Cấu Tạo Mắt Và Các Chức Năng Của Mắt

Vào tuần thứ 3 của thai kỳ thì cấu tạo mắt bắt đầu được hình thành dưới dạng hai túi thị nguyên thủy. Túi thị dần phát triển theo thời gian và sẽ lồi ra phía trước để tạo thành thủy tinh thể, võng mạc cũng như các bộ phận khác của mắt.

1. Cấu tạo bên ngoài của mắt

Xét tổng thể bên ngoài thì mắt được cấu tạo bởi những bộ phận sau:

1.1 Lông mi và mi mắt

Cơ chế hoạt động của hai mí mắt giúp mắt có thể nhắm mở bình thường. việc nhắm mở mắt có tác dụng điều tiết mắt, tránh làm mắt bị khô và mỏi. Ngoài ra còn có lớp lông mi trên mắt giúp bảo vệ mắt khỏi các dị vật.

1.2 Củng mạc

Củng mạc có hình cầu, là màng chắn rất chắc và cứng được bao quanh và tạo nên hình thể của nhãn cầu

1.3 Giác mạc

Giác mạc có vị trí nằm ở phía trước củng mạc, hơi nhô ra khỏi ổ mắt và có hình chỏm cầu. Giác mạc như một thấu kính có khả năng hội tụ hình ảnh giúp mắt có thể quan sát rõ các vật.

1.4 Kết mạc

Kết mạc là lớp niêm mạc che phủ phần củng mạc của nhãn cầu. Kết mạc giúp duy trì sự ổn định lượng nước mắt được tiết ra và tránh làm nước mắt tràn vào giác mạc.

1.5 Mống mắt

Mống mắt là gì ? Mống mắt là màng sắc tố bao quanh đồng tử và ở ngay phía sau giác mạc. Đây là bộ phận quyết định màu mắt của con người (ví dụ nâu, xanh, đen…)

1.6 Đồng tử

Nằm ở trung tâm của mống mắt, lỗ tròn màu đen chính là đồng tử. Các cơ nằm trong mống mắt có thể giúp đồng tử co lại hoặc giãn ra, từ đó cân bằng lượng ánh sáng vào mắt.

2. Cấu tạo bên trong của mắt

Cấu tạo bên trong của mắt gồm những bộ phận sau:

2.1 Thủy tinh thể 2.2 Võng mạc

Võng mạc nằm ở lớp trong cùng của nhãn cầu, có cấu tạo như một lớp màng mỏng. Võng mạc là bộ phận tiếp nhận ánh sáng được hội tụ từ thủy tinh thể. Cảm nhận ánh sáng và thông qua các dây thần kinh thị giác sẽ truyền thông tin đến đại não. Từ đó não bộ sẽ xử lý và cung cấp ý thức cho con người về vật mà ta quan sát thấy.

2.3 Thủy dịch

Là chất dịch nhờn được tiết ra từ thể mi đến tiền phòng và hậu phòng. Đây là chất cung cấp dinh dưỡng để duy trì sự sống cho giác mạc thủy tinh thể. Ngoài ra thì thủy dịch cũng tạo ra áp lực dương giúp mắt luôn giữ được hình dạng cầu căng.

2.4 Hắc mạc

Nằm giữa củng mạc và võng mạc là một lớp màng mỏng được gọi là hắc mạc. Ở hắc mạc có rất nhiều mạch máu nhỏ giúp nuôi dưỡng con mắt.

2.5 Dịch kính

Dịch kính nằm giữa võng mạc và thủy tinh thể, có cấu trúc trong suốt gần giống với thạch. Là một môi trường đệm có khả năng nuôi dưỡng duy trì sự ổn định của nhãn cầu.

III. Các chức năng của mắt

Xét dưới góc độ sinh học thì mắt được xem là bộ phận nhạy cảm nhất trên cơ thể trước các tác động bên ngoài từ môi trường. Thông qua đó giúp con người có những phản ứng phù hợp với những biến đổi của môi trường.

Xét dưới góc độ quang học, mắt là bộ phận để thu nhận các thông tin và màu sắc của hình ảnh. Là một phần trong hệ thống thu nhận và xử lý thông tin của đại não, thực hiện các chức năng nhìn và quan sát hình ảnh. Sau đó chuyển hình ảnh nhìn được lên bộ não để xử lý và lưu trữ.

Ngoài ra mắt còn là bộ phận giúp hoàn chỉnh cấu tạo khuôn mặt của cơ thể con người, là cửa sổ tâm hồn và trao đổi thông tin thay cho lời nói.

Các chức năng quan trọng của mắt:

Nguồn Gốc Của Kính Mắt Và Cấu Tạo Của Mắt Kính

hoặc chất dẻo (cứng hoặc dẻo), phần cuối được uốn cong để lên vành tai. Giá đỡ có hai miếng đệm cao su, để gác lên sống mũi.khúc xạ), với tiêu chuẩn tốt hơn hầu hết các loại thủy tinh. Nhẹ hơn tròng bằng thủy tinh, có thể làm cho khác nhau. Có các loại: loại chống tia cực tím, loại chống trầy xước và loại có cả hai đặc tính trên. Tròng kính được gắn vào gọng nhờ một sợi dây cước trắng và gọng được xiết chặt giữ hai tròng kính nhờ hai con đinh vít.Gọng kính làm bằng kim loại chống gỉ

Tròng kính được làm bằng chất dẻo cứng, thay cho thủy tinh được sử dụng trước đó. Chất dẻo có các đặc tính tốt như tránh nguy hiểm do các mảnh vỡ, xác định được độ chính xác hơn (cho các tật tròng kính mỏng hơn tùy kĩ thuật. Có nhiều loại

Hình dạng ban đầu củađen với chân gọng kính bằng đồng kẹp vào búi tóc. Thế kỉ 13, kính mới được dùng rộng rãi ở châu Âu. Trong một bức vẽ của Tommaso da Modena vào năm 1352 có mô tả Hugh de Provence đeo Năm 1748, Benjamin Franklin kính mắt được xác định đơn giản chỉ là một thấu kính bằng được tìm thấy trong di chỉ khảo cổ ở Iraq. Tuy nhiên, những chiếc kính mắt thực sự được ghi nhận đầu tiên vào năm 1260. Cuối thế kỉ 12, kính đã xuất hiện ở và châu Âu. Thấu kính của Trung Quốc kích thước to hình tròn được lồng vào khung bằng mai rùa kính mắt. Bấy giờ, thiết kế của kính đeo mắt chỉ gồm 2 mắt kính nối với nhau bằng một gọng cứng đè lên đầu mũi, hai bên có dây đeo vào lỗ tai.

phát minh ra loại kính có 2 tiêu điểm, mà ngày nay được biết đến với tên gọi kính 2 tròng (bifocal). Năm 1887, kính áp tròng Năm 1730, một chuyên gia quang học ở Luân Đôn sáng chế ra hai càng (ngày nay gọi là gọng kính) để mắt kính gá vào một cách chắc chắn. Thời kì đầu kính đeo mắt là loại kính đơn khi dùng thì cầm trên tay. Kính chỉ được dùng cho những người có địa vị trong xã hội chứ không nhằm mục đích để tăng thị lực.

Kính : chỉ định cho người mắc tật khúc xạ (Cận thị, Viễn thị, Loạn thị, Lão thị). Đơn kính phải do thầy thuốc nhãn khoa chỉ định sau khi đã tiến hành khám mắt toàn diện.

Kính an toàn: hạn chế dị vật, chống mảnh vỡ bay vào mắt, chắn bớt sáng hay bức xạ.

Kính râm: giúp nhìn tốt hơn trong ánh sáng ban ngày, bảo vệ khỏi tia UV, hoặc chỉ để che đôi mắt

Xem ảnh 3D và 4D, thời trang, thẩm mĩ,…

Thấu kính chủ yếu được làm bằng chất liệu CR-39, ngoài ra có thể làm bằng polycarbonate hay trivex.

Nguồn Internet.

Cấu Tạo ‘Thần Kỳ’ Của Mắt Ruồi

Loài ruồi phụ thuộc nhiều vào thị lực để sinh tồn. Trong khi mắt người được gắn vào cơ để có thể di chuyển được, mắt ruồi không thể chuyển động. Tuy nhiên vì cấu tạo mắt hình tròn mà ruồi có thể nhìn được thế giới qua 360 độ.

Ruồi là côn trùng thuộc bộ Diptera (theo tiếng Hy Lạp di có nghĩa là “hai” và pteron là “cánh”), chúng có một cặp cánh đơn trên đốt ngực giữa và một cặp bộ phận thăng bằng ở cánh sau, trên đốt ngực cuối.

Nhiều loại ruồi đập cánh rất nhanh. Ruồi chúng ta hay nhìn (gọi là ruồi nhà) đập cánh 200 lần/s, muỗi khoảng 600 lần/s và các loài muỗi vằn càng nhỏ thì có tốc độ đập cánh càng cao, nhất là khoảng 1000 lần/s.

Cấu tạo ‘thần kỳ’ của mắt Ruồi

Mắt ruồi có cấu tạo gồm hàng ngàn thủy tinh thể tí hon, giúp chúng có thể nhìn được ánh sáng cực tím giống các loài chim. Tuy nhiên, ruồi nhìn mọi chuyển động như thông qua ống kính quay chậm.

Ruồi có cấu tạo mắt hết sức đặc biệt, cho phép thay đổi góc nhìn một cách nhanh chóng và quan sát nhiều hướng cùng một lúc. Các nhà khoa học gọi đó là cấu tạo mắt kép – một trong những điểm siêu việt của côn trùng.

Với mắt kép, ruồi bám vào những tia sáng, trong điều kiện tự nhiên đó là tia nắng Mặt trời – tia sáng song song, để bay với vận tốc rất nhanh cũng như đảo người mà không mất phương hướng.

Mắt ruồi có phản ứng thị giác nhanh nhất trong thế giới động vật, và nhanh tới hơn 5 lần khi theo dõi chuyển động so với con người.

Trong khi mắt người được gắn vào cơ để có thể di chuyển được, mắt ruồi không thể chuyển động. Tuy nhiên vì cấu tạo mắt hình tròn mà ruồi có thể nhìn được thế giới qua 360 độ.

Chúng có mắt kép bao gồm hàng ngàn thấu kính rất nhạy cảm với chuyển động. Một vài loài ruồi nhìn được hình ảnh 3D rõ nét.

Ứng dụng mắt Ruồi trong thực tiễn

Mới đây, một nhóm nhà nghiên cứu đến từ Thụy Sỹ đang nghiên cứu chế tạo mắt ruồi nhân tạo có khả năng hoạt động với độ cảm quan cao và nhạy bén như mắt của những loài côn trùng nhỏ. Nó có thể được ứng dụng để trang bị cho máy bay không người lái.

Thậm chí, các nhà nghiên cứu còn kỳ vọng, những mắt ruồi nhân tạo này sẽ được ứng dụng để sản xuất các thiết bị hỗ trợ người khiếm thị và sẽ là một bộ phận quan trọng trong sản xuất ô tô không người lái.

Trang Ly (T/h)

– Top 5 loài chó thông minh nhất thế giới

– Top 10 loài động vật lớn nhất, nhanh nhất và ‘sát thủ’ nhất đại dương

– Bí ẩn sức mạnh đại bàng – “chúa tể bầu trời”

– 7 quái vật lớn nhất trong lịch sử Trái đất

Cấu Tạo Của Mắt Và Cơ Chế Hoạt Động Của Mắt

Mắt người cũng là một phần của não, hình thành từ tuần thứ 3 của thai kỳ dưới dạng hai túi thị nguyên thủy, phát triển và lồi dần ra phía trước tạo thành võng mạc, thủy tinh thể và các thành phần hoàn chỉnh khác.

Cấu tạo của mắt gồm những gì?

Mắt nằm ở vị trí trong hai lỗ hốc hai bên sống mũi, phía trên có gò lông mày và trán, phía dưới giáp xương má. Màng mạc bọc xương của hốc mắt nối tiếp bên sau với màng cứng của não, được bọc với hai dây thần kinh thị giác.

Mắt “kỳ diệu” của chúng ta có cấu trúc rất tinh vi

Cấu trúc bên ngoài của mắt

Ở góc độ bên ngoài, ta có thể quan sát cấu tạo mắt người với các bộ phận sau:

Lông mi v​à mi mắt: Mọi chuyển động nhắm và mở ra của mắt đều nhờ cơ chế hoạt động của hai mi mắt, phản xạ tự nhiên này giúp điều tiết bảo vệ mắt khỏi bị khô, nhiễm khuẩn khi tiếp xúc với khói, bụi, nước hay ánh sáng quá chói. Trên mí mắt được bao bọc bởi lông mi giúp bảo vệ mắt khỏi các nguy hiểm của dị vật.

Củng mạc: Đây là một màng chắc dày và rất cứng bao quanh để tạo nên hình thể của nhãn cầu (hình cầu)

Giác mạc: Nằm ở trước củng mạc, đây như chiếc cốc trong suốt này che đi phần mắt bạn nhận được ánh sáng. Giác mạc có hình chỏm cầu hơi nhô ra khỏi ổ mắt, đóng vai trò như thấu kính và hội tụ hình ảnh lên võng mạc. Hãy nghĩ về giác mạc như một cửa sổ thông qua đó mà bạn có thực hiện chức năng thị lực.

Kết mạc: Là một màng mỏng trong suốt có chứa các mạch máu, lớp niêm mạc này che phủ phần củng mạc (lòng trắng) và mặt trong của sụn mi, tạo nên hai túi cùng đồ trên và dưới. Chức năng chính của kết mạc là duy trì sự ổn định lớp nước mắt và tiết ra một số chất cần thiết để chống lại mọi sự xâm nhập vào giác mạc.

Mống mắt: Ở phía sau giác mạc là màng sắc tố bao quanh đồng tử gọi là mống mắt, với cấu trúc mỏng, hình tròn, có chức năng điều chỉnh đường kính và kích cỡ của đồng tử, nhờ đó lượng ánh sáng đi đến võng mạc. Mống mắt có đặc điểm riêng quyết định màu sắc của con ngươi.

Đồng tử: Là lỗ đen tròn nằm ở trung tâm của mống mắt và được bao phủ bởi giác mạc. Cho phép ánh sáng đi vào nhãn cầu qua con ngươi. Đồng tử có thể phóng to hoặc trở nên nhỏ hơn do các cơ của mống mắt, nhờ đó giúp cân bằng lượng ánh sáng vào mắt. Với những thành phần cấu tạo bên ngoài của mắt này, có thể thăm khám bằng mắt thường hoặc thông qua các dụng cụ đơn giản như đèn pin, kính lúp.

Cấu tạo bên trong của mắt

Nhìn bên ngoài, cấu tạo của mắt có vẻ đơn giản, nhưng cấu tạo bên trong của mắt rất tinh vi và kì công và hoạt động như một cỗ máy siêu việt. Bên trong của mắt có 2 bộ phận cơ bản và quan trọng đó là thủy tinh thể và võng mạc đảm bảo chức năng nhìn của mắt.

Thủy dịch: Thủy dịch được thể mi (phần nằm sau mống mắt) tiết ra và đi vào tiền phòng, tạo nên áp lực dương nhằm duy trì hình dạng cầu căng cho mắt và cung cấp chất dinh dưỡng cho giác mạc và thể thủy tinh.

Thủy tinh thể: Thủy tinh thể dưới dạng thấu kính trong suốt, hai mặt lồi và nằm phía sau đồng tử. Đây là thành phần quang học quan trọng nhất của mắt giúp cho ánh sáng đi qua và giúp các tia sáng hội tụ đúng vào võng mạc nhờ đó hình ảnh được rõ ràng, sắc nét.

Võng mạc: Là lớp mô thần kinh của mắt nằm trong cùng của nhãn cầu, chúng hoạt động ví như cuốn phim trong máy quay với nhiệm vụ tiếp nhận ánh sáng từ thủy tinh và giác mạc thể hội tụ lại trên võng mạc, cảm nhận ánh sáng và truyền thông tin qua não nhờ hệ dây thần kinh thị giác, não sẽ giúp ta nhận thức về vật đã nhìn thấy.

Dịch kính (thể pha): Với cấu trúc giống như thạch, trong suốt lấp đầy khoảng trống giữa thủy tinh thể và võng mạc mắt. Chất dịch kính gồm 2 phần là phần dịch (thực tế là nước) và phần có cấu tạo sợi nhờ các phân tử albumin dính kết với nhau. Dịch kính đóng vai trò như một môi trường đêm giúp nhãn cầu giữ được hình thể ổn định. Hình ảnh được nhìn thấy chỉ khi giác mạc, thể thủy tinh và dịch kính còn trong suốt và cho phép ánh sáng đi đến võng mạc.

Hắc mạc: Là lớp màng mỏng nằm giữa củng mạc và võng mạc, chứa sắc tố và mạch máu cung cấp dưỡng chất cho võng mạc để nuôi dưỡng mắt người.

Đĩa thị: Đĩa thị là nơi dây thần kinh thị đi vào nhãn cầu, nằm lệch về phía mũi. Ở đáy mắt ta có thể thấy được dây thần kinh thị giác đó là đĩa thị (gai thị) . Đĩa thị bình thường có hình tròn hay hình oval đứng, đường kính dọc trung bình khoảng 1,85-1,95mm, đường kính ngang trung bình 1,7-1,8mm.

Lõm hoàng điểm: Hoàng điểm nằm ở trung tâm võng mạc, có hình bầu dục, rộng 3mm, nằm phía ngoài đĩa thị. Trung tâm hoàng điểm là một chỗ lõm xuống. Hoàng điểm nhìn sẫm màu hơn so với võng mạc vì tế bào biểu mô sắc tố, ở đây có tế bào que (giúp nhìn trong bóng tối) và tế bào nón (giúp nhìn ở ngoài ánh sáng) đây là yếu tố quan trọng cho thị lực cao nhất và tinh tế nhất có nhiệm vụ giúp mắt nhìn rõ, có thể đọc và lái xe. Hố trung tâm là vô mạch và có vai trò trao đổi chất dựa vào lớp biểu mô sắc tố.

Thần kinh thị giác: Là một trong 12 đôi dây thần kinh sọ và là phần đầu tiên của đường dẫn truyền thị giác, có chức năng dẫn truyền các tín hiệu hình ảnh từ võng mạc đến trung tâm xử lý hình ảnh ở vỏ não để phân tích.Từng dây thần kinh thị giác đảm nhiệm vụ cho từng mắt, với một quang trường riêng biệt, chúng có đường đi đối xứng nhau về hai bán cầu não.

Cầu mắt: Cầu mắt nằm trong hốc mắt của xương sọ, phía ngoài được bảo vệ bởi các mi mắt, lông mày và lông mi nhờ tuyến lệ luôn luôn tiết nước mắt làm mắt không bị khô. Cầu mắt vận động được là nhờ cơ vận động mắt.

Như vậy có thể thấy cấu tạo của mắt của chúng ta khá phức tạp và nhiều bộ phận nhỏ, mỗi bộ phận có một nhiệm vụ riêng nhưng thống nhất với nhau để hoàn thành khả năng thị giác của con người.

Thủy tinh thể và võng mạc là 2 bộ phận trụ cột và có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chứng năng nhìn, thị lực của mắt. Tuổi tác cộng với các tác nhân bên ngoài là những lý do khiến 2 bộ phận này bị tổn tổn thương theo thời gian.

Theo chúng tôi Đỗ Như Hơn

Có thể bạn chưa biết điều thú vị về sự lưu ảnh của mắt:

Sự lưu ảnh của mắt được nhà vật lý người Bỉ Joseph Plateau phát hiện ra vào năm 1829. Cụ thể, ông nhận thấy trong khoảng 0,1 giây, chúng ta vẫn còn cảm giác rằng ta đã nhìn thấy vật. Cụ thể, hiện tượng lưu ảnh ở mắt là hiện tượng ảnh còn lưu lại ở võng mạc trong khoảng 1/10s sau khi mắt ngừng quan sát vật đó. Như vậy, Plateau đã phát hiện ra một hiện tượng thú vị của vật lý cũng như của sinh học.

Nếu mắt quan sát các hình ảnh rời rạc được chiếu liên tục trong khoảng thời gian ngắn khi đó não bộ sẽ xem nó như là một hình ảnh liên tục lúc đó ta sẽ có một chuyển động liên tục. Nhờ sự lưu ảnh của mắt được ứng dụng trong điện ảnh. Cụ thể, khi chiếu phim, cứ sau 0,033 hay 0,04 giây, người ta lại chiếu một cảnh phim. Khi đó, do hiện tượng nói trên, người xem có cảm giác rằng quá trình trong phim đang diễn ra liên tục.

Chức năng của mắt

Mắt người là một trong năm giác quan quan trọng, đáp ứng với ánh sáng, giúp con người quan sát hình ảnh và có phản ứng với môi trường xung quanh. Mắt như một “người truyền dẫn thông tin hình ảnh” trung thực và chính xác đến bộ não trung ương với các chức năng như:

Dưới góc độ sinh học, đôi mắt là bộ phận nhạy cảm trước tác động của môi trường, thông qua đó con người có những phản ứng phù hợp với mọi diễn biến biến đổi xung quanh.

Về mặt quang học, các bộ phận của mắt làm việc như một chiếc máy ảnh thu nhận thông tin về hình ảnh màu sắc và đồng thời “mã hóa” thông tin đến đại não xử lý và lưu trữ.

Mắt còn là cơ quan giúp con người giao tiếp phi ngôn ngữ. Nhờ vào ánh mắt, con người có thể ra hiệu, thể hiện cảm xúc và trao đổi thông tin với nhau thay cho lời nói.

Mắt người là quà tặng kỳ diệu mà thượng đế đã ban tặng

Nhiệm vụ chính của mắt ta có thể thấy rõ như:

Nhìn: Mắt tiếp nhận ánh sáng sau đó chuyển đổi thành các xung điện và gửi đến não để xử lý các tín hiệu tạo thành hình ảnh mà chúng ta nhìn thấy.

Di chuyển: Sự điều chỉnh mắt cân bằng dựa vào sự di chuyển của đầu nhờ vào sáu cơ ngoài mắt, giúp kiểm soát sự chuyển động của nhãn cầu lên, xuống, trái và phải.

Chớp mắt: Khi bạn chớp mắt, nhờ vào sự bài tiết nước mặn (nước mắt cơ bản) từ tuyến lệ lan ra bề mặt của mắt, giữ cho nhãn cầu luôn ẩm và sạch sẽ. Nhờ vào cơ mí mắt trên kiểm soát sự chuyển động mở và đóng.

Khóc: Nước mắt là chất lỏng vị mặn có chứa protein, nước, chất nhầy và dầu được chảy ra từ tuyến lệ và ra ngoài mắt. Có 2 loại nước mắt: Nước mắt phản xạ và nước mắt cảm xúc. Nước mắt phản xạ giúp bảo vệ mắt khỏi các tác nhân như khói, bụi và gió. Nước mắt cảm xúc là phản ứng với nỗi buồn hay niềm vui. Một số lý thuyết cho rằng “khóc là một cách có lợi” để giúp cơ thể đào thải độc tố ra bên ngoài.

Bảo vệ: Lông mi và mí mắt giúp mắt tránh khỏi bụi bẩn. Lông mày với dáng cong giúp đẩy mồ hôi ra khỏi mắt.

Những điều thú vị về đôi mắt có thể bạn chưa biết:

Mắt là cơ quan phức tạp thứ 2 trong cơ thể, chỉ sau bộ não.

Tất cả em bé khi sinh ra đều bị mù màu và không thể tự sản sinh ra nước mắt vì ống dẫn nước mắt chỉ bắt đầu hoạt động khi trẻ được 4 – 13 tuần tuổi.

Cứ 12 người đàn ông thì sẽ có 1 người bị mù màu.

Thấu kính của mắt nhanh hơn so với thấu kính của bất kỳ loaị máy ảnh nào.

Mascara gây tổn thương mắt nhiều nhất trong số các loại mỹ phẩm.

Mắt có khả năng phục hồi đáng kinh ngạc: Nó có thể lọc bụi bẩn và làm lành vết trầy xước giác mạc trong vòng 48 tiếng.

Trong số tất cả các cơ thì cơ có chức năng điều khiển đôi mắt là hoạt động nhiều nhất. Các cơ giúp mắt di chuyển được mạnh hơn gấp 100 lần so với cần thiết.

Chúng ta thường đọc chậm hơn 25 lần khi nhìn chữ trên màn hình máy vi tính so với khi nhìn trên giấy.

Cơ chế hoạt động của mắt

Để hình dung một cách dễ hiểu và đơn giản cơ chế hoạt động các bộ phận của mắt tương tự như cơ thế hoạt động của một chiếc máy chụp ảnh. Để chụp được ảnh, ánh sáng phản xạ từ vật được khúc xạ nhờ vào hệ thống thấu kính và được hội tụ tại phim, ta có được ảnh nhờ quá trình rửa hình.

Cũng như vậy, mắt có hệ “thấu kính” thuộc bán cầu trước nhãn cầu gồm giác mạc, đồng tử và thủy tinh thể. Ánh sáng sau khi được khúc xạ sẽ qua giác mạc, thủy tinh thể và hội tụ trên võng mạc của mắt.

Tại đây tín hiệu ánh sáng được các tế bào cảm thụ ánh sáng trên võng mạc chuyển thành tín hiệu thần kinh. Tiếp đến, tín hiệu sẽ truyền đến não nhờ vào hệ thần kinh thị giác và được nhận là hình ảnh tại não bộ. Đây là cơ chế hoạt động cơ bản của mắt để bạn nhìn thấy một vật nào đó.

Đối với máy ảnh, chúng ta phải điều chỉnh tiêu cự chính xác và mức độ ánh sáng phù hợp, khi ống kính bị bẩn phải lau chùi và bảo dưỡng cẩn thận. Còn thực tế với mắt chúng ta cũng thực hiện những công việc đó nhưng lại thực hiện một cách hoàn toàn tự động.

Cụ thể, để thay đổi tiêu cự thì thủy tinh thể sẽ thay đổi độ cong của mình nhờ vào sự điều khiển của cơ thể mi trong mắt. Chùm ánh sáng được điều khiển cường độ nhờ vào sự co giãn của mống mắt. Các tuyến lệ chính và phụ hoạt động giúp giác mạc được bôi trơn, đây như một cơ chế vệ sinh và bảo vệ tự nhiên mà thượng đế đã ban cho đôi mắt.

Các cơ chế này diễn ra tự động với sự điều khiển vô cùng tinh vi của các cơ chế thần kinh và sự làm việc nhịp nhàng của các thành phần, mà không có một máy ảnh cao cấp nào có thể sánh được.

Thủy tinh thể đóng vai trò quan trọng trong cơ chế hoạt động của mắt

Một lưu ý, vùng quan trọng để nắm bắt và xử lý bước sóng ánh sáng ảnh để có được hình ảnh sắc nét là khu vực điểm vàng, phần trung tâm của võng mạc. Sức khỏe của điểm vàng – nơi chứa lượng lớn tế bào nhận kích thích ánh sáng, quan trọng trong việc đảm nhận lớn của thị trường. Do đó, nếu vùng này bị tổn thương hoặc hư hại, một phần lớn của điểm vàng ở trung tâm sẽ bị mất và thay thế bằng một điểm đen lớn.

Nhiều người có thói quen như đọc sách báo với cự ly gần, sử dụng nhiều thiết bị điện tử làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự toàn vẹn của điểm vàng, do đó để giảm tác hại và tăng cường sức khỏe cho mắt bằng cách có lối sống khoa học, hợp lý.

Nếu tất cả các cấu trúc này được hoạt động với điều kiện sức khỏe tốt và ánh sáng tốt thì hình ảnh được truyền tới não qua dây thần kinh thị giác được tiếp nhận và diễn giải tốt hơn.

Ngoài ra, để mắt điều tiết chống khô rát, các tuyến lệ chính và phụ hoạt động liên tục để bôi trơn giác mạc. Đây là cơ chế vệ sinh tự nhiên của đôi mắt giúp bảo vệ khỏi các tác nhân như khói, bụi, nhiễm khuẩn,….

Cấu Tạo Mắt Và Cơ Chế Hoạt Động Của Mắt

Mắt là cơ quan nhỏ bé nhưng vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Mắt là cơ quan thị giác thực hiện chức năng nhìn, quan sát, thu nhận lại hình ảnh của sự vật, màu sắc để chuyển vào não xử lý và lưu trữ. Cùng tìm hiểu cấu tạo và cơ chế hoạt động của mắt.

Cấu tạo bên ngoài

Nhìn bên ngoài, đôi mắt cơ bản có các bộ phận sau: lông mày, lông mi, mi mắt, tròng trắng, tròng đen…

Mắt là một cơ quan có cấu tạo bên trong hết sức tinh vi trong đó giác mạc, thủy tinh thể và võng mạc là những bộ phận cơ bản để đảm bảo chức năng nhìn của mắt.

Giác mạc

Giác mạc (lòng đen), là một màng trong suốt, rất dai, không có mạch máu có hình chỏm cầu chiếm 1/5 phía trước của vỏ nhãn cầu. Đường kính của giác mạc khoảng 11 mm, bán kính độ cong là 7,7 mm. Chiều dày giác mạc ở trung tâm mỏng hơn ở vùng rìa.

Bán kính cong mặt trước giác mạc tạo thành lực hội tụ khoảng 48,8D, chiếm 2/3 tổng công suất khúc xạ của nhân cầu. Về phương diện tổ chức học giác mạc có 5 lớp, từ ngoài vào trong bao gồm: biểu mô, màng Bowmans, nhu mô, màng Descemet, nội mô.

Mống mắt là vòng sắc tố bao quanh đồng tử, quyết định màu mắt (đen, nâu, xanh..). Đồng tử là lỗ nhỏ màu đen, nằm ở trung tâm của mống mắt. Đồng tử có thể co lại hoặc giãn ra nhờ các cơ nằm trong mống mắt để điều chỉnh lượng ánh sáng vào mắt.

Thủy tinh thể

Thủy tinh thể nằm sau mống mắt. Thủy tinh thể trong suốt làm nhiệm vụ như một thấu kính hội tụ cho ánh sáng đi qua, tập trung các tia sáng đúng vào võng mạc để tạo thành hình ảnh rõ nét, giúp ta có thể nhìn xa gần.

Bán phần sau Dịch kính

Dịch kính là chất dạng gel trong suốt lấp đầy buồng nhãn cầu ở phía sau thể thuỷ tinh. Khối dịch kính chiếm chừng 2/3 thể tích nhãn cầu.

Dây thần kinh thị giác là nơi tập hợp các bó sợi thần kinh có chức năng dẫn truyền các tín hiệu nhận được ở võng mạc giúp ta nhận biết ánh sáng, hình ảnh… Mạch máu võng mạc gồm động mạch và tĩnh mạch trung tâm võng mạc cung cấp chất dinh dưỡng giúp nuôi dưỡng mắt.

Hoàng điểm

Võng mạc là một màng bên trong đáy mắt có nhiệm vụ tiếp nhận ánh sáng từ thủy tinh thể hội tụ lại. Trung tâm võng mạc là hoàng điểm (điểm vàng), nơi tế bào thị giác nhạy cảm nhất giúp nhận diện nội dung, độ sắc nét của hình ảnh.

Thông qua các dây thần kinh thị giác võng mạc sẽ chuyển năng lượng ánh sáng thành tín hiệu thị lực và gửi về trung khu phân tích ở não. Võng mạc có nhiều lớp tế bào, đáng chú ý là lớp tế bào que, tế bào nón và lớp tế bào thần kinh cảm thụ.

Tế bào que, tế bào nón nhận biết hình ảnh, màu sắc. Lớp tế bào biểu mô sắc tố võng mạc giúp nuôi dưỡng và bảo vệ tế bào que, tế bào nón trước tác động gây hại của tia cực tím và ánh sáng xanh chất chuyển hóa gây hại võng mạc.

Để hiểu một cách đơn giản, cơ chế hoạt động của mắt tương tự như cơ chế hoạt động của máy chụp ảnh. Để chụp được ảnh, ánh sáng phản xạ từ vật được khúc xạ qua hệ thống thấu kính và hội tụ tại phim, qua quá trình rửa hình sẽ cho ta các bức ảnh.

Mắt có hệ thấu kính thuộc bán phần trước nhãn cầu bao gồm giác mạc, đồng tử, thủy tinh thể. Ánh sáng vào mắt sau khi được khúc xạ qua giác mạc và thủy tinh thể sẽ hội tụ trên võng mạc của mắt.

Tại đây tín hiệu ánh sáng sẽ được các tế bào cảm thụ ánh sáng trên võng mạc chuyển thành tín hiệu thần kinh. Sau đó, tín hiệu đó được truyền đến não thông qua hệ thần kinh thị giác và được xác nhận là hình ảnh tại não bộ. Đây chính là cơ chế hoạt động của mắt để bạn nhìn thấy một vật nào đó.

Đối với máy ảnh, chúng ta phải điều chỉnh tiêu cự chính xác và mức độ ánh sáng, khi ống kính bị bẩn phải lau chùi và bảo dưỡng cẩn thận.

Trong thực tế mắt chúng ta cũng thực hiện những công việc đó một cách hoàn toàn tự động. Ví dụ, để thay đổi tiêu cự thì thủy tinh thể sẽ thay đổi độ cong của mình dưới sự điều khiển của cơ thể mi trong mắt. Việc điều chỉnh độ co giãn của mống mắt sẽ làm thay đổi kích thước của lỗ đồng tử, từ đó điều khiển cường độ chùm sáng đi vào.

Các tuyến lệ chính và phụ hoạt động giúp cho giác mạc luôn được bôi trơn, nó là một cơ chế vệ sinh và bảo vệ tự nhiên mà tạo hóa ban cho đôi mắt. Các hoạt động này diễn ra tự động dưới sự điều khiển vô cùng tinh vi của các cơ chế thần kinh, mà không một máy ảnh cao cấp nào có thể sánh kịp.

Bác sĩ Chuyên khoa II. Đặng Đức Khánh Tiên

Bệnh viện Mắt Sài Gòn