Video Cấu Tạo Da / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Cấu Tạo Da Và Cấu Trúc Về Da

Định Nghĩa Về Da

Da bao bọc toàn bộ cơ thể, là ranh giới ngăn cách cơ quan bên trong cơ thể với môi trường bên ngoài. Da có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại các tác động của môi trường bên ngoài (tia cực tím, chất ô nhiễm, vi khuẩn..).

Da là cơ quan lớn nhất trên cơ thể con người. Da chiếm 16% trọng lượng cơ thể và diện tích da của 1 người lớn lên đến 1,6m2.

Cấu Tạo Da

Cấu Tạo Da và Cấu trúc về da -Hãy Đọc Nếu Muốn Có Làn Da Đẹp

Da có 3 lớp: lớp biểu bì, lớp trung bì và lớp hạ bì (lớp mô dưới da).

Tại sao phải là dùng serum, tại sao phải kem dưỡng? Thì khi hiểu cấu trúc da thì chúng ta sẽ dễ tư vấn sản phẩm nào tác dụng ở đâu lên da của họ.

I – LỚP BIỂU BÌ

Dày khoảng 0,2mm, có độ dày khác nhau từng vùng. Dày nhất ở lòng bàn chân và mỏng nhất ở vùng quanh mắt.

Lớp biểu bì tính từ ngoài vào được chia thành  4 lớp: lớp sừng, lớp hạt, lớp gai, lớp đáy. Riêng lòng bàn tay & lòng bàn chân thì giữa lớp sừng với lớp hạt còn có thêm lớp trong suốt.

Chứng năng cơ bản của lớp biểu bì Bảo vệ và tái tạo tế bào

Bảo vệ 

– Nhiệt độ bên ngoài môi trường: nhờ lơp sừng

-Tia cực tím: tăng sinh melenin ( từ lớp đáy ) Thì lúc đó chúng ta phải hỏi tại sao lại bị NÁM , quá trình không dưỡng chống nắng , melanin sản xuất quá mức thì nó sẽ nằm lẫn vào da. Khi trị nám thì làm thế nào để ngăn quá trình sản sinh melanin

    2. Tái tạo tế bào: 

Tái tạo tế bào mới trong 28 ngày

( khi soi da thấy lớp nám thì phải đẩy nó lên hết sau đó mới ngăn chặn sản sinh melagin chứ ko phải bắn thẳng vào như spa .

Trong 28 ngày thì tế bào di chuỷn từ lớp đáy len lớp sừng mất khoảng 14 ngày và mất thêm 14 ngày nữa để tróc ra )

Cấu Tạo Da – Hãy Đọc Nếu Muốn Có Làn Da Đẹp

a/ Lớp đáy:

–  Có 1 lớp. Là lớp dưới cùng của biểu bì, tiếp giáp trực tiếp với lớp bì và có hình gợn sóng. Được các mạch máu ở lớp bì cung cấp chất dinh dưỡng nên quá trình sản sinh ra tế bào mới ở lớp đáy diễn ra liên tục.

–  Khắp nơi trên lớp đáy có tế bào tạo sắc tố (Melanocytes), có nhiệm vụ sản sinh ra melanin.

–  Tế bào chứa melanin quyết định màu da theo chủng tộc, nơi sinh sống. Mỹ phẩm và một số cách khác có thể làm thay đổi màu da tạm thời nhưng rất khó để chuyển hoàn toàn từ màu da này sang màu da khác.

Melanin và sắc tố da:

Vì thế, việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nhiều dễ làm da xấu đi, nám, nhanh lão hóa… Nên các chị cần che chắn kĩ khi ra nắng, dùng thêm kem chống nắng để hạn chế tác nhân gây hại của tia UV đến làn da.

b/ Lớp gai

– Có từ 5-10 lớp. Là lớp dày nhất trong biểu bì

– Bề mặt tế bào có nhiều lỗ chân lông giống gai nhọn nên tạo được liên kết vững chắc với nhau.

c/ Lớp hạt

Có từ 2-3 lớp. Lớp hạt được hình thành do lớp gai được phân hóa và đẩy dần lên trên, hình dạng trở nên bằng phẳng, trở thành tế bào hạt.

d/ Lớp sừng

– Có từ 10-20 lớp. Là lớp trên cùng của biểu bì, gồm những tế bào mất nhân và trở thành tế bào chết, tự động tróc ra khỏi bề mặt da.

– Ở lớp này có các yếu tố giữ ẩm tự nhiên (Natural Moisturizing Factor) và chất béo Ceramide, có chức năng hoạt động như một rào cản giúp giữ nước cũng như ngăn cản sự xâm nhập của các sinh vật lạ vào cơ thể.

Quá trình sừng hóa (Turnover):  

– Quá trình này bắt đầu ở lớp đáy. Các tế bào lớp đáy sản sinh ra tế bào mới, di chuyển dần lên tạo thành các tế bào lớp trên, cuối cùng thành lớp sừng và tróc ra khỏi da. Quá trình này thường mất khoảng 28 ngày (Trong đó tế bào di chuyển từ lớp đáy lên lớp sừng mất khoảng 14 ngày và mất thêm 14 ngày nữa để tróc ra khỏi da). Càng lớn tuổi, turnover diễn ra càng chậm. Nên theo thời gian làn da của người lớn tuổi sẽ trở nên dày, nhăn nheo. Quá trình turnover của em bé diễn ra nhanh và liên tục, nên da em bé lúc nào cũng hồng hào, khỏe mạnh.

Các chị tham khảo quá trình turnover theo từng độ tuổi theo bảng sau:

– Nếu quá trình turnover diễn ra chậm, lớp sừng sẽ ko tróc ra mà dần dần tích tụ lại tạo thành 1 lớp dày. Hiện tượng này gọi là sừng hóa quá độ.

– Ngược lại nếu turnover diễn ra nhanh, lớp sừng hình thành không đầy đủ, dẫn đến khả năng giữ nước giảm. Da sẽ trở nên khô ráp. Hiện tượng này gọi là sừng hóa không hoàn toàn.

Ứng dụng quá trình turnover để chăm sóc da:

– Để có làn da sáng, chúng ta cần loại bỏ lớp sừng chết cũ để lớp da mới có cơ hội phô bày lên bề mặt da. Cách tốt nhất là chúng ta cần tẩy tế bào chết cho da 1-3 lần/tuần để ngăn sự turnover quá độ.

– Để quá trình turnover được diễn ra nhanh nhằm trẻ hóa cho làn da, thì các chị cần chống nắng kĩ khi ra nắng, cung cấp đầy đủ cả lượng dầu và lượng nước cho da, massage da mặt 1-2 lần/tuần để kích thích lượng máu trên da được tuần hoàn.

II – LỚP TRUNG BÌ

Cấu Tạo Da và Cấu trúc về da

–  Chiếm đại bộ phận của da, nằm ngay bên dưới lớp biểu bì. Có độ dày gấp 15-40 lần lớp biểu bì.

–  Lớp trung bì được chia thành: lớp đầu nhũ và lớp lưới.

– Quá trình turnover của lớp trung bì có thể lên đến 5-6 năm.

– Ngoài ra, trong lớp trung bì còn có các cơ quan trực thuộc da như: tuyến nhờn, tuyến mồ hôi.

– Trong lớp này có các sợi collagen, elastin giúp da săn chắc đàn hồi. Các mạch máu, dây thần kinh, hyaluronic acid (giúp giữ nước).

Lớp trung bì và vấn đề chống lão hóa cho da:

+ Chăm sóc da đúng cách thì cần phải để dưỡng chất vào lớp trung bì và hạ bì.

+ Rửa mặt bằng tay thì chỉ làm sạch ở lớp biểu bì chứ ko sạch sâu như rửa bằng máy.

Bổ sung: cơ chế tái tạo collagen tự nhiên thì nó sẽ tái tạo liên tục ,nhân bản liên tục

Lớp biểu bì làm da trông sáng và mềm mại, nhưng nếp nhăn xuất hiện là do sự thay đổi ở lớp trung bì. Mục tiêu “chống nếp nhăn” là ngăn chặn sự mất đi của collagen, elastin và axit hyaluronic (HA) – đây là 3 thành phần quan trọng của lớp bì, chúng giảm đi theo độ tuổi hoặc khi da bị viêm.

Các sản phẩm kem chống lão hóa trên thị trường bảo là có chứa 3 thành phần này giúp bổ sung, trẻ hóa cho da, nhưng thật sự các thành phần trong kem dưỡng không thể nào thấm sau được đến tận lớp trung bì để mà cải thiện nếp nhăn vì phân tử của chúng quá lớn.

Cấu Tạo Da và Cấu trúc về da thì tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ chống lão hóa tương đối hiệu quả là sử dụng các sản phẩm kích thích da tự sản xuất ra collagen, elastin và HA. Đó là các sản phẩm chứa Retinol, vitamin C và copper peptide.

Việc uống collagen cũng giúp cải thiện phần nào da lão hóa, nhưng do khi uống vào cơ thể, các collagen sẽ phân bố đều khắp các bộ phận của cơ thể, chứ không chỉ tập trung vào da, nên nếu uống collagen các chị cần phải uống thường xuyên và lâu dài thì mới thấy được sự cải thiện.

III – LỚP HẠ BÌ

– Lớp hạ bì là lớp chính của cấu trúc da với thành phần cấu tạo chủ yếu là Collagen (chiếm 80-85% thành phần cấu tạo của lớp hạ bì). Collagen  thể hiện rõ ràng nhất độ tuổi của da, độ khỏe mạnh và độ đàn hồi của da. Khi số lượng Collagen bị giảm đi, da sẽ trở nên yếu và sinh ra các vấn đề lão hóa da làm da trở nên nhăn nheo, không căng bóng. Ngoài ra khi bị ảnh hưởng bởi các tác nhân ánh nắng mặt trời, ô nhiễm, căng thẳng, oxy hóa, da cũng sẽ dễ bị nám, tàn nhang hơn.

Đặc biệt khi tuổi càng cao, lượng Collagen càng dễ bị phân hủy, như thông tin đã nêu lên ở phần trước đó : cấu tạo lớp biểu bì.

Please follow and like us:

Cấu Tạo Da Của Chó

Mặc dù bạn rất hiểu chú chó nhà bạn hay sờ, vuốt ve ớp da, lớp lông của chúng. Vậy bạn có bao giờ tò mò muốn biết cấu tạo của lớp da của chúng hay không? Cùng đội ngũ chuyên gia PetHealth tìm hiểu ngay sau đây.

Da được cấu tạo từ các lớp tế bào, tuyến nhờn, mạch máu, dây thần kinh và các nang lông sản xuất sợi lông. Giúp điều hòa thân nhiệt và là cơ quan cảm nhận khi chúng ta chạm vào.

Da có 3 lớp chính: Lớp biểu bì (hay lớp ngoài cùng), lớp trung bì và lớp hạ bì. Phần quan trọng khác của da bao gồm phần phụ da – như lông và móng vuốt, các cơ dưới da và mỡ.

Lớp biểu bì là lớp ngoài cùng của da. Nó bảo vệ da khỏi tác động bên ngoài và chất lạ. Lớp biểu bì bao gồm tế bào sừng Keratinocytes, Melanocytes, các tế bào Langerhans và các tế bào Merkel. Mỗi một tế bào đều có chức năng đặc biệt.

Lớp biều bì khác nhau về độ dày, khu vực tiếp xúc môi trường nhiều hơn. Khu vực đầu và lưng có lớp biểu bì dày hơn so với các khu vực như nách và bụng. Khi tế bào bên ngoài sừng hóa chết, tế bào khác trưởng thành hơn sẽ tiến tới thay thế chúng.

Vì vậy, khi vào mùa hanh khô, ta thường thấy những vảy nhỏ trắng bong ra như phấn trắng. Đó chính là tế bào lớp ngoài cùng của da đã chết và hóa sừng bong ra.

Đây là lớp da nằm dưới lớp biểu bì và kết nối các lớp biểu bì với lớp hạ bì bên. Nó cũng phục vụ như một hàng rào bảo vệ giữa lớp biểu bì và hạ bì. Một số bệnh về da, trong đó có một số bệnh tự miễn, có thể làm hỏng lớp trung bì của da.

Lớp hạ bì trên da

Lớp hạ bì hỗ trợ và nuôi dưỡng lớp biểu bì và các phần phụ của da. Các mạch máu cung cấp biểu bì với chất dinh dưỡng nằm ở lớp hạ bì. Các mạch máu cũng điều chỉnh da và nhiệt độ cơ thể.

Dây thần kinh cảm giác cũng nằm ở lớp hạ bì và nang lông. Làn da của chó có phản ứng với những cảm giác đau, ngứa, nóng và lạnh.

Các lớp hạ bì tiết ra các Protein collagen, elastin cung cấp và hỗ trợ tính đàn hồi của da. Ngoài ra còn có tế bào miễn dịch ở lớp hạ bì để bảo vệ và chống lại tác nhân gây bệnh qua lớp biểu bì trên da.

Phần phụ khác cấu tạo nên da của chó

Tuy nhiên không phải da của chúng chỉ được cấu tạo từ 3 lớp chúng tôi đề cập bên trên. Ngoài ba lớp chính thì da của chó được cấu thành nhờ các yếu tố sau đây:

Nang lông

Nằm trong lớp biểu bì của da và được tạo thành từ 20 loại tế bào khác nhau. Mỗi loại đều có chức năng riêng biệt. Nang lông có một sợi lông trung tâm và được bao quanh từ 3 – 15 sợi lông thứ cấp nhỏ hơn.

Tất cả đều được mọc ra từ một lỗ chân lông. Chó được sinh ra với các nang lông đơn giản sau đó phát triển thành nang lông ghép.

Sự phát triển của lông ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng của chó, kích thích tố và sự thay đổi của thời tiết. Chó thường rụng lông vào đầu mùa xuân và đầu mùa thu.

Lông cũng có thể thay đổi để đáp ứng với những thay đổi về nhiệt độ hay lượng ánh sáng. Kích thước, hình dạng và độ dài của lông bị ảnh hưởng bởi di truyền và nội tiết tố.

Bệnh tật, thuốc điều trị, dinh dưỡng và môi trường cũng ảnh hưởng đến lông và sự phát triển của nó. Bộ lông sẽ bảo vệ da khỏi tác hại của ánh sáng mặt trời và tia cực tím, giúp điều chỉnh nhiệt độ cơ thể.

Thời tiết lạnh, bộ lông của chó dày hơn và tốt hơn nhằm giữ nhiệt cho cơ thể. Thời tiết ấm, nóng bộ lông của chó ngắn hơn và ít lông thứ cấp hơn. Thay đổi này giúp không khí có thể di chuyển dễ dàng qua da và tạo điều kiện làm mát cơ thể.

Tuyến dầu còn gọi là tuyến bã nhờn, tiết ra một chất dầu gọi là bã nhờn vào nang lông và lên da. Những vùng gần bàn chân, sau gáy, mông, cằm và khu vực đuôi là những vùng tuyến bã nhờn phát triển.

Bã nhờn là một hỗn hợp của các axit béo. Bã nhờn là chất giữ cho da của chó mềm mại, ẩm ướt và đàn hồi. Bã nhờn tạo lớp bóng cho da, lông.

Mô dưới da

Các mô dưới da là lớp trong cùng của da. Nó chứa các chất béo dưới da và cơ bắp. Các chất béo dưới da giúp cơ thể cách nhiệt chứa chất lỏng, chất điện giải, năng lượng, tránh nhiễm khuẩn da,..

Để được hỗ trợ trực tiếp miễn phí 100% phí từ PetHealth, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:

Phòng chăm sóc khách hàngĐịa chỉ: 240 Âu Cơ – Quảng An – Tây Hồ – Hà NộiTổng đài: 024.2242.8882Email: cskh@pethealth.vnĐặt lịch khám: https://pethealth.vn/dat-lich/Website: https://pethealth.vnRất hân hạnh được đón tiếp!

Chức Năng, Cấu Tạo Của Da Và Các Loại Da

Chức năng của da

1. Bảo vệ

Da là một “hàng rào” giúp chống lại các tác nhân xấu từ môi trường bên ngoài để bảo vệ các cơ quan bên trong cơ thể như hệ thống thần kinh, mạch máu, xương, phủ tạng… Ngoài ra, da còn giúp ngăn ngừa tình trạng mất nước, đồng thời duy trì độ ẩm cần thiết cho cơ thể. Đặc biệt, da còn đóng vai trò chống thấm nhằm tránh sự xâm nhập của nước và các chất lạ khác vào cơ thể.

Các sắc tố melanin cũng giúp bảo vệ chúng ta khỏi tia cực tím nguy hiểm phát ra từ mặt trời. Tuy nhiên, da không thể ngăn chặn hoàn toàn loại tổn thương này. Vì vậy, việc bảo vệ bản thân bằng kem chống nắng, quần áo vẫn rất cần thiết.

Thông qua tuyến mồ hôi và mạch máu trong lớp hạ bì, da còn đóng vai trò điều hòa nhiệt độ cơ thể. Nếu nhiệt độ bên ngoài cao, da sẽ tăng tiết mồ hôi để làm mát cơ thể. Ngược lại, nhiệt độ bên ngoài thấp, các mạch máu dưới da sẽ co lại và giảm tiết mồ hôi để giữ nhiệt cho cơ thể. Thêm vào đó, lớp mỡ dưới da còn giữ vai trò cách nhiệt, giúp giảm bớt ảnh hưởng của nhiệt độ lạnh đến cơ thể và ngăn ngừa sự mất nhiệt từ cơ thể.

3. Tiếp nhận cảm giác

Chức năng tiếp nhận cảm giác của da giúp chúng ta ý thức được nhiệt độ nóng, lạnh, đau, áp lực, tiếp xúc. Cảm giác này được phát hiện bởi các dây thần kinh ở lớp hạ bì. Nhờ có chức năng cảm giác mà cơ thể có thể thích nghi được với ngoại cảnh và tránh được các tác nhân tiêu cực.

Tuy nhiên, những tổn thương quá mức trên da có thể ảnh hưởng tới chức năng cảm giác. Chẳng hạn như, khi bị bỏng nhẹ mức độ 1 và 2, chúng ta sẽ có cảm giác rất đau. Thế nhưng, bị bỏng nặng ở mức độ 3, chúng ta lại không còn cảm giác này nữa, vì các dây thần kinh trong da đã bị phá hủy.

4. Chức năng bài tiết

Da là hệ thống loại bỏ chất thải lớn nhất của cơ thể. Độc tố được giải phóng qua các tuyến mồ hôi và lỗ chân lông.

5. Chức năng nội tiết

Da là một trong những nguồn cung cấp vitamin D quan trọng cho cơ thể, thông qua việc sản xuất Cholecalciferol (D3) ở hai lớp dưới cùng của thượng bì. Vitamin D được tổng hợp ở da khi da tiếp xúc đủ với ánh nắng mặt trời rất cần thiết cho hệ xương.

6. Các chức năng khác của da

Da tạo nên vẻ đẹp cho con người.

Da chứa các tế bào miễn dịch, hỗ trợ cơ thể chống lại bệnh tật.

Da phản ánh sâu sắc về tình trạng sức khỏe con người như mắc giun sán làm da xuất hiện sẩn ngứa, mắc bệnh gan có thể gây vàng da, bị bệnh lao lại khiến da sạm đi…

Cấu tạo của da

Dựa vào mặt cắt ngang, các chuyên gia chia da làm 3 phần chính:

Lớp thượng bì (Biểu bì)

Lớp trung bì (Nội biểu bì)

Lớp hạ bì (Mô dưới da – Mỡ dưới da)

Lớp thượng bì (Tầng biểu bì)

Thượng bì chính là lớp da bên ngoài cùng mà bạn có thể chạm và quan sát với mắt thường. Nó có độ dày trung bình khoảng 0,2 mm tùy từng vùng. Thông thường, lớp thượng bì dày nhất ở lòng bàn chân và mỏng nhất ở quanh mắt.

Nhiệm vụ chính của lớp thượng bì là bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của vật lạ, bao gồm khói bụi, hóa chất độc hại, nấm, vi khuẩn… Ngoài ra, lớp thượng bì còn có khả năng tổng hợp vitamin D từ ánh nắng mặt trời, đồng thời ngăn chặn tia cực tím và quyết định màu da nữa đấy.

Các bộ phận khác như nang lông, tuyến bã nhờn, tuyến mồ hôi… cũng tồn tại ở lớp thượng bì. Từ ngoài vào trong, lớp thượng bì được phân thành 4 phần là lớp sừng, lớp hạt, lớp gai và lớp đáy. Ngoại trừ lòng bàn tay và bàn chân còn xuất hiện thêm lớp bóng giữa lớp sừng và lớp hạt.

Lớp sừng: Đây là lớp ngoài cùng của da, bị sừng hóa trở thành mô chết, không còn cấu trúc tế bào. Các mô này xếp chồng lên nhau tạo thành “bức tường” chống thấm, cũng như ngăn cản sự mất nước.

Lớp hạt: bao gồm 2-3 lớp tế bào, trong bào tương tồn tại vô số hạt nhỏ. Các hạt này đi ra ngoài sẽ tạo thành chất sừng và các lipid thượng bì.

Lớp gai: là lớp dày nhất trong thượng bì. Các tế bào xếp chồng nhau và liên hệ mật thiết với nhau.

Lớp đáy: là lớp trong cùng của thượng bì, nơi sản sinh các lớp tế bào mới liên tục.

Lớp bóng: chỉ hình thành ở vùng da dày như lòng bàn tay, lòng bàn chân. Lớp bóng thường trong suốt, ít thấm nước, ít cản tia, có vân nhưng không có lông và tuyến bã.

Lớp trung bì (Lớp bì)

Lớp trung bì nằm kế tiếp lớp thượng bì, bao gồm 2 phần cơ bản:

Lớp nhú: Lớp này vô cùng mỏng manh, tùy từng vùng da mà chúng có thể tồn tại hoặc không.

Lớp lưới: Lớp này được cấu tạo từ những bó sợi, sợi keo (elastin), sợi lưới và sợi đàn hồi (collagen). Ở người trẻ tuổi, các bó sợi này liên kết chặt chẽ giúp da săn chắc và đàn hồi. Càng lớn tuổi, collagen càng bị phá hủy nhiều. Lúc này, da sẽ mất đi độ đàn hồi và trở nên nhăn nheo, lão hóa. Ngoài ra, trong lớp lưới còn tồn tại tuyến mồ hôi, tuyến bã, nang lông, dây thần kinh và mạch máu.

Lớp hạ bì (Lớp mỡ)

Do chứa nhiều mỡ nên hạ bì còn có tên gọi khác là lớp mỡ dưới da. Ngoài mô mỡ, hạ bì còn có các mô liên kết, mạch máu, thần kinh…

Hạ bì đóng vai trò như một tấm đệm che chở da khỏi những chấn động đột ngột và có nhiệm vụ điều hòa nhiệt độ cơ thể. Lớp hạ bì có độ dày mỏng khác nhau ở nam và nữ, cũng như trẻ em và người lớn hay tùy vào vùng da trên cơ thể.

Các loại da

Da được chia thành 5 loại cơ bản, bao gồm: , da khô, , da hỗn hợp và da thường.

1. Da nhờn

Da nhờn là làn da tiết nhiều dầu và có mô nhờn dày. Đặc điểm dễ nhận biết nhất của loại da này chính là da hay bị bóng dầu khắp mặt, đặc biệt là vùng chữ T (vùng trán, mũi và cằm). Ngoài ra, da còn bị lỗ chân lông to và dễ nổi mụn.

Da nhờn thường gặp ở lứa tuổi dậy thì, những người thường xuyên căng thẳng, stress hay sống trong khí hậu nóng ẩm.

Người sở hữu làn da khô thường có lỗ chân lông khá nhỏ, ít nổi mụn sưng, viêm nhưng đôi khi vẫn xuất hiện mụn thịt hoặc mụn đầu đen. Thêm vào đó, làn da còn luôn trong tình trạng khô ráp, hơi sần sùi, thậm chí có vảy nhỏ và bong tróc khi thời tiết hanh khô. Những người sở hữu làn da này cần cải thiện tình trạng càng sớm càng tốt, vì tình trạng da khô kéo dài có thể hình thành nếp nhăn và da lão hóa nhanh chóng hơn.

Da nhạy cảm có thể coi là làn da đặc biệt “khó chiều”. Da khá mỏng và dễ bị kích ứng nên việc chăm sóc da là điều vô cùng khó khăn.

Một số dấu hiệu nhận biết “cô nàng đỏng đảnh” này là:

Da có thể rất dầu hoặc rất khô;

Da dễ nổi mụn và mụn dễ viêm;

Chủ nhân luôn cảm giác bị ngứa, châm chích, khó chịu;

Da dễ ửng đỏ, rát bỏng khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời dù chỉ trong thời gian ngắn;

4. Da hỗn hợp

Da hỗn hợp là làn da pha trộn của hai hay nhiều loại da khác nhau. Điển hình, da hỗn hợp thường có những vùng da khô và vùng da nhờn.

Da thường là chỉ loại da có mức độ cân bằng tốt giữa dầu và nước. Đây là loại da mà bất kỳ ai cũng đều mơ ước.

Da thường căng mịn, lỗ chân lông hầu như không nhìn thấy được, màu da đều, hồng hào và ít nhạy cảm với môi trường bên ngoài. Có thể nói đây là một làn da “không tì vết” nên chế độ chăm sóc cũng không quá cầu kỳ và phức tạp.

Da bạn thuộc loại nào?

Muốn xác định làn da của mình thuộc loại nào, cách đơn giản là bạn để ý da của mình trông như thế nào dựa trên cơ sở hàng ngày.

Thông thường, làn da dầu thường bóng và lỗ chân lông to. Với da khô, khi dùng tay sờ lên mặt sẽ cảm thấy cứng ráp, khó chịu. Trường hợp da bạn đổ dầu ở một vài vị trí, đặc biệt là vùng chữ T, nhưng vùng khác trên mặt lại khô thì có thể da bạn thuộc loại hỗn hợp. Còn làn da nhạy cảm thì luôn khiến bạn có cảm giác bỏng rát, châm chích hoặc sử dụng mỹ phẩm hay dị ứng.

Để xác định chính xác da mình thuộc loại nào, ngoài phương pháp soi da tại các trung tâm thẩm mỹ, bạn cũng có thể tự kiểm chứng tại nhà bằng 4 bước đơn giản như sau:

Bước 1 – Làm sạch: Trước khi kiểm tra, bạn cần tẩy trang (nếu trang điểm). Sau đó, bạn dùng thêm sữa rửa mặt dịu nhẹ và rửa sạch mặt, rồi thấm khô nhẹ nhàng bằng khăn bông mềm.

Bước 2 – Đợi: Bạn cần để da mặt tự nhiên trong 1 tiếng mà không dùng bất kỳ sản phẩm chăm sóc da nào. Cách làm này sẽ giúp da tự cân bằng và quay về trạng thái bình thường.

Bước 4 – Đánh giá kết quả:

Da nhờn: Trên giấy thử có rất nhiều dầu.

Da khô: Giấy thử khô ráo, thậm chí bạn còn cảm thấy rát nhẹ khi lỡ tay miết mạnh lên da.

Da hỗn hợp: Các miếng giấy ở vùng chữ T (trán, mũi và cằm) có nhiều dầu. Các vùng còn lại trên mặt khô ráo.

Da thường: Các miếng giấy thử sạch hoàn toàn, không xuất hiện vệt dầu.

Công Năng Và Cấu Tạo Của Da

Nhà Thuốc Hạnh Lâm Đường

Bài viết chỉ mang tính tham khảo và phổ biến. Nếu bệnh ở mức độ nhẹ và điều trị đúng hướng dẫn trong bài viết thì người bệnh có thể tự điều trị được cho mình. Nếu bệnh ở mức độ nặng, lâu ngày, điều trị không hiệu quả thì bệnh nhân gửi thông tin cho nhà thuốc để được điều trị theo hướng chuyên trị hơn.

CÔNG NĂNG SINH LÝ VÀ CẤU TẠO GIẢI PHẪU CỦA DA

I) Cấu Tạo Giải Phẫu Của Da:

Cấu tạo của da do lớp da bề mặt, lớp da chính, và các tổ chức dưới da tạo thành, trong đó có các tổ chức phụ thuộc phong phú gồm các mạch bạch huyết, thần kinh và cơ thịt. Da là một bộ phận lớn nhất của cơ thể, chiếm ước chừng 16% tổng trọng lượng cơ thể. Không bao gồm các tổ chức dưới da, độ dày da con người dày khoảng từ 0.5 – 4mm. Da tay – chân, tứ chi và măt duỗi của tứ chi sẽ dày hơn; da mi mắt, da ngực và mặt co của tứ chi sẽ mỏng hơn.

1 – Biểu Bì ( Lớp da ngoài ):

Biểu bì chủ yếu là do tế bào keratin ( chất sừng ), tế bào hắc tố và tế bào langerhans ( tế bào tua ) tạo thành, từ dưới lên trên và bao trùm cả tầng đáy, tầng gai, tầng hạt, tầng trong suốt, tầng sừng: Trong lớp biểu bì có một mạng mút dây thần cảm giác dày đặc, nhưng không có huyết quản. Chất dinh dưỡng và các chất được tạo ra nhờ sự trao đổi chất của lớp biểu bì chủ yếu thông qua sự trao đổi chất ở các dải màng đáy, nơi giao nhau giữa lớp biểu bì và lớp da chính. Tế bào sừng thông qua thể liên kết và bán liên kết ( desmosome ) có mối quan hệ mật thiết.

a – Tầng đáy:

Tầng đáy nằm ở vị trí thấp nhất của lớp biểu bì, chỉ có một tầng tế bào đáy hình trụ hoặc hình lập phương, lớp tế bào này xếp thành hình hàng rào, chất bào thì ít nhưng nhân bào thì đậm đặc, ở khoảng giữa có một ít tế bào hắc tố. Trong chất nhũ tương của tế bào đáy có các hạt hắc tố có được từ tế bào hắc tố, có thể ngăn cản được sự xuyên thấu của tia tử ngoại vào da. Tầng đáy cũng gọi là tầng phát sinh, thông qua sự phân chia liên tục của các nhân tế bào không ngừng sản sinh ra các tế bào keratin mới, đồng thời di chuyển dần lên trên.

b – Lớp Gai:

Lớp gai vị trí ở mặt trên của tầng đáy, do 4 – 10 tầng tế bào tạo thành. Tế bào tầng dưới là tế bào hình đa giác, càng lên trên càng dẹt dần, tế bào lớn hơn, nhân nhỏ dần, nhân cô đặc, thể liên kết ( desmosome ) giữa tế bào nhô mạnh ra giống như mũi gai cho nên gọi là tầng gai. Trong tế bào gai của tầng cạn có thể thấy các thể nhỏ chất sừng, tầng gai có khả năng tăng sinh mạnh.

c – Tầng Hạt:

Vị trí nằm trên tầng gai, do 2 – 4 tầng tế bào hình thoi tạo thành. Trong những tế bào này có nhiều hạt trong chất sừng to nhỏ không đều. Nếu tầng hạt xuất hiện sừng hóa quá độ thì có thể xuất hiện dày da; Sừng hóa không hoàn toàn thì tầng này sẽ biến mất.

d – Tầng trong suốt:

Chỉ có ở lòng bàn tay chân và những vùng da dày và có chất sừng, vị trí ở trên tầng hạt, là bức màng ngăn chặn nước và chất điện giải xuyên qua.

e – Tầng chất sừng:

Do khoảng 5 – 10 tầng tế bào không nhân hình dẹt đã chết tạo thành. Trong tế bào có rất nhiều chất Keratin và các cấu trúc nền ECM ( Ma trận ngoại bào – extracellular matrix ).

2 – Chân Bì:

Chân bì do các sợi Collagen, chất xơ dạng lưới, chất xơ đàn hồi, tế bào và cấu trúc nền ECM, trong đó có kết cấu rất nhiều huyết quản, mạch bạch huyết, thần kinh và các cơ quan thuộc về da, cơ thịt. Các sợi Collagen, chất xơ dạng sợi, chất xơ đàn hồi cùng nhau duy trì tính mềm và tính đàn hồi của da. Thành phần chủ yếu của tế bào bao gồm tế bào chất xơ, tế bào mast ( dưỡng bào ), đại thực bào (tế bào Macrophage ), tế bào lympho. Chất cấu trúc nền ECM bù vào giữa chất xơ và tế bào, hình thành nhiều phân tử lỗ xốp mịn có cấu hình dạng hình rây, có lợi cho quá trình trao đổi chất và hạn chế sự tấn công của vi khuẩn.

3 – Tổ Chức Dưới Da:

Bên dưới lớp da chính được gọi là tổ chức dưới da, có một ranh giới không rõ ràng với lớp da chính. Tổ chức dưới da được tạo thành do tổ chức mô liên kết lỏng lẻo cùng tế bào mỡ trắng (Adipocytes ) lấp đầy. còn gọi là tầng mỡ trắng hạ bì, có tác dụng cách nhiệt và làm ấm. Tầng này bên trong có tuyến mồ hôi, nang lông, huyết quản, mạch lympho và hệ thống thần kinh.

4 – Tổ Chức Phụ Cận:

a – Lông Tóc Và Nang Lông:

Lông tóc do tế bào của lớp thượng bì sừng hóa tạo thành. Móng chân tay, đầu ngón tay, lòng bàn tay chân, đầu vú, môi, quy đầu, âm vật là những nơi không có lông. Phần lộ ra ngoài của lông tóc là phần thân, phần đầu dưới của chân lông tóc phình to gọi là “mao cầu”, phần đầu dưới của mao cầu hõm vào được gọi là “mao nhũ đầu”. Mặt cắt ngang của lông tóc được chia ra 3 phần: phần trung tâm là tủy, bên ngoài là chất da, tầng ngoài cùng là lớp da nhỏ. Nang lông do lớp da ngoài ( biểu bì ) hõm xuống mà thành.

b – Tuyến Mồ Hôi:

Tuyến mồ hôi được phân thành hai loại là tuyến mồ hôi lớn và tuyến mồ hôi nhỏ. Tuyến mồ hôi lớn còn gọi là tuyến mồ hôi bài tiết, thường mở ra ở mặt trên của phần đi vào tuyến bã nhờn của nang lông, chất cặn bã bài tiết mới, dạng nhũ tương không có mùi hôi chủ yếu phân bố ở nách, quầng vú, rốn, hậu môn, bộ phận sinh dục; Tuyến mồ hôi nhỏ mở ra ở mặt ngoài của da, có tác dụng bài tiết dịch mồ hôi và điều tiết thân nhiệt, trừ vùng da đỏ ở môi, mặt trong da quy đầu, quy đầu, môi nhỏ sinh dục nữ, âm vật. Hệ thống này phân bố toàn thân.

c – Móng:

Móng do nhiều tầng khép kín của tế bào sừng hóa tạo thành. Phần lộ ra bên ngoài được gọi là đĩa móng, phần ngập trong da gọi là rễ móng. Phần gần đầu rễ móng có màu nhạt và hình dạng trăng non được gọi là móng bán nguyệt. Da dưới mặt móng là giường móng.

d – Huyết Quản ( Mạch máu ):

Huyết quản của da được phân bố ở lớp da chính và trong các tổ chức dưới da, chủ yếu có 3 nhóm: 1 Nhóm mạch máu tương đối lớn trong tổ chức dưới da. 2 Nhóm mạch máu dưới lớp da chính. 3 Nhóm mạch máu dưới lớp núm vú: Tất cả đều có tác dụng điều tiết thân nhiệt và cung cấp dinh dưỡng cho da.

e – Thần Kinh:

Trong da có hệ thống thần kinh cảm giác và thần kinh vận động. Thông qua mối liên hệ của hệ thống thần kinh này và hệ thống thần kinh trung khu giúp cho cảm nhận được cảm giác tiếp xúc, đau, lạnh, và nhiều cảm giác phức tạp khác, đồng thời có thể chi phối được sự bài tiết của tuyến mồ hôi, vận động của cơ bắp và sự co duỗi, giãn nở của mạch máu.

f – Mạch Lympho ( hệ bạch huyết ):

Tuyến này được chia thành hệ bạch huyết nông và hệ bạch huyết sâu. Hệ bạch huyết sâu có màng tế bào Lympho T, trong mạch bạch huyết nhỏ ở vùng nông ít áp lực hơn, tính trong suốt cao. Tổ chức dịch, vi khuẩn đều dễ xâm nhập vào mạch bạch huyết để di chuyển vào hạch bạch huyết, dẫn đến phản ứng miễn dịch.

g – Cơ Bắp:

Bao gồm lớp lông mịn trên vùng cơ mượt của màng bìu tinh hoàn, quầng vú, trong vùng cơ mượt của thành mạch máu, bề mặt da mặt và vùng cổ, cơ da cổ.

II – CÔNG NĂNG SINH LÝ CỦA DA

A – Tác Dụng Bảo Vệ:

1 – Bảo vệ đối với sự kích thích có tính chất cơ giới:

Tầng chất sừng ở lớp da ngoài mềm mại mà kín đáo, sợi collagen trong lớp da chính, sợi đàn hồi và sợi dạng lưới đan kết với nhau thành một mạng lưới. Chất béo dưới da mềm mại và có tác dụng làm ấm, vì vậy ở một mức độ lớn da có thể chịu được sự tổn thương do cọ sát, kéo dãn, áp lực, va chạm với môi trường bên ngoài.

2 – Phòng hộ đối với tổn hại có tính chất vật lý:

Tầng chất sừng ở lớp da ngoài có một màng Lipid vừa ngăn ngừa lượng nước trong cơ thể bốc hơi quá độ, lại có thể ngăn cản được nước từ bên ngoài thấm vào cơ thể, từ đó điều tiết và bảo trì được hàm lượng nước nhất định ở tầng chất sừng. Điện trở ở tầng chất sừng ngoài da khá lớn, có tác dụng ngăn cản đối với dòng điện lưu của điện áp thấp. Tế bào sừng hóa của tầng chất sừng có tác dụng phản xạ và hấp thu tia tử ngoại. Tế bào hắc tố sau khi đón nhận tia tử ngoại chiếu vào thì càng sản sinh ra nhiều hắc tố, từ đó tăng cường tác dụng phòng hộ tác động của tia tử ngoại đối với da.

3 – Phòng hộ đối với tổn thương có tính chất hóa học:

Tế bào tầng sừng xếp thành một hàng kín đáo có khả năng ngăn chặn các vật chất hóa học từ bên ngoài vào bên trong cơ thể, bản thân tế bào chất sừng có tác dụng kháng lại axit yếu và chất kiềm yếu, nhưng nhìn chung tác dụng của hàng rào này cũng chỉ mang tính tương đối.

4 – Phòng ngự đối với sự tổn hại có tính chất từ sinh vật:

Tính cơ giới của tầng chất sừng kín đáo chặt chẽ có thể ngăn cản được sự xâm nhập của các loại vi sinh vật vào cơ thể. Lớp da bề mặt khô ráo và điều kiện của tính axit yếu không thuận lợi cho sự sinh sản và phát triển của vi sinh vật. Cấu trúc nền phân tử ECM ( Ma trận ngoại bào – extracellular matrix ) của lớp da chính ( chân bì ) có thể cục bộ hóa các loại tế khuẩn xâm nhập vào cơ thể để thuận tiện cho việc tiêu diệt.

B – Tác Dụng Cảm Giác:

Trong da có rất nhiều loại mút thần kinh cảm giác, có thể truyền dẫn các cảm giác kích thích khác nhau từ bên ngoài tác động lên da men theo các sợi trục bao quanh tế bào thần kinh để truyền đến đại não như các cảm giác rõ ràng do côn trùng cắn đốt, áp lực trên da, lạnh, nóng, đau cho đến các cảm giác phức tạp như khô, ẩm, trơn láng, thô ráp…

C – Tác Dụng Điều Tiết Thân Nhiệt:

Da có thể cảm nhận được độ ấm từ ngoại giới và thay đổi của thân nhiệt, tiếp chuyển đến trung khu điều tiết thân nhiệt, sau đó thông qua thần kinh giao cảm để điều tiết sự co dãn của các mạch máu ở da, từ đó biến đổi lượng máu trong da và khuếch tán lượng nhiệt để điều tiết thân nhiệt. Sự khuếch tán lượng nhiệt ở bên ngoài cơ thể chủ yếu có bức xạ nhiệt, bốc hơi mồ hôi, đối lưu tuần hoàn không khí và dẫn nhiệt của da.

D – Tác Dụng Đào Thải Và Bài Tiết:

Tuyến mồ hôi nhỏ đào thải và bài tiết ra mồ hôi, từ đó điều tiết thân nhiệt, còn là bộ phận có thể thay thế cho công năng của Thận. Tuyến bã nhờn của da đào thải và bài tiết bã nhờn ( chất sebum ), bã nhờn còn có tác dụng làm mướt lông tóc, phòng ngừa khô nứt da. Dịch mồ hôi và bã nhờn đều có thể ức chế sự sinh trưởng của một loại tế khuẩn nào đó ngoài da.

E – Tác Dụng Hấp Thu:

Các loại vật chất ở bên ngoài thông qua nang lông, tuyến bã nhờn hoặc ống tuyến mồ hôi, khe hở giữa các tế bào chất sừng, tế bào tầng chất sừng mà hấp thu vào. Mỗi vị trí khác nhau trên da đều có khả năng hấp thu khác nhau. Mức độ hydrat hóa của tầng chất sừng, đặc tính lý hóa của vật chất đều có thể ảnh hưởng đến tác dụng hấp thu của da.

F – Tác Dụng Trao Đổi Chất: Trong da có tồn tại sự trao đổi chất của nhiều loại vật chất như đường, protein, lipid, nước, điện giải để duy trì sự cung cấp năng lượng, tái tạo tế bào và ổn định tình trạng bên trong cho da.

G – Tác Dụng Miễn Dịch:

Da là bức màn giữa cơ thể và điều kiện bên ngoài, có rất nhiều kháng nguyên ngoại lai xâm nhập vào cơ thể thông qua da. Cho nên có rất nhiều phản ứng miễn dịch phát sinh đầu tiên ở da. Chính vì vậy thường thấy đối với nghiên cứu về tế bào miễn dịch của da thì rất nhiều nhưng đối với miễn dịch thể dịch rất ít.

Được viết bởi nhà thuốc Hạnh Lâm Đường