Lợi Ích Ròng Trong Kinh Tế Vi Mô / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Kinh Tế Vi Mô 1

Thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá của nhà sản xuất sẽ làm cho:

Vì: Đánh thuế như vậy sẽ làm tăng chi phí sản xuất và do đó làm giảm cung đối với hàng hóa.

Thị trường sản phẩm A có hàm cung và cầu như sau: Ps = 10 + Qs và Pd = 100 – Qd.

Nếu nhà nước đánh thuế t = 10/ sản phẩm, xác định phần thuế mà người tiêu dùng phải chịu/ sản phẩm?

Vì: Xác định điểm cân bằng trước và sau khi chính phủ đánh thuế. Phần tăng giá chính là phần mà người tiêu dùng gánh chịu.

Thu nhập tăng 10% làm cho lượng cầu tăng 5%. Co giãn của cầu theo thu nhập là:

Vì: Tính hệ số co giãn của cầu theo thu nhập theo công thức phần trăm thay đổi của lượng cầu chia cho phần trăm thay đổi của thu nhập.

Một nhà độc quyền có hàm chi phí TC = Q2 + 2Q + 100 và đối diện với hàm cầu P = 122 – Q. Phần mất không nhà độc quyền gây ra đối với xã hội là (DWL):

Vì: Độc quyền luôn quyết định sản xuất theo nguyên tắc MR = MC.

Ta cần tính MR từ hàm cầu và MC từ hàm chi phí đã cho. Từ đó xác định được sản lượng và giá bán. Xác định giá bán và sản lượng bằng nguyên tắc P = MC. Sau đó so sánh 2 quyết định này để tính toán DWL.

Tăng giá một đầu vào cố định sẽ làm cho:

đường tổng chi phí trung bình dịch chuyển lên trên.

Vì: Giá đầu vào cố định tăng sẽ làm tăng chi phí cố định (FC) và do đó sẽ tác động đến ATC mà không tác động đến AVC.

Chi phí cố định của một hãng là 100$. Nếu tổng chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm là 200$ và tổng chi phí sản xuất 2 đơn vị sản phẩm là 310$, chi phí cận biên của đơn vị sản phẩm thứ 2 là:

Vì: Tính chi phí cận biên theo công thức:

Nếu một nhà độc quyền đang sản xuất tại mức sản lượng tại đó chi phí cận biên lớn hơn doanh thu cận biên, nhà độc quyền nên:

tăng giá và giảm sản lượng.

Vì: Độc quyền luôn quyết định sản xuất theo nguyên tắc MR = MC.

Mời bạn tham khảo 10.000 câu trắc nghiệm Kinh Tế Vi Mô: Tại đây

Ai Cũng Cần Phải Học Kinh Tế Vi Mô!

Đã đến lúc cải cách bộ môn kinh tế học vi mô theo hướng đơn giản, dễ hiểu và mang nhiều tính thực tế hơn.

Đã đến lúc cải cách bộ môn kinh tế học vi mô theo hướng đơn giản, dễ hiểu và mang nhiều tính thực tế hơn.

Suốt một thế kỷ vừa qua, các trường đại học hàng đầu thế giới đã giảng dạy kinh tế học vi mô thông qua lăng kính của mô hình Arrow-Debreu về trạng thái cân bằng tương đối. Với cái nhìn sâu hơn về học thuyết “Nguồn gốc của cải của các quốc gia” được đưa ra bởi Adam Smith, mô hình này là hiện thân của vẻ đẹp, sự đơn giản và tính thiếu thực tế của hai định lý cơ bản về trạng thái cân bằng tương đối. 

Học thuyết này cũng đối lập với sự hỗn độn và phức tạp mà các nhà kinh tế học đã tạo ra trong nỗ lực tìm ra cách tốt hơn để minh họa các diễn biến của kinh tế thế giới. Nói cách khác, trong khi các nhà nghiên cứu nỗ lực để hiểu thấu những trường hợp phức tạp của thế giới thực, các sinh viên kinh tế được tiếp cận với những giả thuyết không hề tồn tại trên thực tế. 

Phương pháp giáo dục này xuất phát từ ý tưởng cho rằng đóng khung những suy nghĩ về các vấn đề kinh tế sẽ tỏ ra hữu ích đối với các sinh viên kinh tế hơn so với các mô hình. Tuy nhiên, điều này lại trở thành gánh nặng với một bộ phận khác: đi chệch khỏi mô hình Arrow-Debreu, mọi thứ trở nên quá thực tế và phức tạp và do đó không còn phù hợp với các lớp học. Những suy nghĩ thực tế về kinh tế vi mô chỉ dành cho các chuyên gia. 

Chắc chắn là, các mô hình cơ bản (ví dụ như học thuyết về độc quyền, hàng hóa công cộng hoặc đơn giản là học thuyết thông tin bất cân xứng) có giá trị về mặt giáo dục. Tuy nhiên, có rất ít nhà nghiên cứu làm việc với chúng. Những lý thuyết được sử dụng phổ biến khi nghiên cứu về kinh tế vi mô bao gồm phân tích rủi ro, thị trường hai bên, tín hiệu thị trường, cấu trúc vi mô của thị trường tài chính, đánh thuế tối ưu … Những lý thuyết này phức tạp hơn nhiều và phần lớn bị loại khỏi các cuốn sách giáo khoa. 

Trên thực tế, các cuốn sách giáo khoa về kinh tế vi mô gần như không thay đổi trong ít nhất là 2 thập kỷ qua. Do đó, các sinh viên mới tốt nghiệp gặp nhiều khó khăn để có thể hiểu được những bài báo đậm chất nghiên cứu. 

Mặc dù đúng là các mô hình kinh tế vi mô thực tế phức tạp hơn nhiều so với những gì được viết ra trong sách giáo khoa, không nhất thiết phải mất nhiều năm nghiên cứu để có thể nắm bắt được chúng. 

Một ví dụ là thị trường hai bên. Đây là lý thuyết nói đến sự cạnh tranh giữa các hệ thống có sản phẩm kết nối hai bộ phận người dùng. Hai bộ phận này sau đó cung cấp cho bên còn lại những lợi ích của mạng lưới. Khi một thị trường là thị trường hai bên, rất nhiều kết luận của phân tích chống độc quyền không còn đúng nữa. Thâm nhập thị trường có thể có hại cho người tiêu dùng, hợp đồng độc quyền sẽ khiến số doanh nghiệp tham gia vào thị trường tăng lên.

Nghiên cứu được thực hiện bởi David Evans và Richard Schmalensee miêu tả nhiều trường hợp áp dụng những kết luận cũ dẫn đến sai lầm. Tuy nhiên, có thể hiểu được sự bất đồng về hành vi giữa thị trường hai bên và thị trường truyền thống bằng cách sử dụng những công cụ đơn giản của kinh tế học vi mô cư bản, như sự khác nhau giữa hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ sung. Khi các nhà sản xuất hàng hóa thay thế thông đồng với nhau, họ thường nâng giá hàng hóa. Ngược lại, những nhà sản xuất hàng hóa bổ sung sẽ hợp tác với nhau để hạ giá hàng hóa. 

Thêm vào đó, hợp đồng độc quyền có thể giúp tăng cạnh tranh bằng cách cho phép hai hệ thống hoạt động trong cùng một thị trường. Nói một cách ngắn gọn hơn, với hiểu biết căn bản về sự khác nhau giữa hàng hóa thay thế và bổ sung, ai cũng có thể hiểu về những mô hình kinh tế phức tạp mà không cần phải tốn kém để thuê một chuyên gia. 

Mặc dù mô hình Arrow-Debreu cũng có giá trị riêng (giải thích tại sao một nền kinh tế không có kế hoạch vẫn có thể hoạt động đúng thứ tự), mô hình này không thể khuyến khích sinh viên khi cuối cùng họ phát hiện ra rằng đây là những mô hình khác xa so với thực tế. 

Cải cách quy trình đào tạo kinh tế học vi mô sẽ giúp truyền đạt một thông điệp chính xác hơn và tạo nhiều cảm hứng hơn: kể cả những người có vốn kiến thức trung bình cũng có thể hiểu và áp dụng những ý tưởng phức tạp được phát triển bởi những chuyên gia.

Theo Trí Thức Trẻ/Project Syndicate

29. Trắc Nghiệm – Kinh Tế Vi Mô – Đề Số 14



Trang chủ 29. Trắc nghiệm – Kinh tế Vi mô – Đề số 14

Share

Facebook

Twitter

Digg

LinkedIn

Yahoo! Buzz

Fark

Reddit

Del.icio.us

Một người tiêu thụ có có thu nhập I = 1200đ dùng để mua 2 sản 

phẩm X và Y với Px = 100đ/sp; Py = 300đ/sp. Mức thỏa mãn được thể hiện qua hàm số

 

TUx = -1/3X2 + 10X    TUy = -1/2Y2 + 20Y

Hữu dụng biên của 2 sản phẩm là

MUx = -1/3X + 10 MUy = -1/2Y + 20

MUx = 2/3X + 10 MUy = -Y + 20

MUx = -2/3X + 10 MUy = -Y + 20

Tất cả đều sai.

Một người tiêu thụ có có thu nhập I = 1200đ dùng để mua 2 sản 

phẩm X và Y với Px = 100đ/sp; Py = 300đ/sp. Mức thỏa mãn được thể hiện qua hàm số:

TUx = -1/3X2 + 10X

        TUy = -1/2Y2 + 20Y

Phương án tiêu dùng tối ưu là 

X = 3, Y = 3

X = 6, Y = 2

X = 9, Y = 1

Tất cả đều sai.

Một người tiêu thụ có có thu nhập I = 1200đ dùng để mua 2 sản phẩm X và Y với Px = 100đ/sp; Py = 300đ/sp. Mức thỏa mãn được thể hiện qua hàm số: TUx = -1/3X2 + 10X TUy = -1/2Y2 + 20Y. Tổng hữu dụng tối đa đạt được

TUmax = 86

TUmax = 82

TUmax = 76

TUmax = 96.

Đường ngân sách là:

Tập hợp các phối hợp có thể có giữa hai sản phẩm mà người tiêu thụ có thể mua khi thu nhập không đổi.

Tập hợp các phối hợp có thể có giữa hai sản phẩm mà người tiêu thụ có thể mua khi thu nhập thay đổi.

Tập hợp các phối hợp có thể có giữa hai sản phẩm mà người tiêu thụ có thể mua khi giá sản phẩm thay đổi.

Tập hợp các phối hợp có thể có giữa hai sản phẩm mà người tiêu thụ có thể mua với giá sản phẩm cho trước và thu nhập không thay đổi.

Giả thuyết nào sau đây không được đề cập đến khi phân tích sở thích trong lý thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng:

Sự ưa thích là hoàn chỉnh có nghĩa là nó thể hiện so sánh và xếp loại tất cả mọi thứ hàng hóa.

Sự ưa thích có tính bắc cầu

Thích nhiều hơn ít (loại hàng hóa tốt).

Không đúng câu nào.

Thu nhập tăng, giá không thay đổi, khi đó

Độ dốc đường ngân sach thay đổi.

Đường ngân sách dich chuyển song song sang phải.

Đường ngân sách trở nên phẳng hơn.

Đường ngân sách dịch chuyển song song sang trái.

Do nhiều người từ các tỉnh nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh, kết quả là đường cầu mặt hàng gạo ở TP. Hồ Chí Minh:

Dịch chuyển sang trái.

Dịch chuyển sang phải

Dịch chuyển lên trên

Không có câu nào đúng.

Nếu MUA = 1/QA; MUB = 1/QB, giá của A là 50, giá của B là 400 và thu nhập của người tiêu dùng là 12.000. Để tối đa hóa thỏa mãn, người tiêu dùng sẽ mua mỗi loại hàng hóa bao nhiêu?

A = 120, B = 15

A = 24, B = 27

A = 48, B = 24

Không câu nào đúng.

Độ dốc của đường đẳng ích phản ánh:

Sự ưa thích có tính bắc cầu.

Sự ưa thích là hoàn chỉnh.

Tỷ lệ thay thế giữa hai hàng hóa.

Các trường hợp trên đều sai.

Sự chênh lệch giữa giá mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho 1 đơn vị hàng hóa và giá thật sự người tiêu dùng phải trả khi mua một đơn vị hàng hóa được gọi là:

Tổng giá trị nhận được khi tiêu dùng hàng hóa đó

Độ co dãn của cầu

Thặng dư của nhà sản xuất.

Thặng dư của người tiêu dùng.

Trong điều kiện khác không đổi, khi giá cả các yếu tố sản xuất tăng lên, thì giá cả và số lượng cân bằng trên thị trường sẽ thay đổi như sau

Giá tăng lên và sản lượng cân bằng tăng lên.

Giá tăng lên và sản lượng cân bằng giảm xuống.

Giá giảm xuống và sản lượng cân bằng tăng lên.

Giá giảm xuống và sản lượng cân bằng giảm xuống.

Đường đẳng ích thể hiện tất cả các phối hợp về 2 loại hàng hóa cho người tiêu dùng có cùng một mức độ thỏa mãn.

Tỷ lệ thay thế biên thể hiện sự đánh đổi giữa hai loại hàng hóa sao cho tổng mức thỏa mãn không đổi

Các đường đẳng ích không cắt nhau.

Đường đẳng ích luôn có độ dốc bằng tỷ số giá cả của hai loại hàng hóa.

Phối hợp tối ưu của người tiêu dùng là phối hợp thỏa điều kiện

Độ dốc của đường ngân sách bằng độ dốc của đường đẳng ích.

Tỷ lệ thay thế biên giữa các hàng hóa bằng tỷ giá của chúng.

Đường ngân sách (đường tiêu dùng) tiếp xúc với đường đẳng ích (đường cong bang quan)

Các câu khác đều đúng.

Khi đạt tối đa hóa hữu dụng thì hữu dụng biên từ đơn vị cuối cùng của các hàng hóa phải bằng nhau (MUx=MUy=…=MUn). Điều này

Đúng hay sai tùy theo sở thích người tiêu dùng.

Đúng hay sai tùy theo thu nhập của người tiêu dùng.

Đúng khi giá các hàng hóa bằng nhau.

Luôn luôn sai.

Giả sử người tiêu dùng dành hết tiền lương để mua lại hai hàng hóa X và Y. Nếu giá hàng hóa X và Y đều tăng lên gấp 2, đông thời tiền lương của người tiêu dùng cũng tăng lên gấp 2 thì đường ngân sách của người tiêu dùng sẽ

Dịch chuyển song song sang phải.

Xoay quanh điểm cắt với trục tung sang phải.

Không thay đổi

Dịch chuyển song song sang trái.

Trên dồ thị: trục tung biểu thị số lượng của sản phẩm Y; trục hoành biểu thị số lượng của sản phẩm X. Độ dốc của đường ngân sách (đường giới hạn tiêu dùng) bằng -3 có nghĩa là

MUx = 3MUy

MUy = 3MUx

Px = 1/3Py

Px = 3Py

Giả định người tiêu dùng luôn chi tiêu hết thu nhập và chỉ mua hai sản phẩm X và Y. Khi giá X tăng lên ( các yếu tố khác không thay đổi) thì người này mua sản phẩm Y nhiều hơn, chúng ta có thể kết luận về tính chất co dãn của cầu theo giá đối với sản phẩm X của người này là

Co dãn đơn vị.

Co dãn ít

Không thể xác định

Co dãn nhiều

Khi giá cả của hàng hóa bình thường giảm, người tiêu dùng mua hàng hóa này nhiều hơn, đó là hệ quả của

Tác động thay thế hoặc tác động thu nhập.

Tác động thu nhập.

Tác động thay thế và tác động thu nhập

Tác động thay thế.

Hàng hóa X mắc hơn hàng hóa Y.

Giảm chi tiêu 1 đồng cho hàng hóa Y và chuyển sang chi tiêu cho hàng hóa X sẽ làm tăng tổng hữu dụng.

Hàngg hóa X rẻ hơn hàng hóa Y.

Giảm chi tiêu 1 đồng cho hàng hóa X và chuyển sang chi tiêu cho hàng hóa Y sẽ làm tăng tổng hữu dụng.

Giả sử người tiêu dùng luôn chi tiêu hết thu nhập và chỉ mua 2 sản phẩm X và Y. Biết sản phẩm X là hàng hóa thiết yếu. Vậy khi giá sản phẩm X giảm và các yếu tố khác không đổi thì lượng hàng hóa Y người này mua sẽ

Giảm

Không thay đổi

Không thể xác định được

Tăng.

Share

Facebook

Twitter

Digg

LinkedIn

Yahoo! Buzz

Fark

Reddit

Del.icio.us

Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Qui Mô (Economies Of Scale) Và Hạn Chế Của Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Qui Mô

Lợi thế kinh tế nhờ qui mô

Khái niệm

Lợi thế kinh tế nhờ qui mô trong tiếng Anh là Economies of Scale.

Lợi thế kinh tế nhờ qui mô là lợi thế chi phí được các công ty đạt được khi sản xuất trở nên hiệu quả. Các công ty có thể đạt được l ợi thế kinh tế nhờ qui mô bằng cách tăng sản xuất và giảm chi phí. Điều này xảy ra bởi vì chi phí được phân bổ cho một số lượng lớn hàng hóa.

Qui mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn khi nói đến lợi thế kinh tế nhờ qui mô. Doanh nghiệp càng lớn, chi phí tiết kiệm được càng nhiều.

Bản chất lợi thế kinh tế nhờ qui mô

Lợi thế kinh tế nhờ qui mô là một khái niệm quan trọng đối với mọi doanh nghiệp trong bất kì ngành nào và thể hiện lợi thế tiết kiệm chi phí và lợi thế cạnh tranh mà các doanh nghiệp lớn có được so với các doanh nghiệp nhỏ hơn.

Hầu hết người tiêu dùng không hiểu tại sao một doanh nghiệp nhỏ đòi giá cao hơn cho một sản phẩm tương tự được bán bởi một công ty lớn hơn. Đó là bởi vì chi phí đơn vị phụ thuộc vào số lượng sản phẩm công ty sản xuất. Các công ty lớn có thể sản xuất nhiều hơn bằng cách phân bổ chi phí sản xuất trên số lượng hàng hóa lớn hơn.

Có một vài lí do mà lợi thế kinh tế nhờ qui mô giúp chi phí trên mỗi đơn vị thấp hơn. Thứ nhất, chuyên môn hóa lao động và công nghệ tích hợp tăng khối lượng sản xuất. Thứ hai, các đơn đặt hàng số lượng lớn từ các nhà cung cấp giúp giảm chi phí nguyên liệu, hoặc chi phí vốn thấp hơn. Thứ ba, phân bổ chi phí nội bộ trên nhiều sản phẩm giúp giảm chi phí đơn vị.

Hạn chế của lợi thế kinh tế nhờ qui mô

Chi phí thiết lập nhà máy giảm nhờ công nghệ. Giá máy móc trở nên phù hợp hơn với năng lực sản xuất, cho phép các nhà sản xuất nhỏ hơn như nhà máy luyện thép nhỏ và nhà sản xuất bia thủ công cạnh tranh tốt hơn.

Dịch vụ thuê ngoài khiến chi phí của các doanh nghiệp có qui mô khác nhau trở nên giống nhau. Những dịch vụ này bao gồm kế toán, nhân sự, tiếp thị, pháp lí và công nghệ thông tin.

Sản xuất vi mô, sản xuất siêu tập trung và sản xuất bồi đắp (in 3D) có thể giảm cả chi phí thiết lập và chi phí sản xuất. Thương mại toàn cầu và ngành logistics đã giúp giảm chi phí cho các nhà máy riêng lẻ, không kể qui mô.

(Theo: investopedia.com)

Hằng Hà