Tuyến Yên Có Cấu Tạo Như Thế Nào / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Cấu Tạo Tuyến Yên Và Các Hoocmôn Của Tuyến Yên

Tuyến yên là một tuyến nhỏ nằm ở mặt dưới đại não (nên còn gọi là tuyến mấu não dưới) trên xương yên (nên gọi là tuyến yên). Ở người có kích thước trung bình 1 cm x 1,5 cm x 0,5 cm, nặng 5 gam. Ở động vật khối lượng này thay đổi tuỳ loài và theo mùa. Ở người và gia súc trong thơì gian có chửa tuyến nở to ra.Tuyến yên có 3 thuỳ là thuỳ trước, thuỳ giữa và thuỳ sau. Thuỳ trước là thuỳ tuyến, gồm 3 loại tế bào tuyến :Tế bào ái toan chiếm 40%.Tế bào ái kiềm chiếm 10%. Tế bào không bắt màu chiếm 50%. Thuỳ giữa gồm những tổ chức gian chất. Thuỳ sau là thuỳ thần kinh.

1. Thần kinh và mạch máu chi phối tuyến yên

a. Thần kinh chi phối tuyến yên xuất phát từ 3 nguồn

– Sợi thần kinh giao cảm từ bó thần kinh giao cảm cổ. Sợi này thông qua cuống tuyến yên theo động mạch vào tuyến yên phân bố đến cả thuỳ trước và thuỳ sau. Nhiều người cho rằng chúng là thần kinh vận mạch chứ không phải thần kinh tiết.

– Sợi thần kinh phó giao cảm từ thần kinh mặt đến. Sợi này sau khi vào tuyến yên cũng phân bố đến thuỳ trước và thuỳ sau. Song tác dụng điều hoà đến hoạt động tiết cũng rất ít.

– Sợi phát xuất trực tiếp từ các nhân ở vùng dưới đồi (nhân bên buồng và nhân trên thị) qua cuống tuyến yên đi xuống tuyến yên hình thành bó thần kinh vùng dưới đồi tuyến yên. chúng phân bố chủ yếu vào thuỳ sau, chỉ có một số sợi vào thuỳ giữa mà không vào thuỳ trước.

Sự cung cấp màu cho thuỳ tuyến thì rất nhiều nhưng cho thuỳ thần kinh thì rất ít. Máu động mạch xuất phát từ động mạch cổ trong phân nhánh đến tuyến yên, còn máu tĩnh mạch thì từ tuyến yên đi ra trực tiếp đổ vào gần xoang màng não cứng.Trong tuyến yên còn có một hệ thống tĩnh mạch cửa (tựa như ở gan gọi là tĩnh mạch cửa tuyến yên – tĩnh mạch corpa). Chúng bắt nguồn từ vùng dưới đồi theo cuống tuyên yên đi xuống phân nhánh dày đặc và đi vào thuỳ trước. Hệ tĩnh mạch cửa này có ý nghĩa quan trọng trọng việc vận chuyển các yếu tố giải phóng RF từ vùng dưới đồi xuống thuỳ trước và thuỳ giữa để điều hoà hoạt động của thuỳ trước và thuỳ giữa.

Mỗi thuỳ tiết ra những hormon khác nhau và có chức năng sinh lý khác nhau.

Thuỳ trước tuyến yên tiết ra các hormone sau đây: STH, TSH, ACTH, GH (FSH, LH, LTH), mỗi loại có cấu trúc và tác dụng sinh lý khác nhau.

a. Somatotropin hormon (STH)

STH còn gọi là kích sinh trưởng tố với tác dụng chính của nó là kích thích sự sinh trưởng của cơ thể. Nó gồm 245 amino acid sắp xếp trên một mạch polypetid. Trọng lượng phân tử TSH khác nhau tuỳ loài. Ví dụ cừu 48.000, bò 45.000, người và khỉ 21.000. Cần chú ý là giữa các loài có sự khác nhau về phương diện miễn dịnh, nên STH của loài này không có tác dụng đối với loài khác. Nó dễ bị thuỷ phân khi gặp acid mạnh và gặp các enzyme tiêu hoá.

Tác dụng sinh lý của Somatotropin hormon (STH)

– Kích thích sự phát triển của cơ thể non đang lớn

Kích thích sự phát triển của cơ thể non đang lớn được thông qua cơ chế làm tăng đồng hoá protein ở mô bào, gây cân bằng dương nitơ, thể hiện mấy điểm sau đây: Kích thích vận chuyển amino acid qua màng tế bào. Tăng tổng hợp RNA thông tin từ đó tăng tổng hợp protein. Nếu STH tiết quá nhiều súc vật non mang chứng phát triển khổng lồ. Còn đối với gia súc trưởng thành (khi đã hoàn thành sự cốt hoá xương) sẽ dẫn đến chứng to đầu ngón các bộ phận như đầu, hàm dưới, bàn chân, bàn tay to ra, các phủ tạng như: tim, gan, ruột già cũng bị nở to. Song nhược năng tuyến yên trước tuổi trưởng thành thì cơ thể sẽ lùn bé. Nhược năng sau tuổi trưởng thành cơ thể mắc bệnh, gọi là bệnh ximông (simmonds) và bệnh này hay xảy ra ở người. Người bệnh bị gầy đét, teo bộ phận sinh dục, tóc, lông rụng chuyển hoá cơ thể giảm, sút cân, thân nhiệt giảm, tim đập chậm, huyết áp hạ, giảm đường huyết trầm trọng.

– Thúc đẩy sự phân giải mỡ

Làm giải phóng những acid béo không đặc trưng từ kho mỡ, thúc đẩy oxy hoá acid béo.

Nếu STH tiết nhiều sẽ gây chứng toan huyết và toan niệu. Đối với trao đổi đường thì STH gây tăng đường huyết và bị mất theo nước tiểu phát sinh bệnh đái đường. STH một mặt ức chế tế bào β của đảo tuy làm giảm tiết insulin, mặt khác ức chế hoạt tính enzyme hexokinase làm giảm sự phosphoryl hoá glucose khiến glucose khó vận chuyển qua màng tế bào vào trong tế bào gan để tổng hợp thành glycogen dự trữ.

– Điều hoà trao đổi Ca, P

Thông qua cơ chế điều hoà Ca và P mà hormone này có tác dụng xúc tiến tạo xương.

b. Thyroid-stimulating hormone (TSH)

TSH còn gọi là kích giáp trạng tố, vì tác dụng chủ yếu của nó là lên sự phát dục và hoạt động của tuyến giáp. TSH là một glycoprotein có chứa S và chứa 2 phân tử đường. Trọng lượng phân tử là 28.000.

Tác dụng sinh lý TSH kích thích sự phát dục của tuyến giáp trạng và kích thích tuyến giáp tiết thyroxine.

Dưới ảnh hưởng của TSH, mô tuyến giáp nở to, xuất hiện nhiều hạt keo trong bao tuyến. Ngày nay người ta thấy TSH có tác dụng lên suốt cả quá trình tạo hợp thyroxine từ khâu kết hợp Iod với thyroxine cho đến khâu giải phóng thyroxine ra khỏi phức hợp thyreo-globulin, nhập vào dòng máu để đi gây tác dụng.

c. Adrenal-corticotropin hormon (ACTH)

ACTH còn gọi là kích thượng thận bì tố, vì nó ảnh hưởng chủ yếu của nó lên sự phát dục và hoạt động của vỏ thượng thận. ACTH của nhiều loại động vật đã được phân lập. Tất cả đều có cấu tạo là một mạch polypeptid gồm 39 amino acid. Người ta thấy rằng chỉ 24 amino acid đầu là cần thiết cho hoạt tính của hormone. Trình tự sắp xếp 24 amino acid đầu này giống nhau giữa các loài (kể cả người). 15 amino acid còn lại không có hoạt tính rõ rệt và thay đổi tuỳ loài. Cấu trúc ACTH đã được Lee tìm ra 1961.

ACTH là kích thích sự phát dục của miền vỏ tuyến thượng thận, chủ yếu là lớp dậu và kích thích lớp dậu tiết các hormone glucocorticoid. Trên lâm sàng các bệnh nhược năng tuyến yên đều có kèm theo triệu chứng nhược năng vỏ thượng thận. Ngược lại các bệnh ưu năng tuyến yên đều có kèm theo triệu chứng ưu năng vỏ thượng thận.

Tiêm ACTH cho động vật thí nghiệm

ACTH làm tăng bài tiết các hormon glucocorticoid của vỏ thượng thận từ đó gây nên tăng đường huyết, tăng huy động mỡ, tăng đào thải mỡ qua nước tiểu, tăng ứ đọng Na và H 2 O, tăng bài tiết K, giảm lượng bạch cầu ái toan trong máu tuần hoàn, giảm chứng viêm, tăng bài tiết các hormon sinh dục, đặc biệt là hormon sinh dục đực, tăng khối lượng máu tuần hoàn đến thận, làm nở to vỏ thượng thận

Tác dụng của ACTH chủ yếu thông qua hormon của vỏ thượng thận. Ngày nay qua một số thí nghiệm có tác giả cho rằng ở một chừng mực nhất định, tác dụng của ACTH lên cơ thể có thể trực tiếp không qua vỏ thượng thận.

d. Gonado-tropin hormon (GH)

Gonado-tropin hormon là kích tố hướng sinh dục nó bao gồm các hormon sau đây:

FSH (foliculo-stimulating hormon); LH (luteinizing hormon) và ở con đực gọi là ICSH; LTH (luteino-stimulating hormon) ở con cái.

Foliculo-stimulating hormon (FSH)

FSH còn gọi là kích noãn bào tố, nó là một glucoprotein, phân tử lượng 25.000 – 30.000 gồm 250 amino acid trong đó giàu cystine. Ở con cái: tác dụng sinh lý của FSH là kích thích sự phát triển của noãn bào đến dạng chín gọi là nang. Graaf nổi cộm lên trên mặt buồng trứng, kích thích noãn bào tiết noãn tố estrogen. Ở con đực, FSH có tác dụng kích thích sự phát dục của ống sinh tinh và các tế bào sertoli ở ống sinh tinh sản sinh ra tinh trùng.

Còn gọi là kích sinh hoàng thể tố. Nó có cấu trúc là glucoprotein, phân tử lượng 30.000 – 40.000, bao gồm 250 amino acid. Ở con cái: LH cùng với FSH thúc đẩy noãn bào chín và tiết nhiều kích tố sinh dục cái estrogen. LH còn có tác dụng làm mọng chín màng noãn bào, bằng cách kích thích tăng bài tiết dịch vào trong xoang bao noãn. Khi đạt đến một áp lực lớn thì làm vỡ noãn bào gây trứng rụng. Sau khi trứng rụng LH kích thích biến bao noãn bào còn lại thành thể vàng và kích thích thể vàng tiết hoàng thể tố progesterone.

FSH chỉ có tác dụng làm trứng chín không làm trứng rụng, muốn trứng chín rụng được phải có LH. Qua nhiều nghiên cứu muốn cho trứng chín và rụng được thì tỷ lệ LH/FSH phải bằng 3/1 đó là điểm mấu chốt giải thích những hiện tượng chậm sinh, vô sinh ở gia súc.

Chậm sinh là trường hợp gia súc đạt tuổi thành thục về tính quá muộn biểu hiện tuổi xuất hiện động dục muộn, do lượng FSH quá ít, không đủ làm trứng chín để tiết đủ noãn tố oestroren gây động dục.

Còn vô sinh có hai trường hợp: – Có động dục mà không có rụng trứng, còn gọi là động dục giả; do đủ lượng FSH để làm noãn bào chín tiết đủ oestroren gây động dục nhưng không đủ lượng LH nên không làm trứng rụng được. Mãi mãi vẫn không có động dục: do không đủ lượng FSH không làm cho noãn bào chín nên không gây được động dục.

Ở con đực, tương đương với LH của con cái có ICSH còn gọi là hormon kích thích tế bào kẽ. ICSH kích thích sự phát triển của tế bào kẽ leydig, ở giữa các ống sinh tinh và kích thích tế bào này tiết ra hormon sinh dục đực androgen.

Lutein-stimulating hormon (LTH)

LTH có cấu trúc mạch polypeptid, phân tử lượng 26.000, bao gồm 211 amino acid giàu xerine. Nó còn được gọi là kích tố dưỡng thể vàng. Sau khi trứng rụng có hai trường hợp xảy ra:

– Nếu trứng rụng mà được thụ tinh thì bao noãn còn lại biến thành thể vàng và tiết một lượng progesterone đầu tiên dưới tác dụng của LH. Sau đó LTH duy trì thể vàng và tiếp tục kích thích thể vàng tiết progesterone.

– Với hàm lượng cao progesterone và oestrogen tạo một mối liên hệ người âm tính ức chế lại vùng dưới đồi và tuyến yên làm giảm tiết FSH và LH khiến cho những noãn bào khác không tiếp tục phát triển đến độ chín và do vậy làm cho lượng oestrogen giảm xuống, do đó con vật sau khi trứng rụng mà được thụ tinh thì không còn có hiện tượng động dục nữa.

– Nếu trứng rụng mà không được thụ tinh thì sau thì vào ngày thứ 17 của chu kỳ động dục ở phần lớn gia súc, lớp tế bào nội tiết ở nội mạc tử cung tiết hormon prostaglanding-F2α và làm thể vàng bị teo biến đi thành một vết sẹo màu trắng bạc gọi là bạch thể.

Lượng progesterone giảm nhanh chóng khiến việc tiết FSH và LH không còn bị ức chế nữa, những noãn bào khác tiếp tục phát triển đến độ chín và một chu kỳ động dục khác lại xuất hiện.

– Ngay sau đẻ LTH mang tên prolactin, có tác dụng kích thích sự tiết sữa vào xoang sữa để cùng với oxytocin gây thải sữa ra ngoài.

Thuỳ giữa tuyến yên tiết ra một hormon có tên là melanin-stimulating hormon (MSH) còn gọi là kích tố giãn hắc bào. Dưới tác dụng của MSH những hạt sắc tố đen trong bào tương của tế bào biểu bì da từ dạng tập trung sẽ phân tán khắp bào tương làm cho da đen lại.

Ở con ếch, nhờ có MSH mà biến đổi màu da thường xuyên, để phù hợp với đời sống của nó. Khi nằm trong hang thì những hạt sắc tố tập trung lại trong bào tương làm da tái nhạt. Nhưng khi nó ra ở ngoài thì thuỳ giữa tuyến yên tiết ra MSH làm cho da của nó biến thành màu sẫm như màu cỏ cây, có tác dụng bảo vệ. Người ta cho rằng MSH chỉ làm phân tán các sắc tố, còn tập trung lại các sắc tố là do adrenaline.

Ở người đang nắng cả ngày, da đen rám nắng, cũng do tác dụng của MSH để ngăn cản sự xâm nhập sâu vào cơ thể của tia hồng ngoại mặt trời kể cả tia tử ngoại.

Thuỳ sau tuyến yên tiết ra 2 hormon là (1)Antidiuretic hormon (ADH) và (2) oxytocin. Antidiuretic hormon (ADH): còn có tên vasopressin, còn được gọi là kích tố kháng lợi niệu. Cấu trúc của nó là một mạch peptit gồm 9 amino acid, phân tử lượng là 1.102. Tác dụng sinh lý chính của ADH là thúc đẩy quá trình tái hấp thu chủ động nước ở ống thận nhỏ để chống lại sự mất nhiều nước theo nước tiểu, giữ nước lại cho cơ thể. Tác dụng thứa hai của ADH là gây co mạch làm tăng huyết áp (trừ mạch máu não và thận) vì thế nó còn có tên vasopressin. Hai hormon này đều do thuỳ sau tuyến yên (Posterior pituitery gland) tiết ra, chỉ khác nhau ở hai gốc acid amin ở vị trí số 3 và số 8, nhưng chức năng sinh lý lại rất khác nhau.

Antidiuretic hormon (ADH), còn có tên vasopressin

Oxytocin còn gọi là hormon thúc đẻ. Công thức hoá học của nó cũng là một mạch peptit gồm 9 amino acid và phân tử lượng là 1025.

Tác dụng sinh lý chính của oxytocin là gây co bóp cơ trơn tử cung có tác dụng thúc để đẩy thai ra ngoài trong quá trình đẻ. Một tác dụng khác không kém phần quan trọng của oxytocin là kích thích sự bài tiết sữa. Nó cũng có ảnh hưởng nhẹ lên sự co bóp của cơ trơn bóng đái và cơ ruột. Oxytocin còn gây co mạch máu tử cung làm hạn chế chảy máu sau khi đẻ.

III. Mối liên hệ điều hoà giữa vùng dưới đồi – tuyến – yên – các tuyến nội tiết đích hoặc cơ quan đích

Ở trên chúng ta đã nói về giữa vùng dưới đồi và tuyến yên, có một mối quan hệ chặt chẽ về mặt giải phẫu. Mối quan hệ đó đảm bảo mối quan hệ chức năng mật thiết giữa chúng và cùng với các tuyến nội tiết đích hoặc cơ quan đích khác tạo thành một hệ thống điều hoà quan trọng trong hoạt động nội môi.

Qua bảng trên chúng ta thấy, vùng dưới đồi đã tiết ra yếu tố giải phóng RF (dưới ảnh hưởng của những nhân tố nội, ngoại cảnh) xuống kích thích tuyến yên tiết những hormon tương ứng. Rồi những hormon này tác dụng lên những tuyến đích hoặc cơ quan đích tiết hormon của mình hoặc cơ quan đích phát triển.Tuy nhiên mối liên hệ này vừa thuận vừa nghịch, trong đó mối liên hệ ngược chiếm một vị trí quan trọng đảm bảo điều hoà tiết chế trong nội bộ của hệ thống điều hoà gọi là cơ chế điều khiển ngược (feedback mechanism). Sơ đồ trên hình 9.1, với các mũi tên chỉ sự điều khiển ngược vòng dài (1), vòng ngắn (2) và vòng cực ngắn (3).

Riêng đối với LTH có một yếu tố giải phóng PRF và cả yếu tố ức chế PIF chi phối cũng như đối với MSH có cả MRF và MIF chi phối. ADH và Oxytocin, theo những nghiên cứu gần đây thì chúng được tiết ra từ các nhân bên buồng và trên thị ở vùng dưới đồi, rồi trượt theo các sợi thần kinh xuống đọng lại ở các bọc tận cùng của thuỳ sau tuyến yên khi cần, các bọc ấy vỡ ra, phóng thích những hormon vào dòng máu chung để đi gây tác dụng.

Pin Laptop Có Cấu Tạo Như Thế Nào?

Cấu tạo của pin laptop gồm 3 phần: Vỏ pin, cell pin và mạch bảo vệ. Trong đó cell pin có vai trò lưu trữ điện, còn mạch bảo vệ phụ trách tính an toàn của pin laptop.

Vỏ pin laptop là một phần thân ngoài của pin laptop. Vỏ pin laptop không chỉ có nhiệm vụ bảo vệ mạch và cell pin bên trong mà còn mang tính thẩm mỹ không thể thiếu. Chính vì thế mỗi dòng laptop sẽ được thiết kế một vỏ pin riêng phù hợp cho từng loại máy. Chúng tạo thành một khối gắn kết chặt chẽ với nhau như chúng ta vẫn thường thấy. Vỏ pin cũng là nơi để nhà sản xuất in nhãn hiệu và tham số của pin ví dụ như: Điện thế, mã pin, công suất pin….

Cell pin là các viên pin nhỏ bên trong pin laptop. Cell pin là thành phần quan trọng quyết định chất lượng pin của bạn tốt hay. Như chúng ta đã biết trên pin laptop thường được nhà sản xuất ghi các thông số như là 4 cell, 6 cell, 9 cell hoặc 12 cell. Cell pin thực chất là một cục pin li-ion được hàn chặt lại với nhau thành từng cặp một mắc nối tiếp hoặc song song. Mỗi một cell pin là 1 cục pin Li-ion hình trụ đường kính 18mm, cao 65mm, điện thế 3,6 – 3,7V, dung lượng 2200 – 2600mah

Ví dụ: Pin laptop của bạn có thông số là 6cell thì bạn có thể dùng được từ 2 giờ đến 2 giờ 30 phút.

Cell pin là thành phần rất dễ hư hỏng, mỗi một lần chúng ta xả sạc sẽ dẫn đến việc suy giảm dung lượng của cell, chính vì thế chất lượng cell ảnh hưởng trực tiếp

Cell pin là thành phần dễ hư hao, mỗi lần chúng ta sạc xả sẽ dẫn đến suy giảm dung lượng của cell, vì vậy chất lượng cell ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ của pin laptop.

Thành phần quan trọng và phức tạp nhất trong cấu tạo pin laptop chính là mạch pin. Cũng giống như vỏ pin, mỗi một mạch pin sẽ được sản xuất cho những dòng máy khác nhau. Chức năng chính của mạc pin là tính toàn và kiểm soát dung lượng pin cũng như là khả năng sạc pin, giúp bạn không sạc quá đầy pin, không xả pin xuống quá thấp hoặc bảo vệ pin khi phần tải bị đoản mạch.

Chống sạc pin đầy khi điện áp vượt ngưỡng 4.26V (mạch sẽ ngắt pin ra khỏi nguồn sạc và đóng mạch trở lại khi bạn ngừng sạc).

Ngắt tải khi quá dòng tiêu thụ cho phép hoặc đoản mạch (dòng xả max 4A).

Dòng dò là 4uA, điện áp rời trong mạch tại 1A – 2.9V là khoảng chừng 30mV.

Không giống như cell pin có thể thay thế được dễ dàng, mạch bảo vệ của dòng máy nào thì chỉ tương ứng với dòng máy ấy mà thôi.

Cấu Trúc Hàm Răng Có Cấu Tạo Như Thế Nào?

Cấu trúc hàm răng có vai trò cấu tạo nên bộ phận đảm nhận chức năng ăn nhai của con người và góp phần vào việc xây dựng tính thẩm mỹ cho gương mặt. Vì thế, nắm bắt được thành phần cấu trúc và đặc điểm của răng sẽ giúp chúng ta có kiến thức nền về răng miệng tổng quát, góp phần chăm sóc răng miệng tốt hơn.

Cấu trúc hàm răng của con người có sự khác biệt giữa các độ tuổi, điển hình là sự khác biệt giữa trẻ em và người trưởng thành. Sự khác biệt này được định nghĩa bởi hai cấu trúc khác biệt giữa răng sữa và răng vĩnh viễn. Tuy có khác nhau về số lượng và cấu trúc, nhưng nhìn chung thì răng sữa và răng vĩnh viễn đều giống nhau về hình thể giải phẫu.

1. Răng sữa và răng vĩnh viễn

Răng sữa là bộ răng xuất hiện trong thời gian con người là một đứa trẻ có độ tuổi từ 5 tháng tuổi cho đến lúc 3 tuổi. Ở giai đoạn này, cấu trúc hàm răng của trẻ sẽ được trang bị đầy đủ 20 chiếc răng sữa để đảm bảo chức năng phát âm và ăn nhai. Răng sữa sẽ duy trì và có dấu hiệu lung lay dần khi trẻ trong độ tuổi từ 4 đến 8 tuổi. Từ lứa tuổi đó về sau, răng sữa của trẻ sẽ được thay thế thành răng vĩnh viễn, phát triển với 32 chiếc răng.

                        Cấu trúc hàm răng sữa và cấu trúc hàm răng vĩnh viễn 

2 răng cửa giữa hàm trên  

4 răng cửa giữa  

2 răng cửa giữa hàm dưới   4 răng cửa bên  

2 răng cửa bên hàm dưới   4 răng nanh hai hàm  

2 răng cửa bên hàm trên   4 răng cối nhỏ thứ 1  

4 răng nanh hai hàm    4 răng cối nhỏ thứ 2  

4 răng cối sữa thứ 1   4 răng cối lớn thứ 1  

4 răng cối sữa thứ 2   4 răng cối lớn thứ 2  

4 răng khôn hai hàm 

2. Hình thể giải phẫu răng

Hình thể giải phẫu răng có thể bao gồm thân răng, phần cổ răng và chân răng. Phần thân răng có vị trí ở bên trên, đảm nhận vai trò ăn nhai trực tiếp và có thể quan sát lâm sàn. Còn phần chân răng là phần nằm dưới đường nướu và xương hàm, không thể quan sát bằng mắt thường như phần thân răng.

2.1 Thân răng

Phần thân răng sẽ bao gồm các mặt chính như sau:

Mặt nhai: răng hàm

Rìa cắn: răng cửa trước

Mặt tiếp xúc má và môi: răng hàm, răng cửa trước

Mặt tiếp xúc vòm miệng và lưỡi: răng hàm trên, răng hàm dưới

2.2 Chân răng

2.2.1 Đối với răng vĩnh viễn

Răng có 1 chân: răng cửa, răng nanh, các răng hàm nhỏ hàm dưới, răng hàm nhỏ thứ hai hàm trên

Răng có 2 chân: răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên, răng hàm lớn thứ nhất và răng hàm lớn thứ hai hàm dưới

Răng có 3 chân răng: răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai hàm trên

Răng có số chân bất định: răng khôn

2.2.2 Đối với răng sữa

Răng có 1 chân: răng cửa, răng nanh

Răng có 2 chân: răng hàm dưới

Răng có 3 chân: răng hàm trên

3. Cấu trúc của răng

Phần lớn cấu tạo của răng được cấu thành bởi 3 bộ phận chính là men răng, ngà răng và tủy răng. Men răng là phần bên trên của răng, bao phủ toàn bộ thân răng và có thể quan sát lâm sàn. Trong khi đó, ngà răng là lớp dưới men răng và tủy răng thì nằm trong phần thân và chân răng.

3.1 Men răng

Là bộ phận nằm ở phần ngoài cùng của răng, có tính chất cứng, không màu và trong suốt, bao phủ toàn bộ phần thân răng. Thành phần chính của men răng bao ồm 96% chất vô cơ, chủ yếu là Hydroxy apatit, 3% là nước và 1% hữu cơ. Thông thường thì men răng không có các dây thần kinh nên khi men răng bị tổn thương, chúng ta sẽ không có cảm giác gì để nhận biết.

3.2 Ngà răng

Là bộ phận nằm ở phía dưới men răng, xuất hiện ở thân, cổ, chân răng, kéo dài đến chóp răng, chứa buồng tủy và ống tủy. Ngà răng có tính chất mềm hơn men răng, có màu kem và chứa các ống thần kinh Tomes. Vì lý do đó, khi răng có những tổn thương đến ngà răng sẽ có cảm giác đau và phản ứng khi gặp nhiệt độ. Thành phần chủ yếu của ngà răng là 70% chất vô cơ, 30% chất hữu cơ và nước.

3.3 Tủy răng

Là thành phần nằm dưới men răng và ngà răng, chứa các dây thần kinh, mạch máu, mạch bạch huyết và có vai trò quan trọng nhất trong phần răng. Tủy răng có nhiệm vụ nuôi giữ sự hình thành và phát triển của răng, vì thế nếu xuất hiện các chấn thương tủy thì chúng ta sẽ có cảm giác đau đớn và ê buốt. 

⏩ Vậy là chúng ta đã hiểu rõ kỹ càng cấu trúc hàm răng của con người, sự khác biệt giữa hàm răng sữa và hàm răng vĩnh viễn. Ngoài ra, hình thể giải phẫu răng cũng như các thành phần cấu tạo nên một chiếc răng cũng được tìm hiểu cặn kẽ. Qua đó, việc hiểu rõ cấu trúc hàm răng của chính mình sẽ nâng cao nhận thức sức khỏe răng miệng của mình tốt hơn.

Máy Phát Điện Có Cấu Tạo Như Thế Nào

Máy phát điện là thiết bị hữu ích cung cấp điện trong lúc thiếu điện, ngăn chặn sự gián đoạn hoạt động hàng ngày hoặc gián đoạn hoạt động kinh doanh. Trong các phần sau, chúng ta sẽ xem xét các thành phần chính của một và làm thế nào một máy phát điện hoạt động như một nguồn năng lượng điện thứ cấp trong các ứng dụng dân cư và công nghiệp.

Các thành phần chính của một máy phát điện

Các thành phần chính của một máy phát điện có thể được phân loại như sau (xem minh họa ở trên):

(1) Động cơ

(2) Đầu phát

(3) Hệ thống nhiên liệu

(4) Ổn áp

(5) Hệ thống làm mát và hệ thống xả (6)

(7) Bộ nạp ắc-quy

(8) Control Panel hay thiết bị điều khiển

(9) Kết cấu khung chính Mô tả hoạt động các thành phần chính của một máy phát điện Động cơ

a)Động cơ:

Là nguồn năng lượng cơ học đầu vào của máy phát điện. Kích thước của động cơ tỷ lệ thuận với sản lượng điện tối đa các máy phát điện có thể cung cấp. Có một số yếu tố cần phải ghi nhớ khi đánh giá động cơ máy phát điện. Nhà sản xuất động cơ cần tư vấn để có được thông số kỹ thuật hoạt động và lịch trình bảo trì.

MÁY PHÁT ĐIỆN sử dụng nhiều loại nhiên liệu đầu vào khác nhau như: diesel, xăng, propan (ở dạng lỏng hoặc khí), và khí thiên nhiên được phân phối bởi công ty máy phát điện tphcm như Võ Gia. Động cơ nhỏ thường hoạt động bằng xăng trong khi động cơ lớn hơn chạy dầu diezen, propan lỏng, khí propane, hoặc khí tự nhiên. Một số máy phát cũng có thể hoạt động dựa trên một nguồn dữ liệu kép, nhiên liệu diesel và khí đốt.

b) Máy phát điện xoay chiều

Nó là một phần của các máy phát điện, sản xuất điện từ nhiên liệu cơ học được cung cấp. Bao gồm một tập hợp các bộ phận tĩnh và các phần có thể di chuyển được. Các phần làm việc với nhau, tạo ra chuyển động tương đối giữa từ trường và điện, do đó tạo ra điện.

Stato / phần cảm – Đây là thành phần không thể di chuyển. Nó gồm một tập hợp các dây dẫn điện quấn lại thành dạng cuộn trên một lõi sắt.

Roto / Phần ứng – Đây là thành phần chuyển động tạo ra một từ trường quay, trong ba cách sau đây: Cảm ứng – được biết đến như bộ dao điện không tiếp xúc trượt và thường được sử dụng trong các máy phát điện lớn.

– Nam châm vĩnh cửu – phổ biến trong các máy phát điện nhỏ

– Bộ kích thích – Kích thích bằng dòng điện 1 chiều nhỏ để thêm sinh lực cho Roto thông qua một tập hợp các vòng tiếp điện và chổi điện.

– Roto tạo ra sự di chuyển từ xung quanh stato, từ đó tạo ra sự khác biệt điện áp giữa các cuộn dây của stato. Điều này tạo ra dòng cảm ứng bên trong máy phát điện.

Tham khảo Các dòng sản phẩm máy phát điện công nghiệp nhập khẩu khác mà Võ Gia cung cấp:

Máy phát điện Mitsubishi được nhập khẩu từ Nhật Bản.

Máy phát điện Cummins được nhập khẩu từ Mỹ. Võ Gia là đại diện Cummins Việt Nam được ủy quyền.

Máy phát điên Weichai được nhâp khẩu từ Trung Quốc.

Máy phát điện Hyundai được nhập khẩu từ Hàn Quốc.

Máy phát điện Perkins được nhập khẩu từ Anh .

Máy phát điện Doosan được nhập khẩu từ Hàn Quốc…..

Chúng tôi là nhà phân phối máy phát điện tại tphcm, máy phát điện tại Đà Nẵng hàng đầu.

– Vỏ máy kim loại so với vỏ nhựa – Một thiết kế bằng kim loại đảm bảo độ bền của máy phát điện. Vỏ nhựa dễ bị biến dạng theo thời gian, và các bộ phận chuyển động phát điện có thể lộ ra bên ngoài. Điều này làm tăng sự hao mòn và quan trọng hơn, gây nguy hiểm cho người sử dụng.

– Ổ bi so với ổ kim – ổ bi được ưa chuộng hơn và có tuổi thọ kéo dài hơn.

– Không có chổi điện – phát điện mà không sử dụng chổi điện đòi hỏi bảo trì ít hơn và tạo ra năng lượng sạch hơn.

c) Hệ thống nhiên liệu

Bình nhiên liệu thường đủ năng lực để giữ cho máy phát điện hoạt động từ 6 đến 8 giờ trên mức trung bình. Đối với các máy phát điện nhỏ, bồn chứa nhiên liệu là một phần đế trượt của máy phát điện hoặc được lắp trên khung máy phát điện. Đối với các máy phát điện thương mại, có thể cần xây dựng và cài đặt thêm một bình chứa nhiên liệu bên ngoài.

Các tính năng thông thường của hệ thống nhiên liệu bao gồm những điều sau đây:

– Ống nối từ bồn chứa nhiên liệu đến động cơ – Dòng cung cấp hướng dẫn nhiên liệu vào và ra động cơ.

– Ống thông gió bình nhiên liệu – Các bồn chứa nhiên liệu có một đường ống thông gió, để ngăn chặn sự gia tăng áp lực, hoặc chân không trong quá trình bơm và hệ thống thoát nước của bể chứa. Khi bạn nạp đầy bình nhiên liệu, đảm bảo sự tiếp xúc khô giữa vòi phun phụ, và bể nhiên liệu để ngăn ngừa tia lửa có thể gây hỏa hoạn.

– Kết nối tràn từ bồn chứa nhiên liệu đến các đường ống cống – Đây là yêu cầu để khi bị tràn trong quá trình bơm, nhiên liệu không làm đổ chất lỏng lên máy phát điện.

– Bơm nhiên liệu – nhiên liệu chuyển từ bể chứa chính (lưu trữ nhiên liệu, đặc biệt quan trọng đối với các tổ chức thương mại) vào bể chứa trong ngày (Nơi rót nhiên liệu vào máy). Các máy bơm nhiên liệu thông thường hoạt động bằng điện.

– Bình lọc nhiên liệu, tách nước và vật lạ trong nhiên liệu lỏng, để bảo vệ các thành phần khác của máy phát điện khỏi sự ăn mòn và chất bẩn gây tắc nghẽn.

– Kim phun – Phun chất lỏng nhiên liệu dưới dạng phun sương vào buồng đốt động cơ.

g) Ổn áp

Ổn áp: Chuyển đổi điện áp xoay chiều AC thành dòng điện 1 chiều DC. Điều chỉnh một phần nhỏ điện áp đầu ra thành điện áp xoay chều và chuyển đổi nó thành dòng điện một chiều. Điều chỉnh điện áp dòng điện 1 chiều DC tập hợp trong cuộn dây thứ cấp của stato, được gọi là cuộn dây kích thích.

Cuộn dây kích thích: Chuyển đổi dòng điện 1 chiều DC thành dòng điện xoay chiều AC – Các cuộn dây kích thích có chức năng tương tự như các cuộn dây stato chính và tạo ra dòng điện xoay chiều nhỏ. Các cuộn dây kích thích được kết nối với các đơn vị được gọi là chỉnh lưu quay.

Bộ chỉnh lưu quay: Chuyển đổi dòng điện 1 chiều thành dòng điện xoay chiều – Chỉnh lưu các dòng xoay chiều phát sinh bởi các cuộn dây kích thích, và chuyển đổi nó thành dòng điện một chiều. Dòng điện 1 chiều này cung cấp cho Roto / phần ứng tạo ra một trường điện từ, ngoài từ trường quay của roto.

Roto / Phần ứng: Chuyển đổi dòng điện 1 chiều thành dòng xoay chiều. Roto sinh ra dòng điện xoay chiều lớn hơn xung quanh cuộn dây stato, các máy phát điện công nghiệp hiện nay sản xuất một điện thế xoay chiều AC lớn hơn ở đầu ra.

Chu kỳ này tiếp tục cho đến khi máy phát điện bắt đầu sản xuất điện áp đầu ra tương đương với khả năng điều hành đầy đủ của nó. Đầu ra của máy phát điện tăng, nó điều chỉnh điện áp sản xuất ra ít dòng điện 1 chiều hơn. Một khi máy phát điện đạt công suất hoạt động đầy đủ, điều chỉnh điện áp đạt đến một trạng thái thăng bằng, và tạo ra dòng 1 chiều đủ để duy trì sản lượng của máy phát điện ở mức độ hoạt động đầy đủ. Khi bạn thêm một tải, sản lượng điện áp sẽ bị thấp xuống một chút. Điều này nhắc nhở việc điều chỉnh điện áp và bắt đầu lại chu kỳ trên. Chu kỳ tiếp tục cho đến khi máy phát điện dốc đầu ra, để điều hành công suất đầy đủ của nó.

h) Hệ thống làm má

Liên tục sử dụng hệ thống làm lạnh có thể làm nóng các thành phần khác nhau của máy phát điện. Máy phát điện cần thiết có một hệ thống làm mát, và thông gió thu hồi nhiệt sinh ra trong quá trình.

Nước chưa xử lý / nước sạch đôi khi được sử dụng như một chất làm mát cho máy phát điện. Hydrogen đôi khi được sử dụng như một chất làm mát, cho các cuộn dây stato máy phát điện lớn, vì nó rất hiệu quả trong hấp thụ nhiệt. Hydrogen loại bỏ nhiệt từ máy phát điện, và chuyển qua một bộ trao đổi nhiệt, vào một mạch làm mát thứ cấp, có chứa nước khoáng như một chất làm mát. Đây là lý do tại sao máy phát điện có kích thước rất lớn. Đối với tất cả các ứng dụng phổ biến khác, dân cư và công nghiệp, một tiêu chuẩn tản nhiệt và quạt được gắn trên các máy phát điện và các công trình như hệ thống làm mát chính.

Cần thiết để kiểm tra mức nước làm mát của máy phát điện trên cơ sở hàng ngày. Hệ thống làm mát và bơm nước thô cần được rửa sạch sau mỗi 600 giờ, và bộ trao đổi nhiệt nên được làm sạch sau mỗi 2.400 giờ máy phát điện hoạt động. Máy phát điện nên được đặt trong một khu vực mở, thông thoáng được cung cấp đủ không khí trong lành. Mỗi bên máy phát điện nên có một không gian tối thiểu là 3 feet để đảm bảo sự lưu thông không khí làm mát máy.

i) Hệ thống xả

Khí thải phát ra bởi một máy phát điện giống như khí thải từ bất kỳ động cơ diesel hoặc động cơ gas nào, có chứa hóa chất độc hại cần phải được quản lý. Do đó, cần thiết cài đặt một hệ thống ống xả đủ để xử lý khí thải. Ngộ độc carbon monoxide vẫn là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra cái chết, bởi vì mọi người có xu hướng thậm chí không nghĩ về nó cho đến khi quá muộn.

Ống xả thường được làm bằng gang, sắt rèn, hoặc thép. Nó cần phải rời, không nên được hỗ trợ bởi các công cụ của máy phát điện. Ống xả thường gắn liền với động cơ bằng cách sử dụng kết nối linh hoạt, để giảm thiểu rung động và ngăn ngừa thiệt hại cho hệ thống ống xả của máy phát điện. Các ống xả thông ra ngoài trời và dẫn đi từ cửa ra vào, cửa sổ và những lối khác. Bạn phải đảm bảo rằng, hệ thống ống xả của máy phát điện không kết nối với bất kỳ thiết bị khác.

j) Hệ thống bôi trơn

Máy phát điện bao gồm bộ phận chuyển động bên trong động cơ của nó, nó cần được bôi trơn để đảm bảo hoạt động bền, và êm suốt một thời gian dài. Động cơ của máy phát điện được bôi trơn bằng dầu được lưu trữ trong một máy bơm. Bạn nên kiểm tra mức dầu bôi trơn mỗi 8 giờ máy phát hoạt động. Bạn cũng nên kiểm tra ngăn ngừa rò rỉ chất bôi trơn, và cần thay đổi dầu bôi trơn mỗi 500 giờ máy phát điện hoạt động.

k) Bộ sạc pin

Khởi động chức năng của một máy phát điện bằng pin. Các bộ sạc pin chịu trách nhiệm giữ cho pin máy phát điện luôn luôn đầy với một điện áp thả nổi chính xác. Nếu điện áp thả nổi rất thấp, pin sẽ nạp thiếu. Nếu điện áp thả nổi rất cao, nó sẽ rút ngắn tuổi thọ của pin. Sạc pin thường được làm bằng thép không gỉ để ngăn ngừa ăn mòn. Nó cũng hoàn toàn tự động và không yêu cầu bất kỳ điều chỉnh, hoặc bất kỳ thay đổi cài đặt. Điện áp 1 chiều ở đầu ra bộ sạc pin được giữ ở mức 2,33 Volts mỗi phân tử, đây là điện áp nổi chính xác cho pin axit chì. Bộ sạc pin có một sản lượng điện áp 1 chiều bị cô lập, không gây trở ngại cho hoạt động bình thường của máy phát điện.

l) Bảng điều khiển

Võ Gia Tổng Hợp

TAGS: MÁY PHÁT ĐIỆN DOOSAN, MÁY PHÁT ĐIỆN WEICHAI

Xin liên hệ:

CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XNK VÕ GIA

Trụ sở chính: 40/21 Đường HT31, KP1, P. Hiệp Thành, Q.12 ĐT: (028) 6259 4902 – Hotline: 0938.595.888 Kho và xưởng: 990 Quốc Lộ 1A, P Thanh Xuân , Q12, TPHCM Hotline: 0909 968 122 – 0938.595.888 (Mr Qúy) Chi nhánh 1: 14 Nguyễn Văn Quỳ, P. Phú Thuận, Q.7, TP HCM ĐT: (028) 3735 5371 – Hotline: 0983.575.864 Chi nhánh 2: 43 ĐƯỜNG 31, KP3, P. Bình Trưng Đông, Q.2 ĐT: (028) 3735 5368 – Hotline: 0938.149.009 Chi nhánh tại Đà Nẵng: 464 Lê Văn Hiến, Q Ngũ Hành Sơn,, TP. Đà Nẵng Hotline:0984 547 376 Chi nhánh tại Hà Nội: ¼ Ngõ 1, Định Công, P.Thịnh Liệt, Q.Hoàng Mai TP.Hà Nội – Hotline: 0909 968 122 Mail: quy@vogia.com.vn Website: chúng tôi