Tái Cấu Trúc Vốn Là Gì / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Tái Cấu Trúc Vốn Hiệu Quả

Khi mà khủng hoảng tài chính đang là mối đe dọa hàng đầu của hầu hết các doanh nghiệp thì tái cấu trúc vốn được xem là giải pháp hữu hiệu để tồn tại và phát triển bền vững. Việc thiết lập một cơ cấu vốn tối ưu không chỉ đảm bảo khả năng thanh toán, đạt được hiệu quả sử dụng vốn cao, mà còn giúp doanh nghiệp có cơ hội huy động vốn để phát triển sản xuất kinh doanh hay đầu tư vào lĩnh vực mới…

Theo một số chuyên gia tài chính, cho đến nay, nhiều doanh nhân vẫn quan niệm rất đơn giản về cơ cấu vốn của doanh nghiệp, chỉ khi nào cần đầu tư mới đi vay vốn hoặc phát hành cổ phiếu. Chính “tâm lý” này đã ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội đầu tư của doanh nghiệp và tính an toàn của cấu trúc vốn.

Thực tế cho thấy, đa phần các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay. Sự chạy theo doanh thu dẫn tới việc doanh nghiệp không kiểm soát được chặt chẽ dòng tiền thu về. Còn sự mất cân đối nguồn vốn là hệ quả của việc dùng vốn ngắn hạn để đầu tư vào trung hạn.

Mặt khác, tỷ lệ vốn tự có quá lớn dẫn đến tình trạng đầu tư tràn lan, không có chiến lược. Tất cả những tồn tại điển hình này đã ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, mà cụ thể là làm mất khả năng thanh toán, mất cơ hội kinh doanh (do không chủ động được về nguồn vốn) và gặp nhiều trở ngại trong việc huy động vốn…

Trong một buổi tọa đàm gần đây do Ban Tài chính CLB Doanh Nhân Sài Gòn tổ chức, bà Nguyễn Thị Thái Anh – Giám đốc Trung tâm Tư vấn Công ty cổ phần chứng khoán FPT khẳng định, một cơ cấu vốn tối ưu phải hội đủ 4 yếu tố: đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo chi phí vốn tối ưu thấp nhất, tạo đủ nguồn vốn cho các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp, mang lại lợi ích cao nhất cho chủ sở hữu. Hay nói cách khác, cơ cấu vốn tối ưu chính là sự cân bằng giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu.

Ảnh: Việt Tuấn

Có một thực tế là trong khi một loạt doanh nghiệp đang khát vốn, phải tìm đủ mọi cách để tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài thì vẫn có không ít doanh nghiệp dùng quá nhiều vốn tự có, rất ngại đi vay. Việc không dùng đòn bẩy nợ sẽ khiến các doanh nghiệp đã, đang hoặc sẽ phải đối diện với 4 hậu quả: không có quy mô vốn lớn, ngại hay không đủ tự tin để tiếp cận các dự án lớn, khó có cơ hội tăng tốc, không thu hút được nguồn vốn bên ngoài.

Trả lời câu hỏi “Làm thế nào để tái cấu trúc vốn hiệu quả?”, bà Thái Anh cho rằng có 4 giải pháp: điều chỉnh cơ cấu nợ/vốn chủ sở hữu hợp lý (lập lại dự báo tài chính tối thiểu là 1 năm), hoàn thiện các hệ số tài chính thông qua việc so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực và tại Việt Nam, đưa ra phương thức quản trị tài chính hiệu quả (yếu tố quan trọng nhất để duy trì cơ cấu vốn tối ưu), tái cấu trúc lại doanh nghiệp và các khoản đầu tư (bằng cách chia tách, sát nhập hoặc bán bớt cổ phần…).

Còn để thực hiện việc tái cấu trúc vốn, doanh nghiệp phải trải qua 5 bước: Phân tích và rà soát (đặc biệt là về hoạt động tài chính), dự báo tài chính cho các năm tới, xác định cơ cấu vốn tối ưu, lựa chọn giải pháp thực hiện để đạt cơ cấu vốn tối ưu, tổ chức thực hiện và đánh giá giải pháp. Bên cạnh đó, để thực hiện thành công việc tái cấu trúc vốn, doanh nghiệp còn phải lập dự báo tài chính trong khoảng 3 năm, bao gồm: Dự báo bảng cân đối kế toán, dự báo kết quả kinh doanh, dự báo nhu cầu vốn dài hạn, dự báo biến động dòng tiền.

Điều doanh nghiệp cần lưu ý trong quá trình thiết lập cơ cấu vốn tối ưu là phải căn cứ tình hình thực tế của thị trường và từng giai đoạn phát triển cụ thể của doanh nghiệp để đưa ra giải pháp phù hợp. Vì việc kinh doanh thành công không có công thức chung cho tất cả các doanh nghiệp, và việc tái cấu trúc vốn hiệu quả cũng vậy.

Tái Cấu Trúc Nguồn Vốn Của Doanh Nghiệp Hiện Nay?

Cấu trúc nguồn vốn là tỷ trọng của các nguồn vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà DN huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất- kinh doanh. Khi xem xét cấu trúc nguồn vốn của một DN, người ta thường chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Một cấu trúc nguồn vốn hợp lí phải đảm bảo sự hài hòa giữa vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả, có chi phí sử dụng vốn thấp và rủi ro chấp nhận được, phù hợp với điều kiện kinh doanh cụ thể của DN. Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà DN hoạt động, tuỳ thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của DN. Cấu trúc nguồn vốn của DN được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau:

Hệ số nợ phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh bình quân mà DN đang sử dụng có bao nhiêu đồng được hình thành từ vốn nợ.

Hệ số vốn chủ sở hữu = Nguồn vốn chủ sở hữu/Tổng nguồn vốn = 1 – Hệ số nợ

Hệ số vốn chủ sở hữu phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà DN đang sử dụng có bao nhiêu đồng do chủ sở hữu DN bỏ ra. Nếu hệ số vốn chủ sở hữu càng cao, các khoản nợ của DN càng được đảm bảo khả năng thanh toán và dĩ nhiên tài chính của DN càng nằm trong giới hạn an toàn. Ngược lại, hệ số nợ cao chứng tỏ DN sử dụng nhiều nợ vay, có khả năng gặp phải rủi ro thanh toán lớn khi khoản vay đáo hạn.

Trong nền kinh tế thị trường, quyết định cấu trúc nguồn vốn là một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi DN, bởi nó là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu và rủi ro tài chính mà DN có thể phải đối mặt. Trên góc độ tài chính, mục tiêu quan trọng nhất của các DN là tối đa hóa lợi nhuận, hay nói cách khác là tối đa hóa giá trị của DN. Giá trị của DN có quan hệ chặt chẽ với cấu trúc nguồn vốn. Tuy nhiên không phải bất kỳ DN nào cũng có thể xác định được cho mình ngay từ đầu một cấu trúc nguồn vốn hợp lý đảm bảo cho DN kinh doanh hiệu quả. Kể cả khi DN đã xây dựng được một cấu trúc nguồn vốn hợp lý thì cấu trúc đó cũng không phải là bất biến trong một thời gian dài.

Nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn, tái cấu trúc nguồn vốn không chỉ là quá trình tổ chức, sắp xếp lại các nguồn vốn hiện có mà bao gồm cả việc lựa chọn và đa dạng hóa các kênh huy động vốn, tổ chức hoạt động kinh doanh hiệu quả, làm lành mạnh hóa tình hình tài chính… trong từng thời kỳ nhất định để từ đó gia tăng giá trị DN.

Một số định hướng cụ thể trong tái cấu trúc nguồn vốn

Bối cảnh suy thoái kinh tế những năm qua nảy sinh nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến DN phải tái cấu trúc nguồn vốn. Tùy từng hòan cảnh cụ thể, DN lựa chọn cách tái cấu trúc nguồn vốn nhất định. Tựu trung lại, có những dạng DN cần tái cấu trúc nguồn vốn sau đây:

Hai năm qua, không ít những DN do yếu kém trong công tác quản lý hay do các nguyên nhân khách quan đã dẫn đến tình trạng bị thua lỗ nặng nề. Những khoản tổn thất do thua lỗ trước hết chủ sở hữu phải gánh chịu. Xét về mặt tài chính, sự thua lỗ khiến cho giá trị tài sản của DN bị giảm đi và tất yếu vốn chủ sở hữu cũng bị giảm theo. Nếu tình trạng đó tiếp tục diễn ra, vốn chủ sở hữu sẽ bị hao hụt nhanh chóng, vô hình chung khiến hệ số nợ ngày càng tăng lên và rủi ro tài chính cũng càng đe dọa sự tồn tại của DN.

Với tình trạng này, một mặt đòi hỏi DN phải tổ chức lại sản xuất, kinh doanh, mặt khác phải tái cấu trúc nguồn vốn để cải thiện tình hình tài chính. Để giảm lỗ, DN cần cắt bớt những chi phí không cần thiết, hạn chế khoản vay đầu tư vào những dự án chưa thu lời được ngay, chấp nhận thu gọn ngành nghề, rút bớt chi nhánh, đại lý thiếu hiệu quả, tìm mọi cách đẩy mạnh doanh thu bằng tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, giảm giá thành đầu vào… từng bước đưa cấu trúc nguồn vốn dần trở lại cân bằng.

Khủng hoảng tài chính đã đem lại cơ hội cho một số ngành nghề và không ít DN vẫn có mức tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, một số DN không quản lý được tốc độ tăng trưởng của mình dẫn đến sự tăng trưởng quá nhanh thậm chí rơi vào tình trạng quá “nóng”. Điều này trước mắt dễ làm cạn kiệt các nguồn lực tài chính cũng như khiến cho cấu trúc nguồn vốn mất cân đối nghiêm trọng. Khi tăng trưởng quá nhanh, nhu cầu vốn cho đầu tư là rất lớn.

Trong trường hợp này, mặc dù đã huy động tối đa nguồn vốn bên trong nhưng không thể đáp ứng được yêu cầu DN buộc phải gia tăng huy động vốn từ bên ngoài và thực tế cho thấy nhiều DN đã đi vay khối lượng lớn để đầu tư vào tài sản cố định và mở rộng quá mức sử dụng tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp. Để tránh hệ số nợ quá cao, có thể làm DN mất kiểm soát trong trường hợp rủi ro xảy ra, DN phải kiểm soát chặt các dự án, chương trình đầu tư, có kế hoạch thu hồi vốn và trả nợ đúng hạn định hoặc tối thiểu cũng có các phương án dự phòng khi yếu tố không thuận lợi xảy ra.

Bộ phận tài chính của DN phải thường xuyên theo dõi, báo cáo sự luân chuyển của dòng tiền trong DN, dự báo những khó khăn phát sinh và tham mưu cho ban lãnh đạo DN các phương án tránh rủi ro tài chính. Dần dần, DN phải bổ sung vốn chủ sở hữu thông qua tìm kiếm cổ đông chiến lược để cân bằng vốn chủ sở hữu và vốn nợ hoặc giảm dần các khoản nợ vay về giới hạn an toàn. Quá trình cấu trúc lại nguồn vốn có thể dài, có thể ngắn nhưng đây là việc làm tất yếu.

Đối với DN mới thay đổi cấu trúc kinh doanh hoặc mua bán, sáp nhập: Đây là những thay đổi bình thường của DN trong bối cảnh hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu. Dĩ nhiên, cấu trúc kinh doanh thay đổi khiến cho rủi ro kinh doanh của DN cũng có sự biến động. Mỗi một ngành kinh doanh có đặc điểm kinh tế – kỹ thuật khác nhau và từ đó mức độ rủi ro kinh doanh cũng khác nhau. Một khi có sự thay đổi cấu trúc kinh doanh thì DN phải tính đến mức độ rủi ro kinh doanh trong rủi ro tổng thể của DN. Điều đó cũng đòi hỏi DN phải tái cấu trúc nguồn vốn làm cho cấu trúc nguồn vốn phù hợp hơn trước sự thay đổi của cấu trúc sản xuất kinh doanh.

Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, việc mua bán, sáp nhập, hợp nhất DN xảy ra ngày càng nhiều. Sau khi sáp nhập hay hợp nhất DN, hoạt động tái cấu trúc đòi hỏi nguồn vốn làm cho cấu trúc nguồn vốn hợp lý hơn nhằm đạt tới sự gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập một cổ phần cũng như sự gia tăng giá trị DN. Trong trường hợp này, ban lãnh đạo DN phải rà soát thật kỹ cấu trúc nguồn vốn của từng bộ phận, đánh giá các rủi ro tài chính từ riêng lẻ đến tổng thể và có phương án tăng cường năng lực tài chính cho những bộ phận trọng yếu, quyết định đến doanh thu và lợi nhuận

Cấu trúc nguồn vốn của một DN chủ yếu phụ thuộc vào sự quyết định của các nhà quản lý DN. Nếu việc sử dụng vốn vay có hiệu quả thì người được hưởng lợi trước hết và cũng được hưởng nhiều nhất là chủ sở hữu DN. Nhưng nếu việc sử dụng vốn vay do những nguyên nhân nhất định dẫn đến kém hiệu quả thì người chịu hậu quả trước hết là giám đốc DN. Điều này được thể hiện rõ nét đối với công ty cổ phần, khi đó giám đốc sẽ chịu sự chỉ trích của các cổ đông và cũng không ngoại trừ bị sa thải.

Vì thế, nhiều giám đốc DN ngại mạo hiểm, từ đó ít sử dụng vốn vay mà thiên về huy động và sử dụng vốn chủ sở hữu. Với tư tưởng và cách thức điều hành như vậy, sau một số năm nhất định hệ số nợ của DN sẽ rất thấp. Điều đó, tuy có thể làm cho tình hình tài chính của DN khá ổn định nhưng DN đạt được tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng thấp hơn nhiều so với DN trong cùng ngành có sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức cao hơn. Để nâng cao tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay thu nhập một cổ phần, DN phải luôn lưu tâm đến vấn đề cấu trúc lại nguồn vốn cho hợp lý.

Ở Việt Nam cũng như một số quốc gia những năm qua tồn tại các DN có “đặc quyền ” sử dụng vốn vay quá mức. Tình trạng này thường diễn ra trong các DNNN. Trên danh nghĩa DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh bình đẳng với các DN khác, tuy nhiên trong thực tế DNNN hầu như vẫn được hưởng khoản “lợi ích vô hình”, đó là dễ dàng hơn trong tiếp cận các nguồn vốn vay. Nếu không có sự quản lý, giám sát chặt chẽ, nhiều DNNN sẽ sử dụng vốn vay tràn lan mà không bị áp lực về nguy cơ phá sản.

Chính những điều đó đã khiến cho cấu trúc nguồn vốn của các DN này bị mất cân đối nghiêm trọng, vốn cho hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào nguồn vốn đi vay. Vì vậy, phải tìm đội ngũ nhà quản lý DNNN thực sự tài năng, có chuyên môn, năng lực quản lý và phát triển kinh doanh, coi trọng việc tái cấu trúc nguồn vốn hướng đến hoạt động tài chính minh bạch và lành mạnh. Bên cạnh đó, cần loại bỏ những nhà quản lý DN yếu kém, làm ăn thua lỗ kéo dài hoặc không phát huy được ưu thế của DNNN đúng với thế mạnh, tiềm năng.

Có thể thấy điểm chung nhất, tái cấu trúc nguồn vốn là cấu trúc lại nguồn vốn hợp lý hơn nhằm cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời để đạt tới tối đa hóa giá trị DN. Bối cảnh hiện nay đòi hỏi nhà quản lý DN ở Việt Nam ngày càng phải am hiểu sâu về lĩnh vực tài chính DN – điều còn thiếu ở rất nhiều lãnh đạo DN Việt Nam.

Tái Cấu Trúc Tài Chính Là Gì?

Tái cấu trúc tài chính là một quá trình sắp xếp lại hoặc tổ chức lại cấu trúc tài chính, mà chủ yếu là bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ. Tái cấu trúc tài chính có thể được thực hiện do bị bắt buộc hoặc đó là một phần của chiến lược tài chính của công ty. Việc tái cơ cấu lại tài chính này có thể thực hiện từ bên tài sản hoặc nợ phải trả. Nếu một bên thay đổi thì bên còn lại sẽ theo đổi theo.

Hai thành phần của tái cấu trúc tài chính là:

1. Tái cấu trúc nợ

Tái cấu trúc nợ có thể được thực hiện dựa trên các hoàn cảnh khác nhau của các công ty. Nó có thể được phân thành 3 trường hợp sau.

Một công ty khỏe mạnh có thể đi đến tái cấu trúc nợ để thay đổi phần nợ của nó tận dụng các cơ hội thị trường bằng cách thay các khoản nợ chi phí cao hiện tại bằng các khoản vay có chi phí thấp.

Một công ty đang đối mặt với vấn đề thanh khoản hoặc vấn đề về khả năng chịu nợ thấp có thể đi đến tái cấu trúc nợ để giảm chi phí vay và tăng vị trí vốn lưu động.

Một công ty không thể thanh toán các nghĩa vụ tài chính hiện tại với tài nguyên và tài sản sẵn có của nó, cũng có thể đi đến tái cấu trúc. Trong ngắn hạn, một công ty không có khả năng thanh toán tiến hành tái cấu trúc để giúp công ty thoát khỏi sự thua lỗ và có khả năng thanh toán trong tương lai.

Các thành phần của tái cấu trúc nợ

Tái cấu trúc các khoản vay dài hạn có đảm bảo

Tái cấu trúc các khoản vay dài hạn không có đảm bảo

Tái cấu trúc các khoản vay vốn lưu động có đảm bảo

Tái cấu trúc các khoản vay ngắn hạn khác

Tái cấu trúc các khoản vay dài hạn có đảm bảo. Tái cấu trúc các khoản vay dài hạn có đảm bảo sẽ được thực hiện vì các lý do sau: giảm chi phí vốn đối với các công ty khỏe mạnh, để cải thiện thanh khoản và tăng dòng tiền đối với các công ty yếu và cũng để cho phép các công ty yếu có thể hồi phục được.

Tái cấu trúc các khoản vay dài hạn không có đảm bảo. Tái cấu trúc các khoản vay dài hạn không có đảm bảo sẽ được thực hiện tùy thuộc vào loại khoản vay. Các loại khoản vay này có thể là tiền gửi của chính phủ, vay cá nhân (không đảm bảo), trái phiếu không bảo đảm hoặc ghi nợ. Đối với tiền gửi của chính phủ, các điều hoản của tiền gửi chỉ có thể được đàm phán nếu chương trình được phê duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền.

Tái cấu trúc các khoản vay vốn lưu động có đảm bảo. Hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại, các khoản vay không kỳ hạn, thấu chi, chiết khấu hóa đơn và giấy thương mại thuộc các khoản vay vốn lưu động. Tất cả các khoản này đều được đảm bảo dựa trên hàng tồn kho và sổ nợ và cũng dựa trên các tài sản khác của công ty. Tái cấu trúc các khoản vay vốn lưu động có đảm bảo hầu như giống với trường hợp các khoản vay có thời hạn.

Tái cấu trúc các khoản vay ngắn hạn khác. Các khoản vay ngắn thường không cần cơ cấu lại. Chúng có thể được đàm phán lại với các điều khoản mới. Loại vay ngắn hạn này có thể là tiền gửi liên doanh nghiệp.

2. Tái cấu trúc vốn cổ phần

Mua lại cổ phiếu từ cổ đông để lấy tiền mặt có thể cơ cấu lại vốn cổ phần. Điều này giúp giảm trách nhiệm của công ty với cổ đông của nó dẫn đến giảm vốn bằng trả lại vốn cổ phần. Một phương pháp khác tương tự là thay đổi vốn chủ sở hữu thành cổ phiếu ưu đãi có thể mua lại hoặc cho vay.

Tái cấu trúc vốn cổ phần có thể được thực hiện bằng cách viết xuống vốn chia sẻ bằng các mục kế toán thích hợp. Điều này sẽ giúp giảm số tiền mà công ty còn nợ các cổ đông mà không cần phải hoàn trả vốn cổ phần bằng tiền mặt.

Tái cấu trúc cũng có thể được thực hiện bằng cách giảm hoặc bỏ các khoản phí mà các cổ đông cần phải trả.

Tái cấu trúc cũng có thể được thực hiện bằng cách hợp nhất vốn cổ phần hoặc bằng cách phân chia cổ phần.

Lý do đằng sau tái cấu trúc vốn cổ phần

Sửa chữa tổng giá trị cổ phiếu

Bảo vệ cổ phần quản lý

Giúp cổ đông thoát khỏi thời kỳ thị trường ế ẩm bằng cách cung cấp thanh khoản cho họ thông qua việc mua lại.

Tổ chức lại vốn để đạt được hiệu quả tốt hơn.

Để xóa lỗ lũy kế

Để xóa bỏ các khoản chi tiêu không được chấp nhận

Để duy trì tỷ lệ nợ – vốn chủ sở hữu

Để đánh giá lại tài sản

Để nâng cao tài chính mới

Theo MBA Knowledge Base

Cấu Trúc Vốn Là Gì? Các Yếu Tố Bên Trong Và Bên Ngoài Nào Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn?

Cấu trúc vốn được cấu thành từ hai từ, “Cấu trúc” và “Vốn”. Từ “Vốn” dùng để chỉ sự đầu tư của các quỹ vào kinh doanh trong khi “Cấu trúc” có nghĩa là sắp xếp các thành phần khác nhau theo tỷ lệ thích hợp. Cấu trúc vốn có nghĩa là “hỗn hợp tài chính”. Nó đề cập đến tỷ lệ giữa các chứng khoán khác nhau được huy động bởi một công ty cho tài chính dài hạn.

Các yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc vốn được chia thành hai loại: Yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài.

i. Quy mô và bản chất của kinh doanh:

Quy mô kinh doanh có tác động lớn đến cấu trúc vốn của nó. Những mối quan tâm giao dịch gia tăng vốn bằng cách phát hành vốn cổ phần cũng như cổ phiếu ưu đãi vì chúng đòi hỏi nhiều vốn lưu động hơn. Các công ty nhỏ bị hạn chế khả năng để huy động vốn từ các nguồn bên ngoài. Các công ty lớn sở hữu các khoản đầu tư lớn; do đó họ có thể phát hành các khoản nợ bằng cách phát hành trái khoán của các tài sản cố định như đất đai, nhà cửa, máy móc, v.v.

Các công ty đó thích huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu vốn chủ sở hữu cùng với các trái khoán.

ii. Tỷ trọng vốn vay:

Tỷ lệ giữa vốn nợ (lãi cố định) và vốn chủ sở hữu (cổ tức thay đổi) được gọi là tỷ trọng vốn vay. Tỷ trọng sẽ cao khi tỷ lệ vốn nợ cao hơn vốn cổ phần, còn tỷ trọng sẽ thấp khi tỷ lệ vốn nợ thấp so với vốn cổ phần. Để bảo vệ lợi ích của các cổ đông vốn, công ty thường kết hợp một cách hợp lý các loại chứng khoán khác nhau trong cấu trúc vốn của mình.

iii. Yêu cầu về vốn:

iv. Thu nhập phù hợp và tình hình tiền mặt:

Các công ty đã phát triển với thu nhập ổn định (dòng tiền ổn định) sử dụng lượng lớn vốn nợ trong cơ cấu vốn của họ vì họ có khả năng trả lãi suất cố định được.

Các công ty có thu nhập không ổn định (dòng tiền không dự đoán được) không nên lựa chọn vốn nợ trong cơ cấu vốn của họ vì họ có thể gặp khó khăn trong việc trả số tiền lãi cố định.

vi. Thời kỳ tài chính:

vii. Giao dịch trên vốn chủ sở hữu:

Nếu lãi suất của khoản nợ thấp hơn mức thu nhập của công ty, các cổ đông vốn chủ sở hữu được chia cổ tức bổ sung. Điều này làm tăng uy tín tín dụng của công ty và công ty có thể tăng thêm khoản vay với lãi suất thấp hơn.

Mặt khác, nếu thu nhập của công ty không đủ, nó có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính vì khoản tiền lãi từ nợ phải trả ngay cả khi thua lỗ. Toàn bộ thu nhập có thể trở nên cạn kiệt bởi việc thanh toán lãi. Trong trường hợp này, không có cổ tức nào được công ty tuyên bố. Nếu không có cổ tức được trả cho cổ phiếu vốn, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến uy tín tín dụng của công ty.

Do đó, giao dịch trên vốn chủ sở hữu là con dao hai lưỡi. Nó có thể làm tăng thu nhập của cổ đông nếu mọi thứ đi theo một hướng thích hợp. Mặt khác, nó cũng làm tăng nguy cơ mất mát trong điều kiện không thuận lợi.

viii. Thái độ của bộ máy quản lý:

Cơ cấu vốn bị ảnh hưởng bởi thái độ của những người thuộc bộ máy quản lý. Nếu bộ máy quản lý muốn có quyền kiểm soát độc quyền, họ sẽ huy động vốn thông qua cổ phiếu ưu đãi và vốn nợ. Vì người nắm giữ cổ phiếu đó không được hưởng bất kỳ quyền biểu quyết nào, họ không thể can thiệp vào việc quản lý công ty.

ix Tăng trưởng của công ty kinh doanh:

Yêu cầu về vốn của một công ty phụ thuộc vào giai đoạn phát triển. Ở giai đoạn đầu, nguồn tài chính chủ yếu là cổ phiếu vốn và các khoản vay ngắn hạn. Khi giai đoạn tiến triển, yêu cầu tăng lên và tiền được mua bằng cách phát hành các khoản nợ và cổ phiếu ưu đãi.

B. Yếu tố bên ngoài:

Các phương pháp tài chính khác nhau nên được xem xét tùy thuộc vào các điều kiện thị trường hiện hành. Nếu thị trường cổ phiếu đang trong tình trạng suy giảm, công ty nên huy động vốn bằng cách phát hành các khoản nợ.

Mặt khác, ở giai đoạn tăng trưởng trong thị trường cổ phiếu, công ty nên huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu vốn chủ sở hữu.

ii. Thái độ của các nhà đầu tư:

Thái độ của các nhà đầu tư cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc vốn. Nếu các nhà đầu tư thích mạo hiểm và mong đợi thu được lợi nhuận cao hơn, họ sẽ đầu tư vào cổ phiếu vốn chủ sở hữu. Nếu các nhà đầu tư muốn kiếm thu nhập an toàn, đảm bảo và không sẵn sàng chấp nhận rủi ro, họ sẽ đầu tư vào cổ phiếu ưu đãi và/hoặc ghi nợ.

iii. Các quy tắc và quy định của chính phủ:

Theo SEBI, tỷ lệ vốn chủ sở hữu nợ thông thường là 2:1. Tuy nhiên, trong trường hợp các dự án thâm dụng vốn lớn, tỷ lệ cho phép là 3:1. Chính phủ cung cấp viện trợ và nhượng bộ cho các dự án công nghiệp nhỏ để tăng thêm vốn nợ.

iv. Tỷ lệ lãi suất:

v. Cạnh tranh:

Công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt nên huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu vốn chủ sở hữu vì thu nhập của họ không nhất định và đầy đủ.

Tuy nhiên, công ty có vị thế độc quyền trên thị trường có thể phát hành vốn nợ vì sự chắc chắn của thu nhập.

vi. Chi phí vốn:

Chi phí vốn là lợi nhuận tối thiểu dự kiến ​​của nhà cung cấp/nhà đầu tư. Lợi nhuận kỳ vọng thu được phụ thuộc vào mức độ rủi ro. Trong trường hợp của chủ nợ, lãi suất được cố định và khoản vay được hoàn trả trong khoảng thời gian quy định. Một mức độ rủi ro cao được giả định bởi các cổ đông vốn chủ sở hữu thay vì bởi các chủ nợ. Trong trường hợp của các cổ đông, tỷ lệ cổ tức không cố định và vốn của họ chỉ được hoàn trả khi công ty bị thanh lý. Vì vậy, nợ là một nguồn vốn rẻ hơn vốn chủ sở hữu. Vốn cổ phần ưu đãi cũng rẻ hơn nhưng không rẻ bằng nợ.

Tuy nhiên, công ty không thể giảm thiểu chi phí vốn bằng cách chỉ sử dụng nợ. Lý do là vì nợ trở nên đắt đỏ hơn một mức nhất định do rủi ro nợ quá mức gia tăng.

vii. Thái độ của các tổ chức tài chính:

Thái độ của các tổ chức tài chính sẽ được xem xét trong khi xác định cấu trúc vốn. Nếu các tổ chức tài chính quy định các điều khoản cho vay cao, thì công ty nên chuyển sang nguồn tài chính khác.

Tuy nhiên, nếu các tổ chức tài chính quy định các điều khoản cho vay một cách dễ dàng, công ty nên lấy tiền từ các tổ chức đó.

viii. Thuế:

Tiền lãi trả cho nợ là khoản chi miễn thuế trong khi cổ tức thì không được coi là khoản chi miễn thuế cho công ty.

Do đó, việc phát hành vốn nợ được ưu tiên hơn việc phát hành vốn cổ phần. Các công ty có thuế cao hơn sử dụng vốn nợ vì đây là một khoản chi phí miễn thuế.