Trình Bày Cấu Tạo Hệ Tuần Hoàn Máu / 2023 / Top 13 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn / 2023

-Chức năng của hệ tuần hoàn :

+Vận chuyển oxygen và chất dinh dưỡng đến các cơ quan trong cơ thể +Mang các chất thải của quá trình trao đổi chất đến các cơ quan bài tiết +Có vai trò trong hệ miễn dịch chống lại sự nhiễm khuẩn +Vận chuyển hormone -Cấu tạo:

+Dịch tuần hoàn: còn gọi là máu, dùng để vận chuyển oxygen và chất dinh dưỡng, khí O2 đến các tế bào cũng như mang chất thải từ tế bào trở về và thoát ra ngoài bằng các cơ quan bài tiết. +Tim: tạo sự chênh lệch về áp suất để làm cho máu lưu thông. +Mạch máu: dùng để vận chuyển máu. +Các van: đảm bảo dòng chảy của máu theo một hướng nhất định.

3

– Đưa nạn nhân ra khỏi chỗ đông người và tiến hành hô hấp nhân tạo bằng phương pháp hà hơi thổi ngạt. – Đặt nạn nhân nằm ngửa, đầu ngửa ra phía sau – Bịt mũi nạn nhân bằng 2 ngón tay – Tự hít 1 hơi đầy lồng ngực rồi ghé môi sát miệng nạn nhân và thổi hết sức vào phổi nạn nhân, không để không khí thoát ra ngoài chỗ tiếp xúc với miệng. – Ngừng thổi để hít vào rồi lại thổi tiếp – Thổi liên tục 12-20 lần/phút cho tới khi quá trình tự hô hấp của nạn nhân được ổn định bình thường.

5

-Ăn đúng cách là ăn phải đúng giờ, khoảng cách bữa ăn đều, không để quá đói, bữa ăn tối cách giờ đi ngủ khoảng 3 tiếng, không nên ăn quá no, ăn uống vệ sinh, ăn thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng: protid, lipid, glucid, vitamin gồm thịt, cá, trứng, sữa, rau xanh hoa quả không nên ăn thức ăn chua cay, khi ăn phải nhai kỹ và sau khi ăn phải nghỉ ít nhất là 30 phút. Trong khi ăn phải tập trung không nên căng thẳng, cáu gắt, không nên vừa ăn vừa đọc báo đọc sách và xem vô tuyến.

-Trong khoang miệng của chúng ta có chứa nhiều vi khuẩn. Vi khuẩn lợi dụng chất đường trong thức ăn để tạo ra một loại đốm khuẩn nằm ở vị trí giữa khe răng và răng. Những đốm khuẩn này trở thành nơi trú ngụ của vi khuẩn. Chúng tồn tại trong các đốm khuẩn sinh sôi và nảy nở. Cứ thế, vi khuẩn tạo ra nhiều đốm khuẩn. Ngoài ra, thức ăn còn tạo ra một chất có tính axit. Đừng cho rằng răng của chúng ta là cứng. Răng là thứ sợ axit nhất. Bởi vì, axit sẽ bào mòn canxi của răng, khiến cho răng bị đi. Ban ngày, miệng của chúng ta hoạt động rất nhiều, có thể tiết ra lượng lớn dịch nước bọt khiến cho đường có thể hoà tan. Ngoài ra, sự ma sát khi mồm hoạt động còn có thể làm giảm cơ hội hình thành đốm khuẩn. Vì vậy, ban ngày những phần tử xấu không có cơ hội hoạt động. Nhưng, khi chúng ta ngủ, sự hoạt động của miệng ít đi, những phần tử xấu thừa cơ nổi loạn. Vì thế, trước khi đi ngủ không ăn vật đặc biệt là những đồ ăn có chứa nhiều đường như kẹo.

Nêu Cấu Tạo Hệ Tuần Hoàn Của Cá / 2023

Câu 1 : Hệ tuần hoàn kín, có hai vòng tuần hoàn, tim có 2 ngăn gồm tâm thất và tâm nhĩ,tâm thất chứa máu đỏ tươi,tâm nhĩ chứa máu đỏ thẫm, máu đi nuôi cơ thể là máu đỏ thẫm: – Mạch máu và tim

+ Tim bao gồm 2 ngăn: 1 tâm nhĩ, 1 tâm thất + 1 vòng tuần hoàn, máu đi nuôi cơ thể là máu đỏ tươi.

1. Tiêu hoá

Các cơ quan trong hệ tiêu hoá của thằn lằn có những thay đổi so với ếch :

Ông tiêu hoá đã phân hoá rõ hơn, ruột già chứa phân đặc do có khả năng hấp thu lại nước.

2. Tuân hoàn – Hô hấp

Thần lằn cũng có 2 vòng tuần hoàn, song tâm thất có 1 vách hụt ngăn tạm thời tâm thất thành 2 nữa nên máu ít bị pha hom .

Sống hoàn toàn trên cạn nên phổi là cơ quan hô hấp duy nhất của thằn lằn. So với phổi ếch, phổi thằn lằn có cấu tạo phức tạp hom, có nhiều vách ngăn và nhiều mao mạch bao quanh. Sự thông khí ờ phổi (hít, thở) là nhờ sự xuất hiện của các cơ liên sườn. Khi các cơ này co đã làm thay đổi thể tích cùa lồng ngực.

Cấu tạo của hệ tuần hoàn và hô hấp như vây phù hợp hơn với hoạt động đòi hỏi cung cấp nhiều năng lượng khi di chuyển trên cạn, nhưng còn chưa hoàn thiện nên thằn lằn vẫn là động vật biến nhiệt.

Thỏ :

Các bộ phận quan trọng của hệ tuần hoàn và hô hấp là tim và phôi được bảo vệ trong khoang ngực. Hệ tuần hoàn ở thỏ, cũng như mọi thú khác gồm tim 4 ngăn cùng với hệ mạch tạo thành 2 vòng tuần hoàn . Máu đi nuôi cơ thể là máu đỏ tươi đảm bảo sự trao đồi chất mạnh ờ thỏ. Thỏ là động vật hằng nhiệt.Hệ hô hấp gồm khí quàn, phế quản và phổi. Phổi lớn gồm nhiều túi phối (phê nang) với mạng mao mạch dày đặc bao quanh giúp sự trao đổi khí dễ dàng. Sự thông khí ờ phổi thực hiện được nhờ sự co dãn các cơ liên sườn và cơ hoành.

Chim bồ câu : Tuần hoàn Tim có cấu tạo hoàn thiện, với dung tích lém so với cơ thể. Tim 4 ngăn, gồm 2 nửa phân tách nhau hoàn toàn là nửa trái (chứa máu đỏ tươi) và nửa phải (chứa máu đó thầm), máu không bị pha trộn, đàm bảo cho sự trao đổi chất mạnh ờ chim . Mồi nửa tim. tâm nhĩ và tâm thất thông với nhau, có van giữ cho máu chỉ chảy theo một chiều.

Hệ Tuần Hoàn Của Lưỡng Cư Có Cấu Tạo? / 2023

Chủ đề :

Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

CÂU HỎI KHÁC

Cá chép sống ở môi trường nào?

Thân cá chép có hình gì?

Khúc đuôi mang vây đuôi cá chép có tác dụng gì?

Nhận định nào sau đây đúng về vây lưng cá chép?

Thứ tự di chuyển của máu trong hệ tuần hoàn cá chép là:

Ở động vật có xương sống, một vòng tuần hoàn có ở

Hệ thần kinh cá chép cấu tạo như thế nào?

Cử động hô hấp của ếch là gì?

Hệ tuần hoàn của Lưỡng cư có cấu tạo?

Hệ tuần hoàn của ếch gồm hai vòng tuần hoàn là hai vòng nào?

Máu đi nuôi cơ thể ếch là loại máu nào?

Nhiệt độ cơ thể ếch đồng không ổn định, luôn thay đổi theo nhiệt độ môi trường nên được gọi là?

Hệ tiêu hoá của ếch không có cơ quan nào?

Cấu tạo dạ dày ếch có đặc điểm nào tiến hoá hơn so với cá chép?

Đặc điểm hệ thần kinh của ếch gồm:

Trong các đại diện sau, đại diện nào không thuộc lớp Lưỡng cư?

Cắt bỏ tiểu não của cá chép thì:

Số sinh vật thuộc lớp cá là:

Quan sát cấu tạo giải phẫu của cá. Cho các mệnh đề sau:

Nói về hệ tuần hoàn cá chép, có bao nhiêu nhận định sai?

Về cấu tạo ngoài của cá chép, có các nhận định sau: (1) Thân hình thoi dẹp bên.

Có bao nhiêu sinh vật thụ tinh ngoài?

Số sinh vật phát triển biến thái hoàn toàn là:

Cho các đặc điểm sau về cấu tạo ngoài của ếch(1) Đầu dẹp, nhọn, khớp với thân thành một khối thuôn nhọn về p

Quan sát cấu tạo giải phẫu của ếch. Dựa vào kiến thức đã học, hãy xác định vị trí của xương đai hông?

Có bao nhiêu nhận định đúng về cá mập?

Lớp Cá sụn (danh pháp khoa học: Chondrichthyes) là một nhóm cá có hàm với các vây tạo thành cặp, các cặp lỗ mũi, vảy,

Quan hệ cùng đàn của các con cá mập con trong bụng mẹ là:

Tốc độ trao đổi chất thấp giúp cá mập:

Chọn giá trị gần đúng:

Hiện tượng noãn thai sinh llà sứ mệnh của:

Hãy sử dụng kiến thức chặn khoảng số nguyên và các chức năng máy tính bỏ túi để tính xem, cần phải thả bao nhiêu cá trên một đơn vị diện tích của mặt hồ để sau một vụ thu hoạch nhà ngư dân thu được nhiều tiền nhất?

Chọn giá trị gần nhất:

1 con cá có đuôi nặng 250g, đầu nặng bằng đuôi và một nửa thân, thân nặng bằng đầu và đuôi.

Ở cá chép, loại vây nào có vai trò rẽ phải, trái, lên, xuống và giữ thăng bằng ?

Nguyên nhân chính khiến ếch thường sống ở nơi ẩm ướt, gần bờ nước chứ không sống ở nơi khô ráo

Ngư dân sẽ thu được nhiều nhất bao nhiêu tiền, biết 1 kg ếch bán được 750 000 đồng?

Kiến Thức Đầy Đủ Về Cấu Tạo Tim Mạch Và Hệ Tuần Hoàn Máu Trong Cơ Thể Người / 2023

“Người ta không coi trọng sức khỏe cho tới khi đau yếu.” Hệ tim mạch và hệ tuần hoàn là hệ thống quan trọng nhất trong cơ thể. Thông thường, sức khỏe là một giá trị rất ít khi được chúng ta quan tâm đến, cho dù đó là một giá trị cực kỳ quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của ta. Sự thiếu quan tâm này có lý do rất đơn giản, vì hầu hết chúng ta luôn xem việc có sức khỏe tốt chỉ là điều tất nhiên và quá thông thường, nên chỉ khi nào ta “kém sức khỏe” nghĩa là có bệnh, thì ta mới thấy cần quan tâm. Bài viết kiến thức đầy đủ về cấu tạo Tim mạch và hệ tuần hoàn máu trong cơ thể người bạn cần phải biết để có một cơ thể khỏe mạnhsẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát nhất về hệ tuần hoàn để chăm sóc tốt hơn cho bản thân và người thân.

Gồm có tim và các mạch máu.

a. Động mạch:

Là những mạch dẫn máu từ tim đến các bộ phận tế bào.

Thành động mạch gồm ba lớp áo chính:

– Lớp áo tròng nằm trong cùng được cấu tạo bởi các tế bào nội mô dẹt.

– Lớp áo giữa gồm các sợi cơ trơn và các sợi chun.

– Lớp áo ngoài do các tổ chức liên kết sợi tạo nên.

Là những mạch dẫn máu từ các cơ quan trở về tim.

Thành của tĩnh mạch cũng gồm ba lớp như ở động mạch, nhưng có một số điểm khác sau:

– Thành động mạch dày và có độ đàn hồi lớn hơn do lớp áo giữa dày và chứa nhiều sợi chun hơn.

– Ở tĩnh mạch, lớp áo trong có các van tĩnh mạch. Đó là những nếp chập đôi của lớp áo trong, có tác dụng cho máu chảy theo một chiều.

c. Mao mạch:

Là những mạch rất nhỏ nối giữa động mạch và tĩnh mạch.

Thành mao mạch chỉ có một lớp tế bào nội mô, giữa các tế bào này có những lỗ nhỏ để cho quá trình trao đổi chất giữa các tế bào và máu được thực hiện.

– Bộ phận lớn của tim nằm ở nửa bên trái cơ thể, còn bộ phận nhỏ nằm ở nửa bên phải

– Giới hạn trên của tim ở ngang mức sụn sườn III.

– Giới hạn dưới ở ngang mức sụn sườn V bên trái, hơi ở phía trong đường thẳng qua núm vú.

– Khối lượng trung bình của tim là 260-270g ở người lớn.

b. Hình dáng:

Tim có dạng hình nón không đều, có hai mặt, một đỉnh, một đáy, hai bờ.

– Các mặt: Mặt trước (ức – sườn) hướng ra trước và lên trên; Mặt sau: Hướng ra sau xuống dưới về phía cơ hoành;

– Đáy tim: Là mặt sau của hai tâm nhĩ;

– Đỉnh tim: Là mỏm tim;

– Bờ tim: Gồm hai bờ: bờ trái dày do thành của tâm thất trái tạo thành. Bờ phải sắc do thành tâm thất phải tạo thành.

Các rãnh của tim:

Trên mặt tim có các rãnh, là nơi các mạch máu, bạch huyết, thần kinh đi, gồm hai rãnh:

– Một rãnh chạy dọc từ mặt trước đến mặt sau chia tâm thất thành hai nửa là tâm thất phải và tâm thất trái. Rãnh này là rãnh liên thất.

– Một rãnh ngang (rãnh vành) chia tim làm hai phần: Phần trên là tâm nhĩ, phần dưới là tâm thất.

c. Cấu tạo trong của tim:

Tim gồm hai nửa trái và phải không thông nhau. Nửa trái chiếm tim chứa máu động mạch. Nửa phải chiếm chứa máu tĩnh mạch. Mỗi nửa gồm hai buồng thông nhau: buồng trên là tâm nhĩ, buồng dưới là tâm thất.

Dung tích của các buồng tim được xác định như sau: Tâm nhĩ phải: 57ml; Tâm nhĩ trái: 125ml; Tâm thất phải: 85ml; Tâm thất trái: 185ml.

– Tâm nhĩ phải có một khoảng bổ sung tạo thành tiểu nhĩ phải.

– Ở lỗ thông giữa tĩnh mạch chủ dưới với tâm nhĩ phải và ở lỗ thông giữa xoang tĩnh mạch vành với tâm nhĩ phải có van tĩnh mạch. Cả hai van trên đều có hình liềm lõm.

– Thành của tâm nhĩ nói chung là mỏng và nhẵn chỉ có một vài gờ cơ chạy song song.

– Tâm nhĩ phải thông với tâm thất phải bởi lỗ nhĩ thất: lỗ này có van nhĩ thất phải gọi là van ba lá, van này có hình phễu, đáy dính vào chu vi lỗ còn đỉnh quay xuống dưới có dây chằng bám vào các cột cơ của thành tâm thất. Tác dụng của van là làm cho máu chảy theo một chiều. Khi tâm nhĩ phải co thì các van tĩnh mạch đóng lại, van ba lá mở ra, máu từ tâm nhĩ phải qua van đi xuống tâm thất phải. Khi tâm nhĩ phải dãn thì các van tĩnh mạch mở ra để hút máu từ các tĩnh mạch đổ về, đồng thời van ba lá đóng lại, làm cho máu không đi ngược từ tâm thất phải trở lại tâm nhĩ phải.

Tâm thất phải:

– Từ tâm thất phải có thân động mạch phổi đi ra. Giữa động mạch phổi và tâm thất phải có van động mạch phổi gọi là van tổ chim (van bán nguyệt). Van này cũng có ba lá, mỗi lá hình một cái tổ chim, có tác dụng làm cho máu chảy theo một chiều từ tâm thất vào động mạch. Khi tâm thất co bóp, van ba lá đóng lại đồng thời van động mạch phổi mở ra làm cho máu được đẩy vào động mạch phổi. Khi tâm thất dãn ra, van động mạch phổi đóng lại để ngăn không cho máu chảy ngược từ động mạch vào tâm thất phải, đồng thời van ba lá mở ra để máu từ tâm nhĩ phải đổ vào tâm thất phải.

– Thành tâm thất phải dày hơn thành tâm nhĩ phải, mặt trong có nhiều bè cơ, cột cơ với những dây chằng bám vào van ba lá.

– Tâm nhĩ trái có một khoảng bổ sung tạo thành tiểu nhĩ trái.

– Vách ngăn giữa hai tâm nhĩ gọi là vách liên nhĩ. Vách này có di tích của lỗ Bôtal thông hại tâm nhĩ trong thời kỳ phôi thai.

– Tâm nhĩ trái có bốn tĩnh mạch phổi đổ vào qua bốn lỗ tĩnh mạch phổi

– Tâm nhĩ trái thông với tâm thất trái bởi lỗ nhĩ thất trái. Ở lỗ này có van nhĩ thất trái gọi là van hai lá, dầy và phát triển hơn van ba lá. Tác dụng của van cũng giống như van ba lá là làm cho máu chảy theo một chiều. Khi tâm nhĩ trái có thì vẫn hai lá mở ra, máu từ tâm nhĩ trái qua vẫn đi xuống tâm thất trái. Khi tâm nhĩ trái dãn, máu từ các tĩnh mạch phổi đổ về tâm nhĩ trái đồng thời tâm thất trái có để tống máu vào trong động mạch chủ thì vẫn hai lá đóng lại, máu không đi ngược từ tâm thất trái trở lại tâm nhĩ trái.

Tâm thất trái:

– Được ngăn cách với tâm thất phải bởi vách liên thất

– Từ tâm thất trái có thân động mạch chủ đi ra. Lỗ thông giữa động mạch chủ và tâm thất trái có van động mạch chủ gọi là van tổ chim, có cấu tạo giống như van động mạch phổi, nhưng chắc hơn, có tác dụng làm cho máu chảy theo một chiều từ tâm thất vào động mạch. Khi tâm thất co bóp, van hai lá đóng lại đồng thời van động mạch chủ mở ra làm cho máu được đẩy vào động mạch chủ. Khi tâm thất dãn ra, van động mạch chủ đóng lại ngăn không cho máu chảy ngược vào tâm thất trái, đồng thời van hai lá mở ra máu từ tâm nhĩ trái đổ vào tâm thất trái.

Các buồng nhĩ thất trái phải co bóp và giãn nở đồng bộ nên van động mạch và hai van nhĩ thất cùng đồng thời đóng mở cùng theo.

– Thành của của tâm thất trái dày gấp hai đến ba lần thành tâm thất phải, có nhiều bè cơ, cột cơ với những dây chằng bám vào mép các van hai lá.

d. Cấu tạo của thành tim

Thành tim gồm 3 lớp:

Lớp trong cùng là lớp nội tâm mạc:

Bao gồm những tế bào nội mô phủ ở mặt trong các buồng tim. Lớp này trơn, nhẵn và tham gia tạo thành các van tim.

Cơ tim là cơ đặc biệt vừa có đặc điểm giống cơ vân, vừa có đặc điểm giống cơ trơn.

– Cơ của thành tim gồm những sợi cơ hình cung, hai đầu bám vào các lỗ tim. Nhưng sự sắp xếp các sợi ở các buồng tâm nhĩ và tâm thất thì khác nhau:

– Sợi cơ của tâm nhĩ: Gồm hai lớp:

+ Lớp trong chạy dọc riêng từng tâm nhĩ

+ Lớp ngoài chạy vòng chung cả hai tâm nhĩ.

– Sợi cơ của tâm thất: Gồm ba lớp:

+ Lớp ngoài và lớp trong là những sợi cơ dọc hay xiên chung cho cả hai tâm thất phải và trái. Những sợi dọc này xuất phát từ lỗ nhĩ thất, xuống dưới, ở mặt trước tim, chúng chạy từ phải sang trái, còn ở mặt sau nó chạy ngược lại. Khi đến đỉnh tim thì các sợi này chạy vòng trở lên lộn một vòng và lật vào trong chuyển thành lớp sâu, tới vòng sơ của bên đối diện.

+ Lớp giữa cấu tạo bởi các cơ vòng riêng cho từng tâm thất: các sợi này đi từ vòng sợi của lỗ nhĩ thất rồi vòng lên vòng sợi của lỗ động mạch hoặc ngược lại.

– Vách liên thất được cấu tạo bởi các sợi cơ vòng

Gồm hai lá, lá thành và lá tạng:

– Lá tạng bọc sát tim, khi đến các huyết quả lớn thì quặt lại liên tiếp với lá thành.

– Giữa hai lá có dịch thanh mạc.

e. Thần kinh của tim:

Tim được chi phối bởi hai hệ thống thần kinh là: Hệ thực vật và hệ tự chủ.

Hệ thực vật:

Do dây X (dây phế vị) chi phối gồm những sợi giao cảm làm cho tim đập nhanh và

những sợi phó giao cảm làm cho tim đập chậm.

Hệ tự chủ:

Gồm các nút và các bó để thực hiện chức năng phát sinh xung động và dẫn truyền xung động làm cho tim co bóp một cách nhịp nhàng.

– Nút xoang (Keith-Flack): Nằm ở sau tâm nhĩ phải, gần nơi tĩnh mạch chủ trên đổ vào tâm nhĩ và ở dưới lớp ngoại tâm mạc. Nút này là trung tâm tự động chính. Từ nút này xung động được truyền vào thành của hai tâm nhĩ làm cho hai tâm nhĩ co nhịp nhàng với nhau. Sau đó xung động được tập trung ở nút nhĩ thất.

– Nút nhĩ thất (nút Aschop -Tawara). Nằm ở vách ngăn của 2 tâm nhĩ, phía dưới của tâm nhĩ phải và ở dưới lớp nội tâm mạc.

Từ nút nhĩ thất tách ra bó His mang kích thích của tâm nhĩ tới tâm thất.

– Bó His (bó nhĩ thất): Chạy dọc theo vách ngăn của hai tâm thất, sau đó bó này chia làm hai bó: phải và trái phân nhánh vào thành TTP và TTT.

– Mạng lưới Piirkinje: Hai bó phải và trái khi vào đến thành tâm thất thì phân thành nhánh nhỏ tạo thành mạng lưới toả vào các cột tim, gờ tim nằm dưới lớp nội tâm mạc gọi là mạng lưới Purkinje.

f. Mạch máu của tim:

– Động mạch:

Động mạch nuôi tim gồm hai động mạch vành phải và động mạch vành trái, được tách ra từ động mạch chủ ở ngang mức các van tổ chim.

– Tĩnh mạch:

Mang máu của hai động mạch vành được đổ vào tâm nhĩ phải gồm có: Tĩnh mạch vành lớn và các tĩnh mạch nhỏ đổ trực tiếp vào tâm nhĩ phải.

3. VÒNG TUẦN HOÀN MÁU:

Toàn bộ tim cùng các mạch máu tạo thành vòng kín gồm có hai vòng tuần hoàn: lớn và nhỏ.

Vòng tuần hoàn nhỏ:

– Máu từ tâm thất phải đi lên phổi bằng động mạch phổi là động mạch chứa máu màu đỏ thẫm để thực hiện sự trao đổi khí là nhả CO 2 và nhận O 2

– Máu từ phổi trở về tâm nhĩ trái bằng các tĩnh mạch phổi là tĩnh mạch chứa máu màu đỏ tươi.

Máu từ tâm thất trái theo động mạch chủ đi nuôi cơ thể rồi về tâm nhĩ phải bằng các tĩnh mạch chủ và xoang tĩnh mạch vành.

b. Các mạch máu của vòng tuần hoàn nhỏ: Động mạch phổi:

Thân động mạch phổi dài khoảng 5cm lên đến ngang mức đốt sống ngực thứ 4 thì phân hai nhánh thành động mạch phổi phải và trái đi vào hai lá phổi. Đến rốn phổi động mạch phải chia ba nhánh, động mạch phổi trái chia hai nhánh tới các thuỳ phổi. Các nhánh lại tiếp tục phân nhỏ tạo thành mạng lưới mao mạch bao quanh các phế nang để thực hiện trao đổi khí.

Tĩnh mạch phổi:

Xuất phát từ các mao tĩnh mạch ở các phế nang, máu được tập trung thành các tĩnh mạch nhỏ rồi đến các tĩnh mạch lớn cuối cùng đổ vào hai tĩnh mạch phổi ở mỗi lá phổi để đổ máu động mạch vào tâm nhĩ trái.

c. Các mạch máu của vòng tuần hoàn lớn:

Đó là động mạch chủ và tĩnh mạch chủ

Động mạch chủ:

Gồm có ba đoạn: động mạch chủ lên, cung động mạch chủ và động mạch chủ xuống.

– Động mạch chủ lên: Từ tâm thất trái đi ra dài khoảng 5cm. Từ động mạch chủ lên tách ra hai động mạch: vành phải và trái để nuôi tim.

– Cung động mạch chủ: Từ mặt trên của cung động mạch chủ tách ra ba động mạch lớn là thân động mạch cánh tay đầu; động mạch cảnh gốc trái và động mạch dưới đòn trái.

+ Thân động mạch cánh tay đầu: Từ động mạch này chia thành hai động mạch: động mạch cảnh gốc phải và động mạch dưới đòn phải.

+ Động mạch cảnh gốc: Động mạch cảnh gốc phải và trái đều chia làm hai ngành tận là: Động mạch cảnh ngoài và động mạch cảnh trong cấp máu cho khu đầu, mặt, cổ.

+ Động mạch dưới đòn: Động mạch dưới đòn phải và trái đều tách ra các nhánh bên để nuôi dưỡng tuỷ sống, da cơ và các cơ quan ở vùng ngực và vùng cổ.

Động mạch dưới đòn khi chạy tới điểm giữa và dưới xương đòn thì được gọi là động mạch nách cấp máu nuôi dưỡng da cơ vùng đai vai, vùng lưng, vùng ngực bên

Động mạch nách khi tới ngang bờ dưới cơ ngực to thì đổi thành động mạch cánh tay cấp máu cho vùng cánh tay

Động mạch cánh tay khi đến khuỷu tay thì chia hai nhánh là: Động mạch quay và động mạch trụ, cấp máu cho vùng cẳng tay và bàn tay.

– Động mạch chủ xuống: Gồm động mạch chủ ngực (đi trong vùng ngực) và động mạch chủ bụng (đi trong vùng bụng).

+ Động mạch chủ ngực và động mạch chủ bụng: Đều tách thành hai nhánh là: Động mạch thành và động mạch tạng cấp máu cho thành và các tạng trong khoang ngực và khoang bụng.

Động mạch chủ bụng xuống tới khung chậu thì chia thành hai nhánh: động mạch chậu chung trái và động mạch chậu chung phải.

+ Động mạch chậu chung: Mỗi động mạch lại phân ra thành động mạch là: Động mạch chậu trong và động mạch chậu ngoài.

Động mạch chậu trong: Khi chạy xuống chậu hông bé, phân làm nhiều nhánh tới thành và các tạng trong khung chậu bé.

Động mạch chậu ngoài: Sau khi chui qua dây chằng bẹn (cung đùi) thì đổi thành động mạch đùi cấp máu cho khu đùi.

Động mạch đùi khi vòng qua cơ khép lớn thì đổi thành động mạch khoeo.

Động mạch khoeo tới bờ dưới cơ khoeo thì chia thành hai nhánh là: động mạch chày trước và động mạch chày sau cấp máu cho vùng cẳng chân và bàn chân.

– Các tĩnh mạch thành tim: Thu nhận máu từ động mạch vành rồi đổ vào tâm nhĩ phảị.

– Tĩnh mạch chủ trên: Nhận máu từ chi trên, đầu, cổ, thành ngực, và một phần ể bụng rồi đổ vào tâm nhĩ phải.

– Tĩnh mạch chủ dưới: Nhận máu từ chi dưới, vùng chậu hông, một phần bụng và các tạng trong ổ bụng.

Riêng máu từ các tạng (tỳ, dạ dày, tụy, túi mật, ruột non trước khi đổ vào tĩnh mạch chủ dưới phải đi qua gan (theo tĩnh mạch cửa) để gan lọc.

Ngày nay có nhiều khó khăn, thách thức mới như mô hình bệnh tật thay đổi, các bệnh truyền nhiễm diễn biến phức tạp, các bệnh không lây nhiễm, dịch bệnh mới, bệnh lạ xuất hiện do sự ô nhiễm môi trường, các hóa chất độc hại, trong khi chất lượng bệnh viện và chăm sóc y tế luôn là vấn đề được cả xã hội đặc biệt quan tâm, như tình trạng quá tải; thủ tục hành chính về khám, chữa bệnh còn phức tạp; tình trạng lạm dụng thuốc, xét nghiệm cận lâm sàng, lạm dụng kỹ thuật chưa được kiểm soát chặt chẽ, tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh, đạo đức của một bộ phận cán bộ y tế ở nhiều bệnh viện chưa được cải thiện…