài nước, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo đảm quyền trí tuệ và bản quyền sáng tạo.

Những quy định được WTO đưa ra, trên lý thuyết sẽ tạo một thuận lợi cho những nước thành viên mở rộng thị trường, thâm nhập sâu vào trong thị trường của các nước và tranh thủ vốn đầu tư, được nhận sự hỗ trợ từ công nghệ và kỹ năng quản lý của nước ngoài, được quyền tham gia đóng góp các “luật chơi” mới, được quyền xử lý những cạnh tranh thương mại, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng tư duy, phát triển, cạnh tranh, đem lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng.

Tất cả những lợi ích trên nước ta đều phấn đấu để trở thành thành viên của Tổ chức WTO. Hơn hết, nền kinh tế của nước ta chưa thực sự phát triển nên còn phụ thuộc đáng kể vào nền kinh tế từ thế giới ở cả đầu vào lẫn đầu ra. Ở đầu vào, vốn nước ngoài (trong đó có cả ODA lẫn FDI) chiếm tới 30% tổng số vốn đầu tư của toàn bộ xã hội. Còn ở đầu ra, kim ngạch xuất khẩu bằng khoảng trên dưới 60% trị giá GDP, nếu tính cả kim ngạch xuất, nhập khẩu thì đạt tới 132%.

Do đó, nếu muốn nền kinh tế phát triển hơn, ta cần tranh thủ những vốn đầu tư ở nước ngoài vào thị trường để tiêu thụ sản phẩm, nhất là sức mua của thị trường ở trong nước còn đang rất hạn chế. Nói sâu xa hơn thì việc trở thành thành viên của WTO là một điều tất yếu và khách quan, bởi sẽ đạt được nhiều lợi ích cho chính chúng ta, xong cũng chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế chứ không phải là mục đích tự thân.

Quá trình việt nam gia nhập wto

1 – 1995: Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO. Ban chỉ đạo công tác xét duyệt hồ sơ gia nhập của Việt Nam được thành lập do Chủ tịch là ông Eirik Glenne, Đại sứ đến từ Na Uy tại WTO.

8 – 1996: Việt Nam nộp bị WTO đưa ra quyết định “Bị vong lục về chính sách thương mại”.

1996: Bắt đầu đàm phán hiệp đại thương mại song phương với nước Mỹ.

1998 – 2000: Thực hiện 4 phiên họp đa phương cùng với Ban Công tác về Minh bạch hóa những chính sách thương mại kể từ năm 7-1998, 12-1998, 7-1999 và 11-2000. Sau khi thực hiện xong 4 phiên họp này, Ban công tác của WTO đã đưa ra nhận xét Việt Nam cơ bản đã kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang một giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.

7-2000: Ký kết chính thức BTA với Hoa Kỳ

12-2001: BTA đã đạt được hiệu lực

4-2002: Thực hiện phiên họp đa phương lần thứ 5 với Ban công tác. Chúng ta đã đưa ra bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ. Tiếp đến thực hiệp đàm phán song phương.

2002 – 2006: Đàm phán song phương cùng với một vài thành viên có yêu cầu đàm phán, cùng với 2 mốc quan trọng.

10 – 2004: Chúng ta đã đàm phán song phương với EU( là đối tác quan trọng lớn nhất).

5-2006: Kết thúc phiên đàm phán song phương với Mỹ – đây là đối tác cuối cùng trong tổng 28 đối tác cần phải đàm phán.

26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán cuối cùng, Ban công tác đã chính thức thông qua giấy tờ sổ sách gia nhập WTO của Việt Nam.

11-1-2007: WTO đã chính thức nhận được sự phê duyệt chính thức của toàn quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Bắt đầu từ lúc này Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức WTO.

Lợi ích khi việt nam gia nhập WTO? Tăng trưởng kinh tế khả quan

Nền kinh tế Việt sau khi gia nhập WTO được hơn 12 năm, mặc dù bị ảnh hưởng nhiều tác động từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, những vấn đạt được mức kỳ vọng tăng trưởng bình quân là 6,29%/năm – thành tựu này vô cùng quan trọng.

Đổi thay thể chế chính sách kinh tế, thương mại đầu tư

WTO đã giúp chúng ta thay đổi một diện mạo khung khổ pháp lý, thể chế chính sách về kinh tế, thương mại, đầu tư, phát triển, cũng như phương thức quản lý kinh tế của Việt Nam.

Từ khi gia nhập, đã mở màn cho sự bùng nổ mới của khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, đạt kỷ lục gần 60.000 doanh nghiệp mới đã được thành lập.

Điểm sáng xuất nhập khẩu, hút vốn FDI

Sau 10 năm Việt Nam gia nhập WTO, tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tăng vượt trội hơn 4 lần, vượt mốc 350 tỷ USD.

Tốc độ sản xuất nhập khẩu ngày một tăng nhanh chóng. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, tốc độ tăng trưởng thương mại lớn là một điều rất đáng mừng, đây là một minh chứng cho nền kinh tế Việt Nam mở cửa đang rất phát triển.

Lợi Ích Và Thách Thức Khi Việt Nam Gia Nhập Wto

Lợi ích

Khi tham gia vào WTO, chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng lớn trên cả cấp vĩ mô và vi mô. Lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thu được từ hội nhập là thị trường xuất khẩu thuận lợi cho Việt Nam mở rộng. Do VN được hưởng qui chế MFN vô điều kiện, theo đó hàng hóa Việt Nam sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác, không còn vướng nhiều rào cản về thuế và hạn ngạch như hiện nay nữa (Hiện nay, thương mại giữa các nước thành viên WTO chiếm tới 90% khối lượng thương mại thế giới). Từ đó sẽ tăng cường tiềm lực kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể:

– Hiệp định đa sợi MFA qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng đối với hàng dệt may.

– WTO qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng thay thế bằng thuế đối với sản phẩm gạo.

– WTO qui định mức thuế thấp đối với sản phẩm sử dụng nhiều lao động.

– Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế. Khi gia nhập vào WTO và cam kết thực hiện các nguyên tắc tự do hóa thương mại giữa các thành phần kinh tế, giữa trong nước và nước ngoài, Việt Nam sẽ phải cải cách mạnh hơn các luật lệ sao cho phù hợp với thông lệ chung của quốc tế. Qua đó, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế.

– Nền kinh tế Việt Nam sẽ ít bị tổn thương hoặc bị tấn công bởi những hành vi bảo hộ mậu dịch hoặc trừng phạt kinh tế của các quốc gia khác trong trường hợp có tranh chấp kinh tế, thương mại hay những lý do chính trị nào đó, thị trường cho hàng hóa của Việt Nam sẽ được mở rộng và ổn định hơn. Và do vậy, lợi ích từ thương mại quốc tế của chúng ta sẽ tăng.

– Tự do hóa giá cả nông sản sẽ có lợi cho các quốc gia sản xuất nông nghiệp. Bảo hộ giá nông sản của các quốc gia phát triển giảm xuống sẽ mở rộng hơn nữa thị trường nông sản của Việt Nam.

– Chi phí kinh doanh sẽ giảm vì hiện tại lĩnh vực dịch vụ là khu vực được Nhà nước bảo hộ nhiều nhất. Hậu quả là năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ kém và giá cao. Khi gia nhập vào WTO, độc quyền của những ngành này sẽ phải bãi bỏ, buộc các doanh nghiệp này phải cải cách, cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hạ giá dịch vụ, hiệu quả cho toàn nền kinh tế sẽ lớn hơn.

– Đời sống nhân dân được cải thiện.

Thách thức

Như vậy, lợi ích của Việt Nam khi gia nhập WTO khá rõ: “Việt Nam không thể tự bảo vệ mình trước sự bảo hộ của các nước khác khi nằm ngoài WTO”. Tuy nhiên gia nhập WTO không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho mình mà doanh nghiệp phải đối mặt với những thách thức:

– Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải trao qui chế tối huệ quốc, qui chế đối xử quốc gia cho các quốc gia thành viên khác của WTO, nghĩa là tiến hành giảm thuế quan và ràng buộc tất cả các dòng thuế, đồng thời phải dỡ bỏ các hàng rào phi thuế trong một thời gian nhất định. Mức độ cam kết giảm thuế phụ thuộc nhiều vào kết quả đàm phán đa phương và song phương đối với các mặt hàng cụ thể. Vì vậy cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn ở thị trường nội địa.

– Toàn bộ thể chế kinh tế phải chuyển đổi nhằm thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại đầu tư, chuyển giao công nghệ, nếu không sẽ gặp khó khăn trước những đối thủ cạnh tranh hùng mạnh, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không được bảo vệ khi xảy ra tranh chấp thương mại.

– Những thách thức trong lĩnh vực nông nghiệp thậm chí còn lớn hơn, do trên 75% dân số vẫn sống dựa vào nông nghiệp, trong khi đó diện tích canh tác bình quân trên một lao động thấp, phương thức canh tác lạc hậu nên giá thành nông sản nhìn chung sẽ cao hơn mặt bằng giá thế giới. Khi những rào cản thương mại được bãi bỏ hoặc giảm thiểu, nông sản nhập khẩu từ các nước phát triển với giá thấp sẽ gây sức ép lớn cho kinh tế nông thôn, nhiều đơn vị kinh doanh nông nghiệp có thể sẽ bị phá sản. Số người này sẽ di chuyển về thành phố, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp.

– Hiện tại, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng gia công, chúng ta sẽ không được hưởng lợi khi gia nhập WTO, khi quy định qui tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi là trị giá nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa tại nước được hưởng phải thấp hơn 65%.

Có thể nói khi gia nhập vào WTO, Việt Nam nhận được nhiều lợi ích nhưng cũng đối mặt với nhiều thách đố . Nhưng về tổng thể những lợi ích dài hạn cho quốc gia chiếm ưu thế.

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 158 – THÁNG 12/2003

Công ty Luật Bắc Việt Luật P2802, tầng 28, tòa nhà Central Fied , Trung Kính, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà nội Tel: 87696666-0386319999 Hotline: 0938-188-889 – 0913753918 chúng tôi – chúng tôi – www.sanduan.vn“HÃY NÓI VỚI LUẬT SƯ ĐIỀU BẠN CẦN”

Lợi Ích Của Kinh Tế Việt Nam Khi Gia Nhập Wto

Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO tác động, ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của các trường đại học, viện nghiên cứu nói chung và về lĩnh vực kế toán nói riêng bao gồm cả những yếu tố thuận lợi sau: – Chỉ sau hơn 10 năm Việt nam đã từng bước chuyển mình bằng việc thể chế hoá các định chế hệ thống pháp lý tạo điều kiện cho mọi tổ chức sẵn sàng hoà nhập và thách thức trong môi trường cạnh tranh. hệ thống pháp luật về kế toán- kiểm toán của Việt nam liên tục được phát triển và hoàn thiện. Bằng chứng là chúng ta đã ban hành các chuẩn mực về kế toán và kiểm toán phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và được quốc tế thừa nhận. Cho đến nay Việt nam đã ban hành được 27 chuẩn mực kế toán và 38 chuẩn mực kiểm toán đã bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động của mọi loại hình doanh nghiệp tạo điều kiện cho việc minh bạch số liệu , đồng thời cũng tạo môi trường đầu tư lành mạnh, từng bước thực hiện các cam kết hội nhập trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán theo các Điều ước quốc tế mà Việt nam đã cam kết hoặc gia nhập. – Vị thế của kế toán và kiểm toán Việt nam ngày càng được đề cao khi Hiệp định khung về thừa nhận lẫn nhau ( MRA ) trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán đã được ký kết giữa 10 nước ASEAN tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 10 vào tháng 8 năm 2011 vừa qua. Từ đây có thể khẳng định sứ mệnh và vai trò của lực lượng kế toán – kiểm toán ngày càng được đề cao trong xã hội , vì thế đòi hỏi của xã hội đối với những người làm nghề kế toán – kiểm toán ngày càng lớn và đó cũng là trọng trách của hoạt động đào tạo kế toán – kiểm toán trong các trường đại học và viện nghiên cứu hiện nay. Đồng thời, các trường đại hoc, viện nghiên cứu có chuyên ngành kế toán – kiểm toán sẽ có điều kiện mở rộng hợp tác liên doanh với các cơ sở của nước ngoài, qua đó có nhiều thuận lợi trong việc học tập, áp dụng kinh nghiệm, phương pháp nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn, công tác đào tạo, nghiên cứu nước ta có điều kiện tiếp cận và theo kịp trình độ tiên tiên của các nước trên thế giới. – Song hành với những thuận lợi thì có thì tiềm năng cơ bản của đào tạo kế toán hiện nay có thể dựa trên nền tảng nhu cầu của các khu vực kinh tế có quan hệ mật thiết đến hoạt động kế toán sau : + Về khu vực doanh nghiệp thì số lượng doanh nghiệp tăng trưởng nhanh chóng với hơn 500.000 doanh nghiệp đăng ký tại thời điểm cuối năm 2010, trong đó riêng năm 2010 số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là hơn 90.000 doanh nghiệp . + Thị trường chứng khoán phát triển với trị giá vốn hoá đến cuối năm 2009 chiếm 23,1% GDP + Các công ty kiểm toán Việt nam chỉ trong vòng hơn 10 năm từ năm 1998 đến năm 2011 phát triển với một tốc độ tăng trưởng bình quân 23% năm, đội ngũ chuyên nghiệp trong giai đoạn này là 20% năm. + Khu vực công phát triển nhanh chóng cùng với phát triển của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước các cấp…

Đặc biệt để phát triển bền vững hơn nữa cần đổi mới chương trình đào tạo kế toán ở bậc đại học thiết nghĩ chúng ta cần quan tâm các vấn đề cơ bản sau đây: – Thực hiện phải khảo sát thị trường trước – Cần tổ chức họp mặt thường xuyên giữa nhà trường và các đơn vị sử dụng lao động kế toán – kiểm toán – Thu thập phản hồi từ các công ty tuyển dụng sinh viên – Hợp tác với các công ty trong cùng lĩnh vực thường xuyên tổ chức các chương trình hướng nghiệp – Các chương trình mời chuyên gia từ giỏi từ giới kinh doanh đến nói chuyện với sinh viên – Mối quan tâm của các doanh nghiệp khi sinh viên thực tập – Sử dụng công nghệ trong việc đổi mới nội dung giảng dạy tại các trường đại học – Chia sẻ kinh nghiệm về chương trình đào tạo kế toán quốc tế tại Việt nam với các trường đại học quốc tế đã có mặt tại Việt nam. Website: www.gec.edu.vn

Gia Nhập Wto Sẽ Mang Lại Lợi Ích Lớn Cho Việt Nam

Gia nhập WTO sẽ mang lại lợi ích lớn cho Việt Nam

Ngày 11/4, tại trụ sở của Liên hợp quốc ở Giơnevơ (Thụy Sỹ), Đại sứ Ngô Quang Xuân, Trưởng Phái đoàn đại diện của Việt Nam bên cạnh cơ quan của Liên hợp quốc và các Tổ chức quốc tế tại Giơnevơ, đã có cuộc gặp làm việc với Tổng thư ký Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Tiến sĩ Xupachai…

Ngày 11/4, tại trụ sở của Liên hợp quốc ở Giơnevơ (Thụy Sỹ), Đại sứ Ngô Quang Xuân, Trưởng Phái đoàn đại diện của Việt Nam bên cạnh cơ quan của Liên hợp quốc và các Tổ chức quốc tế tại Giơnevơ, đã có cuộc gặp làm việc với Tổng thư ký Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Tiến sĩ Xupachai.

Ông Xupachai cho rằng mặc dù sẽ không tránh khỏi nhiều khó khăn trước mắt, nhưng về lâu dài, việc tham gia WTO sẽ đưa lại lợi ích và cơ hội to lớn cho kinh tế Việt . Thực tiễn, các nền kinh tế các nước đang phát triển sau khi gia nhập WTO đã minh chứng rõ ràng tiến trình phát triển này.

Đại sứ Ngô Quang Xuân đã thông báo với ông Xupachai về những phát triển mới đây trong tiến trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam cũng như tình hình kinh tế và tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong duy trì sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.

Với tư cách là Chủ tịch Ủy ban ASEAN (AGC) và Ủy ban Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) tại Giơnevơ, Đại sứ Ngô Quang Xuân cũng thông báo với ông Xupachai về hoạt động của hai ủy ban trên từ đầu năm đến nay, đồng thời nhấn mạnh với sự phát triển năng động của các nền kinh tế thành viên trong khu vực, chắc chắn hai ủy ban này sẽ đóng góp thiết thực cho quá trình hợp tác đa phương và đàm phán thương mại tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), UNCTAD, cũng như trong quá trình cải tổ Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác.

TTXVN

Sau 10 Năm Gia Nhập Wto: Việt Nam Được Gì Và Mất Gì?

Cùng với đó, việc mở cửa thị trường đã đem lại nhiều lợi ích, giúp các nước tìm được vị trí của mình trong nền kinh tế.

Theo nhận định của nhiều chuyên gia, việc gia nhập WTO chính là “mở cánh cửa lớn” để Việt Nam bước vào “sân chơi” toàn cầu.

Đổi mới nhưng còn chậm

Theo Bộ Công Thương, kể từ năm 2007 đến nay, mặc dù bị ảnh hưởng bởi những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng nợ công song nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân là 6,29%/năm.

GDP bình quân đầu người tăng từ 730 USD vào năm 2006 lên 2.228 USD vào năm 2024 và đạt 2.445 USD vào năm 2024. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.

Cũng theo Bộ Công Thương, đáng chú ý, kể từ khi trở thành thành viên của WTO, mức tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đều đạt từ 12-14%/năm và chỉ có dấu hiệu giảm sút trong thời gian ngắn gần đây. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2024 cũng tăng gấp 3,5 lần so với năm 2006. Đây là những con số cho thấy khi tham gia vào WTO, nền kinh tế Việt Nam đã không bỏ lỡ những cơ hội có được từ sự kiện mang tính lịch sử này.

Ngoài ra, sau 10 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã thu hút hơn 22.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký gần 300 tỷ USD. Đặc biệt, nhiều tập đoàn hàng đầu trên thế giới đã chọn Việt Nam làm “cứ điểm” sản xuất như Samsung, LG, Toyota, Honda, Canon…

Không những thế, đến nay cũng đã có 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương và song phương giữa Việt Nam với các đối tác lớn trên thế giới được chính thức ký kết, hoặc kết thúc đàm phán như: FTA Việt Nam-EU (EVFTA), FTA Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)…; trong đó có những FTA thế hệ mới có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Bên cạnh các FTA đã được ký kết hoặc đã kết thúc đàm phán, Việt Nam còn đang tiếp tục đàm phán thêm 4 FTA; trong đó có Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP) – được dự đoán là một FTA thế kỷ, quy định các hoạt động thương mại của toàn vùng ASEAN.

Các FTA đang mở ra không gian cho Việt Nam phát triển mạnh mẽ, có quan hệ thương mại tự do với 55 đối tác trên thế giới, bao gồm các nước G7 và 15/20 thành viên nhóm G20.

Nhận định về vấn đề này, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Trưởng đoàn đàm phán WTO của Việt Nam Lương Văn Tự cho rằng sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã biết tận dụng cơ hội khi vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Qua đó, phần nào học hỏi, chuyển giao được công nghệ và kỹ năng quản lý từ các tập đoàn lớn đến từ các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản…

Hơn nữa, áp lực cạnh tranh từ khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới này cũng giúp các doanh nghiệp trong nước trưởng thành hơn rất nhiều. Không ít doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm thị trường, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài để đẩy mạnh hàng hóa, thúc đẩy xuất khẩu.

Tuy nhiên, hạn chế của nền kinh tế vẫn còn ở việc tái cơ cấu, đổi mới doanh nghiệp nhà nước chậm, nhiều nơi vẫn dở dang. Lực lượng lao động tuy đông nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế về trình độ ngoại ngữ, tác phong công nghiệp, năng suất lao động…

Ông Trần Đăng Phúc, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Nhựa Thiếu niên Tiền Phong, chia sẻ để có thể hội nhập sâu vào thị trường quốc tế, không còn con đường nào khác, các doanh nghiệp Việt Nam phải có chiến lược đầu tư để nâng tầm thương hiệu, nâng cao trang thiết bị sản xuất, sử dụng công nghệ tiên tiến tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường.

Nhờ nỗ lực của cả tập thể mà 10 năm qua, hàng hóa sản phẩm của công ty đã vươn ra nhiều thị trường trên thế giới; trong đó chinh phục được cả những thị trường khó tính như Australia, New Zealand, Hong Kong (Trung Quốc) và Nhật Bản.

Người tiêu dùng chọn mua hàng tại siêu thị BigC Thăng Long. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Ông Pascal Lamy, nguyên Tổng Giám đốc WTO, nhấn mạnh Việt Nam là một ví dụ thành công về tiến trình hội nhập mà ở đó, Việt Nam đã khai thác được nhiều lợi thế so sánh về chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động. Các ngành hàng mà Việt Nam chiếm ưu thế lần lượt là điện tử, dệt may, nông sản.

Theo ông Pascal Lamy, Việt Nam phát triển nhiều nhờ mở rộng quan hệ, chính sách đổi mới. Việc mở cửa thị trường đã đem lại nhiều lợi ích, giúp các nước tìm được vị trí của mình trong nền kinh tế.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng 10 năm gia nhập WTO chưa phải là một chặng đường dài nhưng đầy cơ hội và thử thách với các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam. Điều này thể hiện qua việc tỷ trọng thương mại dịch vụ trong GDP hàng năm giữ vững từ 40 đến 45%; tốc độ tăng trưởng bình quân luôn đạt ở mức gần 7% năm, cao hơn mức tăng trưởng GDP trung bình năm.

Theo Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, việc tham gia WTO không chỉ đánh dấu sự phát triển quan trọng của Việt Nam thông qua khung khổ hội nhập với kinh tế toàn cầu và thế giới, mà còn là nền tảng hướng tới phát triển kinh tế – xã hội hiện đại, bền vững với những đường hướng và mục tiêu rõ nét.

Không để hụt hơi

Mặc dù thừa nhận những thành tựu mà nền kinh tế Việt Nam đạt được sau 10 năm gia nhập WTO, song nhiều ý kiến cho rằng một điểm nổi lên đáng quan ngại trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam là tình trạng thành tích xuất khẩu luôn nằm ở nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Mặc dù sau 10 năm gia nhập WTO, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã mang hàm lượng công nghệ cao hơn, sản phẩm đa dạng hơn và tìm kiếm được nhiều thị trường xuất khẩu hơn, song hàng hóa xuất khẩu mang nội hàm trong nước chưa cao. Cùng với đó, dấu ấn của doanh nghiệp Việt trong giá trị hàng xuất khẩu còn thấp, chủ yếu vẫn chỉ nhìn thấy sự hiện hữu của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, Việt Nam rất cần những yếu tố, động lực về chính sách để thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và chú trọng vào phát triển công nghiệp phụ trợ.

Bởi theo lý giải của ông Võ Trí Thành, doanh nghiệp Việt Nam cũng như những mắt xích quan trọng. Nếu các mắt xích này liên kết được với nhau trong chuỗi sản xuất toàn cầu thì lúc đó các doanh nghiệp mới có thể phát triển bền vững.

Ông Pascal Lamy nhấn mạnh thêm rằng, chắc chắn việc mở cửa sẽ gây nhiều xáo trộn, đấy là nguyên tắc và là tiền đề. Không có một quá trình chuyển đổi nào không màu, không mùi, toàn niềm vui cả. Nó sẽ gây khó khăn cho một số đối tượng, nhưng là điều bình thường của nền kinh tế thị trường. Vấn đề chính là làm sao cho quá trình này được diễn ra trong điều kiện công bằng, bình đẳng.

Theo ông Pascal Lamy, Việt Nam vẫn sẽ duy trì được lợi thế cạnh tranh về nhân lực ngay cả trước làn sóng cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Bởi cốt lõi là con người mà như ông nhận định là người Việt Nam có những cần cù, quyết tâm. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ mất lợi thế này nếu không đầu tư đủ cho đào tạo nhân tài bởi trí tuệ nhân tạo không thể thay thế cho con người.

Để tiếp tục phát triển bền vững, các chuyên gia thương mại cho rằng, Việt Nam cần những cải cách đột phá, đặc biệt là khắc phục những mặt trái của cơ chế một cửa, đổi mới bộ máy hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, tăng cường và nâng cao hiệu quả việc kiểm tra, kiểm soát thị trường, minh bạch, lành mạnh hóa môi trường kinh doanh.

Vấn đề cốt lõi là tái cơ cấu các doanh nghiệp, các dịch vụ cơ sở hạ tầng theo hướng tập trung những dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, và phát triển logistics xanh. Đặc biệt, trong thời gian tới cần nâng mức đầu tư cho khoa học công nghệ để Việt Nam sớm có những đột phá về khoa học công nghệ, tạo ra những mặt hàng, những sản phẩm kỹ thuật cao mang lại giá trị cao trong xuất khẩu./.

Theo Uyên Hương – TTXVN