Nêu Cấu Tạo Tế Bào Thần Kinh / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 5/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Nêu Cấu Tạo Của Tế Bào Thần Kinh

Nơron là đơn vị cấu tạo cơ bản của hệ thần kinh. Toàn bộ hệ thần kinh có khoảng 1.000 tỉ nơron. Mỗi nơron gồm các bộ phận sau (hình 11.1):

– Thân nơron: Thân nơron là chỗ phình to của nơron chứa bào tương, nhân và các bào quan: ribosom, thể Nissl có màu xám, bộ máy Golgi, lysosom, các sắc tố, ty thể, ống siêu vi, tơ thần kinh. Vì vậy, nơi nào tập trung nhiều thân nơ ron thì tổ chức thần kinh có màu xám (ví dụ: vỏ não, các nhân xám dưới vỏ, chất xám tủy sống…).Thân nơ ron có chức năng dinh dưỡng cho nơron. Ngoài ra, thân nơron có thể là nơi phát sinh xung động thần kinh và cũng có thể là nơi tiếp nhận xung động thần kinh từ nơi khác truyền đến nơron.

– Đuôi gai: Mỗi nơron thường có nhiều đuôi gai, mỗi đuôi gai chia làm nhiều nhánh. Đuôi gai là bộ phận chủ yếu tiếp nhận xung động thần kinh truyền đến nơron. – Sợi trục: Mỗi nơron chỉ có một sợi trục. Sợi trục và đuôi gai tạo nên dây thần kinh và chất trắng của hệ thần kinh. Sợi trục là bộ phận duy nhất dẫn truyền xung động thần kinh đi ra khỏi nơron. Đường kính của các sợi trục rất khác nhau, từ 0,5 μm – 22 μm. Vỏ của sợi trục (axolemme) có ở tất cả các sợi trục có myelin và không myelin. Bao myelin được hình thành do các tế bào Schwann được gọi là eo Ranvier. Khoảng cách giữa hai eo Ranvier dài khoảng 1,5 – 2 mm. Bao myelin được xem là chất cách điện, còn màng tại eo Ranvier lại có tính thấm cao đối với các ion, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dẫn truyền hưng phấn theo sợi trục được nhanh chóng. Phần cuối sợi trục có chia nhánh, cuối mỗi nhánh có chỗ phình to ra gọi là cúc tận cùng. Cúc tận cùng là bộ phận của nơ ron tham gia cấu tạo một cấu trúc đặc biệt gọi là xy náp (synapse).

Tế Bào Thần Kinh: Cấu Tạo, Hoạt Động Và Chức Năng

Tế bào thần kinh là một trong các loại tế bào quan trọng nhất của con người. Chúng chịu trách nhiệm nhận và truyền đạt thông tin từ khắp các vùng trên cơ thể. Thông qua các tín hiệu điện và hóa học, tế bào thần kinh đã phối hợp để tạo ra các chức năng cần thiết cho sự sống.

Từ đó, nó quyết định các phản ứng của cơ thể và thay đổi trạng thái của các cơ quan nội tạng (ví dụ như thay đổi nhịp tim). Đồng thời hệ thần kinh cũng cho phép con người suy nghĩ và ghi nhớ những gì đang diễn ra. Để làm điều này, hệ thần kinh cần có một mạng lưới tinh vi. Đó là sự kết nối phức tạp giữa các tế bào thần kinh.

1. Tế bào thần kinh là gì?

Tế bào thần kinh còn được gọi là neuron (theo tiếng Pháp). Chúng là những tế bào có chức năng dẫn truyền xung điện. Các tế bào thần kinh chiếm khoảng mười phần trăm não bộ. Phần còn lại bao gồm các tế bào thần kinh đệm và tế bào hình sao. Những tế bào này giúp hỗ trợ và nuôi dưỡng tế bào thần kinh.

Người ta ước tính rằng có khoảng 86 tỷ tế bào thần kinh trong não. Để đạt được con số khổng lồ này, một bào thai đang phát triển phải tạo ra khoảng 250.000 tế bào thần kinh mỗi phút. Đây là loại tế bào dài nhất cơ thể và được biệt hóa cao. Vì vậy chúng không có khả năng phân chia. Bù lại chúng có khả năng tái sinh một phần của tế bào nếu bị tổn thương.

Mỗi neuron được kết nối với 1.000 neuron khác, tạo ra một mạng lưới giao tiếp cực kỳ phức tạp. Tế bào thần kinh được xem là đơn vị cơ bản của hệ thống thần kinh.

2. Cấu trúc tế bào thần kinh bao gồm những thành phần nào?

Các tế bào thần kinh chỉ có thể được nhìn thấy bằng kính hiển vi, được chia thành ba phần:

Thân tế bào: là chỗ phình to của neuron. Bao gồm nhân tế bào, lưới nội sinh chất, ty thể, ribosom, lysosom, bộ máy Golgi, tơ thần kinh, ống siêu vi và các bào quan khác. Thân tế bào cung cấp dinh dưỡng cho neuron, có thể phát sinh xung động thần kinh và có thể tiếp nhận xung động thần kinh từ nơi khác truyền tới neuron.

Sợi nhánh, còn gọi là đuôi gai: là các tua ngắn mỏng manh mọc ra từ thân tế bào. Mỗi neuron đều có nhiều đuôi gai, mỗi đuôi gai được chia thành nhiều nhánh. Chúng có chức năng tiếp nhận các xung thần kinh từ tế bào khác, truyền chúng tới thân tế bào. Đây là tín hiệu hướng tâm. Tác động của các xung này có thể là kích thích hoặc ức chế.

Sợi trục: sợi đơn dài mang thông tin từ thân tế bào và chuyển đến các tế bào khác. Đường kính của các sợi trục thường có kích thước khác nhau, dao động từ từ 0,5 μm – 22 μm. Dọc sợi trục được bao bọc bởi một lớp vỏ myelin, tạo thành bởi các tế bào Schwann. Bao myelin không liền mạch mà được chia thành từng đoạn. Giữa các bao myelin là các eo Ranvier. Khoảng cách giữa 2 eo Ranvier khoảng 1,5 – 2 mm. Còn diện tích tiếp xúc giữa các nhánh nhỏ phân từ cuối sợi trục của nơ-ron này với sợi nhánh của nơ-ron khác hoặc các cơ quan thụ cảm được gọi là Synapse (khớp thần kinh).

Cả sợi nhánh và sợi trục đôi khi được gọi chung là sợi thần kinh.

Chiều dài các sợi trục có sự chênh lệch rất nhiều. Một số sợi có thể rất ngắn, trong khi một số khác có thể dài hơn 1 mét. Các sợi trục dài nhất còn được gọi là hạch rễ lưng. Đây là một cụm các tế bào thần kinh mang thông tin từ da đến não. Ở người cao, một số sợi trục trong hạch rễ lưng xuất phát từ ngón chân cho đến thân não có thể dài tới 2 mét.

3. Phân loại các tế bào thần kinh như thế nào?

Các neuron có thể được chia thành các loại khác nhau theo từng cách phân loại.

Theo hướng dẫn truyền xung thần kinh:

Các neuron ly tâm. Chúng lấy các thông điệp từ hệ thống thần kinh trung ương (não và tủy sống

Các neuron hướng tâm. Nhận thông điệp từ phần còn lại của cơ thể và đưa chúng đến hệ thống thần kinh trung ương.

Neuron trung gian. Truyền tải những thông điệp chuyển tiếp giữa các tế bào thần kinh trong hệ thống thần kinh trung ương.

Theo chức năng của tế bào:

Tế bào thần kinh cảm giác. Mang tín hiệu từ các giác quan đến hệ thống thần kinh trung ương.

Loại tế bào chuyển tiếp. Mang tín hiệu từ nơi này đến nơi khác trong hệ thống thần kinh trung ương.

Tế bào thần vận động. Mang tín hiệu từ hệ thống thần kinh trung ương đến các cơ.

4. Chức năng của tế bào thần kinh là gì?

Chức năng cơ bản của neuron là cảm ứng và dẫn truyền xung thần kinh. Cụ thể:

Cảm ứng là khả năng tiếp nhận và phản ứng lại các kích thích bằng hình thức phát xung thần kinh.

Dẫn truyền là khả năng lan truyền xung thần kinh theo một chiều từ nơi phát sinh. Hay là tiếp nhận về thân nơron và truyền đi theo dọc sợi trục.

5. Quá trình dẫn truyền tín hiệu thần kinh như thế nào?

Một tế bào thần kinh nhận được tín hiệu đầu vào từ các tế bào thần kinh khá. Các tín hiệu này cộng lại cho đến khi chúng vượt quá một ngưỡng cụ thể.

Vượt quá ngưỡng, tế bào thần kinh được kích hoạt, gửi một xung điện dọc theo sợi trục của nó. Quá trình này được gọi là điện thế hoạt động. Một điện thế hoạt động được tạo ra bởi sự chuyển động của các nguyên tử tích điện (ion) trên màng sợi trục.

Các tế bào thần kinh khi nghỉ ngơi, bên trong tích điện âm nhiều hơn bên ngoài màng tế bào. Điều này tạo nên điện thế màng, hoặc là điện thế nghỉ. Độ lớn thường khoảng -70 millivolts (mV).

Khi thân tế bào của một dây thần kinh nhận đủ tín hiệu để kích hoạt, một phần sợi trục gần thân tế bào sẽ khử cực. Điện thế màng nhanh chóng tăng lên và sau đó giảm xuống (trong khoảng 1.000 giây). Sự thay đổi điện thế này kích hoạt quá trình khử cực trong phần sợi trục bên cạnh nó. Và cứ thế tiếp tục, cho đến khi đã đi dọc theo toàn bộ chiều dài của sợi trục.

Sau khi mỗi phần được hoạt hóa, nó đi vào một trạng thái siêu phân cực ngắn. Đây là thời kì trơ, do đó nó ít có khả năng được kích hoạt lại ngay lập tức.

Thông thường, ion kali (K +) và natri (Na +) đóng vai trò chính tạo ra điện thế hoạt động. Các ion di chuyển vào và ra khỏi các sợi trục thông qua kênh và bơm ion có điện thế.

Đây là mô tả ngắn gọn quá trình điện thế hoạt động:

Các kênh Na + mở cho phép Na + tràn vào tế bào, làm cho điện thế dương hơn.

Khi tế bào đạt đến một điện tích nhất định, các kênh K + sẽ mở. Các kênh mở cho phép K + thoát ra khỏi tế bào.

Kênh Na + sau đó đóng, kênh K + vẫn mở cho phép điện tích dương rời khỏi tế bào. Điện thế màng giảm dần.

Khi điện thế màng trở về trạng thái nghỉ, các kênh K + sẽ đóng lại.

Cuối cùng, bơm natri / kali vận chuyển Na + ra khỏi tế bào và K + trở lại tế bào. Hoạt động này cần thiết để sẵn sàng cho tiềm năng hành động tiếp theo.

Điện thế hoạt động sẽ làm việc theo nguyên tắc “tất cả hoặc là không”. Nếu kích thích trên ngưỡng thì có hiện tượng khử cực, và ngược lại. Ở các kích thích trên ngưỡng, độ lớn kích thích sẽ thể hiện qua tần số phát xung. Kích thích mạnh hơn sẽ có tần số phát sinh xung điện lớn hơn.

6. Tín hiệu thần kinh dẫn truyền qua các synapse như thế nào?

Các neuron được kết nối với nhau và liên hệ với mô khác để có thể gửi các tín hiệu. Tuy nhiên, nó không được kết nối bằng cách tiếp xúc trực tiếp. Kết nối luôn thông qua khớp nối giữa các tế bào, được gọi là synape.

Các synapse này có thể là điện hoặc hóa học. Nói cách khác, tín hiệu được truyền từ sợi thần kinh đầu tiên (tế bào thần kinh tiền synapse) đến tế bào thần kinh tiếp theo (tế bào sau synapse) được truyền qua synapse bằng tín hiệu điện hoặc hóa học.

Synapse hóa học

Một khi tín hiệu dẫn truyền đến đầu tận sợi trục, nó sẽ kích hoạt tế bào thần kinh tiền synapse giải phóng các hóa chất (chất dẫn truyền thần kinh) vào khoảng cách giữa hai tế bào. Khoảng cách này được gọi là khe synapse.

Chất dẫn truyền thần kinh khuếch tán qua khe synap. Chất này tương tác với các thụ thể trên màng tế bào thần kinh sau synapse, gây ra phản ứng.

Các synapse hóa học được phân loại tùy thuộc vào các chất dẫn truyền thần kinh mà chúng giải phóng:

Glutamergic – giải phóng glutamine. Chúng thường có tính kích thích, có nghĩa là chúng có nhiều khả năng kích hoạt điện thế hoạt động.

GABAergic – giải phóng GABA (axit gamma-Aminobutyric). Chúng thường có tính ức chế. Có nghĩa là chúng làm giảm khả năng tế bào thần kinh sau synapse sẽ dẫn truyền xung điện.

Cholinergic – giải phóng acetylcholine. Chúng được tìm thấy giữa các tế bào thần kinh vận động và các sợi cơ (synapse thần kinh cơ).

Adrenergic – giải phóng norepinephrine (adrenaline)

Synapse điện

Synapse điện ít phổ biến hơn, nhưng được tìm thấy trên khắp hệ thống thần kinh trung ương. Trong các synapse điện, các màng sau và trước synapse được đưa lại gần nhau hơn nhiều so với các synapse hóa học, nghĩa là chúng có thể truyền trực tiếp dòng điện.

Các synapse điện hoạt động nhanh hơn nhiều so với các khớp thần kinh hóa học. Vì vậy chúng được tìm thấy ở những nơi cần hành động nhanh, ví dụ như trong các phản xạ phòng thủ.

Các synapse hóa học có thể kích hoạt các phản ứng phức tạp. Nhưng các khớp thần kinh điện chỉ có thể tạo ra các phản ứng đơn giản. Tuy nhiên, không giống như các khớp thần kinh hóa học, synapse điện có thể dẫn truyền hai chiều – nghĩa là thông tin có thể đi theo một trong hai hướng.

Tế bào thần kinh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong điều hòa hoạt động cơ thể. Gần như tất cả hoạt động sống đều chịu sự điều khiển của tế bào này. Đó là cả mạng lưới liên kết phức tạp nhưng nhịp nhàng và có tốc độ dẫn truyền cao. Điều đó đảm bảo cho cơ thể hoạt động đồng bộ và chính xác.

Bác sĩ Lương Sỹ Bắc

Đặc Điểm Sinh Lý Của Tế Bào Thần Kinh

Hệ thần kinh là một tổ chức phức tạp gồm hơn một ngàn tỷ (trillion) tế bào thần kinh.

Hệ thần kinh gồm hai loại tế bào: tế bào thần kinh (nơrôn) và tế bào gian thần kinh (glial cell).

Nơrôn có chức năng truyền thông tin rất nhanh từ tế bào nầy sang tế bào khác, chịu trách nhiệm phối hợp giữa tiếp nhận cảm giác và vận động.

Các tế bào gian thần kinh hỗ trợ, duy trì môi trường quanh nơrôn và giúp truyền tín hiệu nhanh.

1.1. Các nơrôn

Các nơrôn còn gọi là tế bào thần kinh.Chúng gồm có 4 vùng chức năng:

Thân tế bào: là trung tâm chuyển hóa của tế bào, có chứa các thành phần cần thiết cho việc sản xuất, đóng gói protein, được sử dụng trong nhiều phần khác nhau của tế bào, để duy trì nhiều chức năng khác nhau của tế bào.

Đuôi gai: có cấu trúc sợi phân nhánh, đuôi gai và thân tế bào tạo thành bề mặt của nơrôn, nhận tín hiệu từ các tế bào thần kinh khác.

Sợi trục: hình sợi dài, đoạn đầu là vùng nhạy cảm, phát động xung thần kinh còn gọi là gò sợi trục. Thân sợi trục có 2 loại:

Loại có myelin: không liên tục mà có những nơi không có myelin gọi là eo Ran-vier, bao myelin có tính cách điện.

Loại không có myelin, sợi trục được bao quanh bởi tế bào Schwann. Đầu cuối của sợi trục là các đầu tận cùng tiếp xúc với các tế bào thần kinh khác qua xinap.

1.1.1. Các loại nơrôn

Nơrôn nhiều cực: có nhiều đuôi gai ngắn và một sợi trục dài.

Nơrôn hai cực: một sợi trục và một đuôi gai ở hai hướng đối diện qua thân tế bào.

Nơrôn một cực: có một nhánh ngắn tỏa ra từ sợi trục và một đuôi gai.

Phân loại theo chức năng:

Nơrôn được phân loại theo 2 cách:

Nơrôn cảm giác còn gọi là nơrôn hướng tâm, mang tín hiệu từ các kích thích ngoài vào trong cơ thể từ các thụ thể cảm giác về hệ thần kinh trung ương.

Nơrôn vận động còn gọi là nơrôn ly tâm mang tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương ra ngoại biên (đến cơ)

Nơrôn trung gian: có nhiều ở tủy sống, liên lạc giữa nơrôn cảm giác và nơrôn vận động và phối hợp chức năng của chúng. Nơrôn vận động thường nhiều cực trong khi nơrôn cảm giác thường một cực.

1.1.2. Cấu trúc chuyên biệt của nơrôn

Nhân: chứa tín hiệu di truyền cần cho sự tổng hợp các protein đặc biệt, nhân to, phần thực sự của tín hiệu di truyền nằm trong các génom. Vì có hoạt động sao chép cao, nên chromatin của nhân ở dưới dạng phân tán trong khi ở tế bào gian thần kinh thì chro- matin tụ lại quanh mặt trong màng nhân. Nhân có chứa một hay hai hạt nhân, thường gắn với các thể đậm (dense bodies). Một trong những thể đậm đi cùng với hạt nhân, ở phụ nữ là thể Barr là chromatin cô đặc của nhiễm sắc thể X bất hoạt.

Ribosom: tổng hợp protein. Phần lớn protein do ribosom tự do và ribosom tổng hợp thì ở trong tế bào, trong khi protein do lưới nội bào tương có hạt (RER) thì được xuất ra ngoài. Sợi trục không chứa RER và không tổng hợp được protein. Đuôi gai có chứa ribosom và RNA, nên có thể có vai trò quan trọng trong điều hòa chức năng đuôi gai.

Bộ Golgi: đóng gói các protein mới được sản xuất trong RER, và xuất ra khỏi RER dưới dạng túi nhỏ. Các túi nhỏ này vào trong bào tương được chở dọc theo sợi trục đến đầu tận cùng.

Bộ xương của nơrôn: Sự chuyên chở protein từ bộ Golgi và trong các dạng đặc biệt của nơrôn lệ thuộc vào mạng lưới bên trong tế bào. Mạng lưới này gồm các vi sợi, tơ thần kinh và các vi ống. Các vi sợi (microfilament) gồm actin là protein co thắt, đường kính 4 – Smicromet, chúng có nhiều trong đuôi gai. Các tơ thần kinh (neurofilament) có nhiều ở sợi trục và đuôi gai, tạo độ cứng cho cấu trúc. Chúng có đường kính lOmicromet, chứa 3 loại protein (70Kd, 140Kd, 220Kd)

Các vi ống chịu trách nhiệm cho các cử động nhanh của vật chất trong đuôi gai và sợi trục, đường kính 23micromet, gồm có chất tabublin (52 – 56Kd), có một protein phụ gọi là MAPS (microtubule – associated protein), loại MAPS có trọng lượng phân tử thấp có ở sợi trục, còn MAPS có trọng lượng phân tử cao có ở đuôi gai.

1.1.3. Cơ chế chuyên chở trong đuôi gai và sợi trục

Vận tốc chậm 1 – 2mm/ngày: chuyên chở các chất như actin, tơ thần kinh, vi ống.

Vận tốc nhanh 400 mm/ngày: chuyên chở các tiểu quan, túi, glycoprotein màng cần dùng ở đầu tận cùng. Cơ chế chuyên chở này cần Ca++ glucose và ATP.

Các chất có thể được chuyên chở dọc theo sợi thần kinh, theo hướng từ đầu tận cùng về thân tế bào do Kinesin, là một protein liênquan với vi ống, chuyên chở các tiểu quan (organelles) và túi nhỏ qua hiện tượng thủy phân ATP. Các chất cũng có thể được chuyênchở theo chiều từ thân tế bào đến đầu tận cùng, qua trung gian của vi ống và protein dynein.

Trong sợi trục: chuyên chở về hướng thân tế bào xảy ra với vận tốc nhanh và chậm.

Trong cách chuyên chở theo hướng về đầu tận cùng, vật chất được mang đến đầu tận cùng và qua cơ chế này, thân tế bào lấy những mẫu từ môi trường bên ngoài quanh các nút tận cùng, ớ một vài nơrôn, sự duy trì mối liên lạc ở xináp tùy thuộc sự chuyên chở xuyên nơrôn của các chất dinh dưỡng, như yếu tố gây tăng trưởng thần kinh (NGF: nerve growth factor) qua xinap. Sau khi được chở đến thân tế bào, NGF hoạt hóa cơ chế tổng hợp protein.

1.1.4. Các kênh ion tại màng tế bào thần kinh

Xung điện gây ra sự truyền thần kinh gọi là điện thế động, độc lập với đặc tính của màng sợi trục. Tại màng có 3 loại kênh ion.

– Kênh lon thụ động: được tìm thấy ở khắp nơi trên tế bào: Kênh Na+, K+, Ca++, Cl

– Kênh ion bị kích hoạt hóa học: Có trên thân tế bào và đuôi gai. Những kênh này đóng bởi các “cửa ” ngăn dòng ion qua màng. Các chất hóa học gắn vào các vị trí trên kênh protein này và mở cửa.

Kênh ion bị kích hoạt bởi điện thế: có trên màng sợi trục và thân tế bào, có trách nhiệm phát sinh và làm lan truyền điện thế động.

2. Đặc tính sinh lý của tế bào thần kinh

2.1. Điện thế màng

Điện thế màng có được do:

Sự khác biệt về số ion dương và âm ở hai bên màng, tạo ra độ sai biệt điện thế. Trong nhiều tế bào thần kinh, độ sai biệt điện thế E vào khoảng -0,060V hay -60mV. Sự sai biệt điện thế này làm các ion di chuyển qua màng qua các kênh ion.

Sự phân phối ion trong và ngoài tế bào thần kinh giống với hầu hết tế bào trong cơ thể:

K+ trong tế bào nhiều hơn ngoài tế bào.

Na+ trong tế bào thấp hơn ngoài tế bào.

K+ có khuynh hướng đi ra ngoài tế bào, Na+ đi vào tế bào, theo độ sai biệt nồng độ, sự khuếch tán này vẫn tiếp tục cho đến khi có cân bằng nồng độ. Bơm Na/K – ATPase tại màng tác dụng bơm Na+ ra khoảng ngoại bào và K+vào trong tế bào. Do đó, bơm Na/K vẫn duy trì độ sai biệt nồng độ Na+ và K+ ở hai bên màng, mặc dù sự khuếch tán theo độ sai biệt nồng độ vẫn xảy ra. Màng tế bào thần kinh khi nghỉ ngơi có tính thấm nhiều hơn với K+.

2.2. Điện thế động

Khi bị kích thích, xung điện được truyền đi trong tế bào thần kinh. Sau khi bị kích thích, có một thời gian ngắn điện thế không thay đổi, đó là thời gian tiềm tàng, tương ứng với thời gian xung đi dọc sợi trục từ điểm bị kích thích đến điện cực ghi. Thời gian tiềm tàng tỷ lệ với khoảng cách giữa hai điện cực và vận tốc dẫn truyền xung trong sợi trục. Nếu biết thời gian tiềm tàng, khoảng cách giữa hai điện cực, có thể tính được vận tốc dẫn truyền xung trong sợi trục.

Điện thế màng sau khi bị kích thích, trở nên dương hơn (bị khử đạt đến có trị số vào khoảng -45mV, điện thế màng thay đổi rất nhanh đến trị số dương tối đa vào khoảng +25mV và sau đó bắt đầu tái cực.

Khi tái cực độ 70% nhịp tái cực giảm dần, và trị số điện thế trở về trị số ban đầu rất chậm: giai đoạn khử hay điện thế âm chậm. Khi trở về trị số lúc đầu, điện thế màng còn âm hơn lúc đầu: đó là giai đoạn tăng cực chậm hay điện thế dương chậm.

Trạng thái nghỉ: cửa đóng

Trạng thái bị kích hoạt: khi điện thế màng đến ngưỡng (45mV) cửa kích hoạt mở, Na+ vào tế bào cho tới khi kênh bị đóng bởi cửa bất hoạt.

Trạng thái bị bất hoạt: cửa bất hoạt đóng. Cửa này lệ thuộc thời gian và độc lập với cửa kích hoạt.

Cơ chế: Sự thay đổi điện thế khi có kích thích là do sự đóng và mở các kênh ion nhạy cảm với điện thế điều hòa dòng Na+ đi vào tế bào, và dòng K+ đi ra ngoài.

Khi trị số điện thế màng đạt đến ngưỡng, điện thế này cho phép mở cửa các kênh ion. Kênh Na+ có 3 trạng thái:

Khi cửa kích hoạt mở, Na+ vào tế bào và gây khử cực nhanh.

Ngoài ra, khi điện thế đạt đến ngưỡng, kênh K+ nhạy cảm với điện thế cũng mở, K+ ra ngoài tế bào. Kênh K+ không có cửa bất hoạt. Kênh này đóng không bị lệ thuộc thời gian mà chỉ lệ thuộc điện thế. Khi màng bị khử cực, kênh K+ mở, khi màng tái cực, kênh K+ đóng. Sự mở các kênh Na* càng nhiều, khử cực càng nhanh, ớ điện thế động, màng có tính thấm nhiều với Na+ hơn K+, do đó E gần bằng điện thế quân bình của Na+ hơn K+. Sau đó, kênh Na+ bất hoạt và đóng, Na+ không vào tế bào nữa và gây tái cực. Lúc này, tính thấm của màng đối với K+ cao hơn đối với Na+. Sau cùng, sự mở kênh K+ gây ra dòng K+ ra ngoài quá lâu, làm điện thế màng vẫn giữ tăng phân cực trước khi trở về bình thường.

Nhiệt nghỉ: khi không hoạt động, do các phản ứng chuyển hóa.

Nhiệt ban đầu

Nhiệt hồi phục: sau giai đoạn hoạt động ở dây thần kinh, nhiệt hồi phục sau một xung duy nhất vào khoảng 30 lần lớn hơn nhiệt ban đầu và nhiệt ban đầu, được sản xuất trong suốt giai đoạn khử cực chậm.

3. Nguồn gốc năng lượng và chuyển hóa của dây thần kinh

Phần lớn nhu cầu năng lượng của dây thần kinh dùng để giữ cho sự phân cực màng. Năng lượng cung cấp cho bơm Na+– K+ là từ sự thủy phân ATP. Khi hoạt động tế bào thần kinh tăng, nhịp chuyển hóa cũng tăng, có thể tăng 100 lần hơn cơ xương. Một phần năng lượng sẽ thải ra ngoài dưới dạng nhiệt:

Dùng kích thích dưới ngưỡng: không có đáp ứng

Tăng cường độ kích thích: các sợi trục có ngưỡng thấp sẽ phát xung trước, sau đó đến các sợi trục có ngưỡng cao, đến khi có kích thích đủ mạnh để kích thích tất cả các sợi trục trong dây thần kinh. Kích thích này là kích thích cực đại. Điện thế động của dây thần kinh pha có nhiều đỉnh, gọi là phức hợp điện thế động. Số lượng và cỡ lớn của các đỉnh thay đổi với các loại sợi trong dây thần kinh.

4. Dây thần kinh pha

Những dây thần kinh ngoại biên loài có vú được cấu tạo bởi nhiều sợi trục gắn chung trong một bao sợi. Điện thế động ghi được từ những sợi thần kinh này gồm tổng đại số các điện thế động của nhiều sợi trục.

Nêu Cấu Tạo Và Chức Năng Của Các Thành Tế Bào Ở Thủy Tức

1)Thành cơ thể của thủy tức gồm hai lớp tế bào.

2)Thành ngoài gồm 4 loại tế bào

-Tế bào mô bì cơ: hình trụ có rễ, chứa nhân ở phía ngoài và chứa tơ cơ xếp dọc theo chiều dài của cơ thể ở phía trong, vừa giữ chức năng bảo vệ của mô bì vừa tạo thành một tầng co rút theo chiều dọc của cơ thể.

-Tế bào gai: phân bố khắp cơ thể nhưng tập trung nhiều nhất trên tua miệng, giữ nhiệm vụ tấn công và tự vệ.

-Tế bào cảm giác: hình thi nằm xen giữa các tế bào mô bì cơ, có tơ cảm giác hướng ra ngoài còn gốc phân nhánh ở trong tần keo.

-Tế bào thần kinh: hình sao, có các rễ liên kết với nhau trong tần keo tạo thành hệ thần kinh mạng lưới đặc trưng của ruột khoang. Mạng lưới này liên kết với rễ của tế bào cảm giác và với gốc của tế bào mô bì vơ và các tế bào gai tạo thành một cung phản xạ, tuy còn đơn giản nhưng xuất hiện lần đầu ở động vật đa bào.

-Tế bào trung gian: là loại tế bào chưa phân hóa cơ bé, nằm ngay trên tầng keo, có thể hình thành tế bào gai để thay thế chúng sau khi hoạt động hoặc tạo nên tế bào sinh dục.

*Thành trong giới hạn khoang vị cho tới lỗ miệng, gồm hai loại tế bào:

-Tế bào mô bì cơ tiêu hóa: có các tơ cơ ở phần gốc xếp thành vành theo hướng thẳng góc với hướng của tơ cơ trong tế bào mô bì cơ của thành ngoài. Khi hoạt động chúng tạo thành một tầng co rút đối kháng với tầng co rút của thành ngoài. Phần hướng vào khoang vị của tế bào này có 1-2 roi, có khả năng tạo chân giả để bắt các vụn thức ăn nhỏ tiêu hóa nội bào.

-Tế bào tuyến: nằm xen giữa các tế bào mô bì cơ tiêu hóa, với số lượng ít hơn. Chúng tiết dịch tiêu hóa vào trong khoang vị và tiêu hóa ngoại bào. Như vậy ở ruột khoang có sự chuyển tiếp giữa tiêu hóa nội bào, kiểu tiêu hóa của động vật đơn bào, sang tiêu hóa ngoại bào, kiểu tiêu hóa của động vật đa bào. Thức ăn của thủy tức nước ngọt phần lớn là giáp xác nhỏ.