Kinh Tế Vi Mô 1

Thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá của nhà sản xuất sẽ làm cho:

Vì: Đánh thuế như vậy sẽ làm tăng chi phí sản xuất và do đó làm giảm cung đối với hàng hóa.

Thị trường sản phẩm A có hàm cung và cầu như sau: Ps = 10 + Qs và Pd = 100 – Qd. Nếu nhà nước đánh thuế t = 10/ sản phẩm, xác định phần thuế mà người tiêu dùng phải chịu/ sản phẩm?

Vì: Xác định điểm cân bằng trước và sau khi chính phủ đánh thuế. Phần tăng giá chính là phần mà người tiêu dùng gánh chịu.

Thu nhập tăng 10% làm cho lượng cầu tăng 5%. Co giãn của cầu theo thu nhập là:

Vì: Tính hệ số co giãn của cầu theo thu nhập theo công thức phần trăm thay đổi của lượng cầu chia cho phần trăm thay đổi của thu nhập.

Một nhà độc quyền có hàm chi phí TC = Q2 + 2Q + 100 và đối diện với hàm cầu P = 122 – Q. Phần mất không nhà độc quyền gây ra đối với xã hội là (DWL):

Vì: Độc quyền luôn quyết định sản xuất theo nguyên tắc MR = MC.

Ta cần tính MR từ hàm cầu và MC từ hàm chi phí đã cho. Từ đó xác định được sản lượng và giá bán. Xác định giá bán và sản lượng bằng nguyên tắc P = MC. Sau đó so sánh 2 quyết định này để tính toán DWL.

Tăng giá một đầu vào cố định sẽ làm cho:

đường tổng chi phí trung bình dịch chuyển lên trên.

Vì: Giá đầu vào cố định tăng sẽ làm tăng chi phí cố định (FC) và do đó sẽ tác động đến ATC mà không tác động đến AVC.

Chi phí cố định của một hãng là 100$. Nếu tổng chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm là 200$ và tổng chi phí sản xuất 2 đơn vị sản phẩm là 310$, chi phí cận biên của đơn vị sản phẩm thứ 2 là:

Vì: Tính chi phí cận biên theo công thức:

Nếu một nhà độc quyền đang sản xuất tại mức sản lượng tại đó chi phí cận biên lớn hơn doanh thu cận biên, nhà độc quyền nên:

tăng giá và giảm sản lượng.

Vì: Độc quyền luôn quyết định sản xuất theo nguyên tắc MR = MC.

Mời bạn tham khảo 10.000 câu trắc nghiệm Kinh Tế Vi Mô: Tại đây

Kinh Tế Vi Mô_Chuong 4 Pdf.ppt

Published on

1. 1/2/2012 1 1 Chương 4 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NHÀ SẢN XUẤT 2 Nội dung chính � Lý thuyết sản xuất � Lý thuyết chi phí sản xuất � Lý thuyết về sự tối đa hóa lợi nhuận của nhà sản xuất. Chương này nghiên cứu cách thức các doanh nghiệp quyết định sản lượng và tính toán các chi phí để thu được lợi nhuận tối đa. 3 Phần I. LÝ THUYẾT SẢN XUẤT I. SẢN XUẤT LÀ GÌ? Sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra. Yếu tố đầu vào Đầu ra Công nghệ

2. 1/2/2012 2 4 I. 1 Yếu tố đầu vào và đầu ra Yếu tố đầu vào hay còn gọi là yếu tố sản xuất là bất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào được dùng để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ khác, gồm: lao động, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu và năng lượng. Hàng hóa và dịch vụ là những đầu ra của sản xuất. 5 I. 1 Yếu tố đầu vào và đầu ra � Để nghiên cứu một quá trình sản xuất tổng quát, các đầu vào được chia thành lao động và vốn: Yếu tố đầu vào Lao động (L): thời gian làm việc của người vận hành máy móc, nhà quản lý, công nhân, v.v… . Vốn (K): nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, v.v… . 6 I. 2 Công nghệ Công nghệ là cách thức sản xuất ra hàng hóa – dịch vụ. Công nghệ tiến bộ sẽ dẫn đến những phương pháp sản xuất mới mà chúng có thể sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn. Với những công nghệ mới, máy móc thiết bị có năng suất cao hơn và công nhân có thể đạt năng suất cao hơn.

3. 1/2/2012 3 7 I. 3 HÀM SẢN XUẤT Hàm sản xuất của một loại sản phẩm nào đó cho biết số lượng sản phẩm tối đa (q) có thể được sản xuất ra bằng cách sử dụng các phối hợp khác nhau của vốn (K) và lao động (L), với một trình độ công nghệ nhất định. q = f(K, L) (4.1) trong đó: K � 0, L � 0 và 8 I. 3 HÀM SẢN XUẤT � Số lượng sản phẩm q sản xuất ra thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi của vốn và lao động. � Hàm số f cụ thể có thể đặc trưng cho một trình độ công nghệ nhất định. Khi công nghệ thay đổi thì hàm sản xuất sẽ thay đổi và đầu ra sẽ lớn hơn với cùng lượng đầu vào như trước. 9 II. NĂNG SUẤT BIÊN VÀ NĂNG SUẤT TRUNG BÌNH II.1 ĐỊNH NGHĨA NĂNG SUẤT BIÊN Năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó (vốn hay lao động) là lượng sản phẩm tăng thêm được sản xuất ra do sử dụng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất đó.

4. 1/2/2012 4 10 Bảng 4.1 Mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất gạo Đất đai (ha) Lao động (người) q MPL APL (1) (2) (3) (4) (5) 1 1 3 3 3,0 1 2 7 4 3,5 1 3 12 5 4,0 1 4 16 4 4,0 1 5 19 3 3,8 1 6 21 2 3,5 1 7 22 1 3,1 1 8 22 0 2,8 1 9 21 -1 2,1 1 10 15 -6 1,5 11 Năng suất biên Công thức: KK LL f K q MP f L q MP � � � � � � � � (4.2) (4.3) Như vậy, năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó chính là đạo hàm của tổng sản lượng theo số lượng yếu tố sản xuất đó. Như vậy, về mặt hình học, năng suất biên là độ dốc của đường tiếp tuyến của đồ thị hàm sản xuất tại từng điểm cụ thể. 12 II.2. QUY LUẬT NĂNG SUẤT BIÊN GIẢM DẦN “Nếu số lượng của một yếu tố sản xuất tăng dần trong khi số lượng (các) yếu tố sản xuất khác giữ nguyên thì sản lượng sẽ gia tăng nhanh dần. Tuy nhiên, vượt qua một mốc nào đó thì sản lượng sẽ gia tăng chậm hơn. Và nếu tiếp tục gia tăng số lượng yếu tố sản xuất đó thì tổng sản lượng đạt đến mức tối đa và sau đó sẽ sút giảm.”

5. 1/2/2012 5 13 II.2. QUY LUẬT NĂNG SUẤT BIÊN GIẢM DẦN Trong phân tích sản xuất, chúng ta giả định rằng tất cả các yếu tố đầu vào đều có chất lượng như nhau. Năng suất biên giảm dần là kết quả của những hạn chế khi sử dụng các đầu vào cố định khác (như máy móc, thiết bị chẳng hạn). 14 II.3. NĂNG SUẤT TRUNG BÌNH Năng suất trung bình của một yếu tố sản xuất nào đó được tính bằng cách lấy tổng sản lượng chia cho số lượng yếu tố sản xuất đó. Công thức: K q AP L q AP K L � � (4.4) (4.5) 15 II.4 Đồ thị đường tổng sản lượng, năng suất biên và năng suất trung bình L MPL, APL L q q O L1 L2 L3 MPL APL O L1 L2 L3

6. 1/2/2012 6 16 Mối quan hệ giữa năng suất trung bình và năng suất biên � Khi năng suất trung bình nhỏ hơn năng suất biên, năng suất trung bình sẽ tăng lên. � Khi năng suất trung bình bằng với năng suất biên, năng suất trung bình sẽ không đổi và đạt cực đại. � Khi năng suất trung bình lớn hơn năng suất biên, năng suất trung bình sẽ giảm xuống. 17 Thí dụ Giả sử ta có hàm sản xuất có dạng như sau: q = f(K, L) = 600K2L2 – K3L3 Để xây dựng hàm số năng suất lao động trung bình, hàm số năng suất lao động biên, ta cố định giá trị K bằng cách cho K = K0 = 10 chẳng hạn. Hàm sản xuất có thể được viết lại: q = 60.000L2 – 1.000L3 18 Thí dụ 1) Năng suất lao động biên: MPL= �q/ � L = 120.000L – 3.000L2 2) Năng suất lao động trung bình: APL= q/L = 60.000L – 1.000L2 Năng suất lao động trung bình đạt cực đại khi: �APL/ �L=60.000 – 2.000L = 0 � L = 30 đơn vị lao động. Khi đó: APL= MPL = 900.000 đvsp. Vậy, tại điểm năng suất trung bình bằng với năng suất biên của lao động, năng suất trung bình đạt cực đại.

7. 1/2/2012 7 19 II.5 TÁC ĐỘNG CỦA TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ ĐẾN SẢN LƯỢNG � Qui trình sản xuất được cải tiến sẽ sử dụng đầu vào có hiệu quả hơn, tức là với cùng số lượng đầu vào như trước, sản lượng được tạo ra nhiều hơn. � Hình 4.2 minh họa sự cải tiến công nghệ. 20 q1 q2 q3 L q � � � L0 q1 q2 q3 Hình 4.2 Ảnh hưởng của sự tiến bộ công nghệ 21 III ĐƯỜNG ĐẲNG LƯỢNG III.1 ĐƯỜNG ĐẲNG LƯỢNG Bây giờ chúng ta sẽ xem xét quá trình sản xuất với cả hai đầu vào (vốn và lao động) cùng thay đổi. Giả sử chúng ta có các kết hợp đầu vào của quá trình sản xuất vải của một doanh nghiệp được cho trong bảng 4.2 như sau.

8. 1/2/2012 8 22 Bảng 4.2 Số mét vải được sản xuất ra trong ngày Số giờ lao động trong Số giờ sử dụng máy móc trong ngày (K) ngày (L) 1 2 3 4 5 1 20 40 55 65 75 2 40 60 75 85 90 3 55 75 90 100 105 4 65 85 100 110 115 5 75 90 105 115 120 23 III.1 ĐƯỜNG ĐẲNG LƯỢNG � Để tạo ra một mức sản lượng nhất định, doanh nghiệp có thể sử dụng một trong nhiều kết hợp đầu vào khác nhau. � Đường đẳng lượng cho biết các kết hợp khác nhau của vốn (K) và lao động (L) để sản xuất ra một số lượng sản phẩm nhất định q0 nào đó. � Phương trình: q0 = f(K, L) (4.6) 24 Hình 4.3. Đường đẳng lượng K L Hướng tăng lên của sản lượng q2 q1 q0 = 75 O 5 3 C 2 D B A 1 5321

9. 1/2/2012 9 25 III.2 TỶ LỆ THAY THẾ KỸ THUẬT BIÊN (MRTS) Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của lao động cho vốn là số đơn vị vốn phải bớt đi để tăng thêm một đơn vị lao động mà không làm thay đổi tổng sản lượng. Công thức: 00 qqqq LchoK dL dK ΔL ΔK MRTS �� ���� Nghịch dấu với độ dốc của đường đẳng lượng tại một điểm nào đó chính là tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của lao động cho vốn tại điểm đó. 26 Hình 4.4 Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên K L q0 = 75 O 5 3 C 2 D B A 1 5321 �K �L � � � Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên giảm dần 27 III.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ LỆ THAY THẾ KỸ THUẬT BIÊN VÀ NĂNG SUẤT BIÊN � Khi giảm sử dụng một số lượng �K, làm sản lượng giảm đi một lượng: �q1 = MPK. �K � Khi tăng sử dụng một số lượng �L, làm sản lượng giảm đi một lượng: �q2 = MPL. �L � Do sản lượng không đổi nên: �q1 + �q2 = 0 � MPK. �K + MPL. �L = 0 � K L K L MP MP MRTShay MP MP X Y �� � � � Vì vậy, tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của lao động cho vốn bằng với tỷ số giữa năng suất lao động biên (MPL) và năng suất vốn biên (MPK).

10. 1/2/2012 10 28 Thí dụ Giả sử ta có hàm số sản xuất với dạng như sau: q = 10K1/2L1/2. Ứng với mức sản lượng q = 100 đvsp, ta có: 10 = K1/2L1/2. � KL = 100 hay K = 100/L Như vậy: � MRTS = L K L 100 dL dK 2 ���� L K dL dK �� 29 Thí dụ Hay ta có thể sử dụng cách khác: L K LK 2 1 10 KL 2 1 10 MP MP MRTS 1/21/2 1/21/2 K L LchoK � ��� ��� �� � � Chúng ta thấy rằng tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của L cho K trong trường hợp này sẽ giảm dần khi số lượng lao động được sử dụng tăng lên. 30 IV MỘT SỐ HÀM SẢN XUẤT THÔNG DỤNG VÀ ĐƯỜNG ĐẲNG LƯỢNG TƯƠNG ỨNG IV.1 HÀM SẢN XUẤT TUYẾN TÍNH: q = aK +bL (a, b � 0) � Đối với hàm sản xuất này, năng suất biên của vốn và lao động cố định: MPK = a MPL = b

11. 1/2/2012 11 31 HÀM SẢN XUẤT TUYẾN TÍNH L a b a q K 0 ��� Phương trình của đường đẳng lượng: q0 = aK + bL Vậy đường đẳng lượng của hàm số sản xuất này là những đường thẳng song song có độ dốc: -b/a (hay MRS = b/a). 32 L K q1 q2 q3 Độ dốc -b/a Hình 4.5a. Đường đẳng lượng của hàm sản xuất tuyến tính A B � � 33 Hàm sản xuất tuyến tính � Vốn và lao động có thể hoàn toàn thay thế cho nhau. � Tại điểm A, nhà sản xuất chỉ sử dụng vốn (máy móc, thiết bị, .v.v…) để sản xuất ra mức sản lượng q1. Ngược lại, tại B, nhà sản xuất chỉ sử dụng lao động. � Ví dụ: quá trình bán vé: người bán có thể sử dụng con người hay máy bán vé tự động.

15. 1/2/2012 15 43 V ĐƯỜNG ĐẲNG PHÍ Đường đẳng phí cho biết các kết hợp khác nhau của lao động (L) và vốn (K) có thể mua được bằng một số tiền (tổng chi phí) nhất định ứng với những mức giá nhất định. Giả sử một doanh nghiệp có số tiền TC dùng để mua vốn (K) và lao động (L) có giá lần lượt là v và w. 44 Phương trình đường đẳng phí: L v w v TC K ��� TC = vK + wL Vậy, đường đẳng phí có dạng đường thẳng, dốc đi xuống và độ dốc là w/v. 45 Hình 4.6 Đường đẳng phí TC/v K LO TC/w Đường đẳng phí A B

16. 1/2/2012 16 46 VI.1 NGUYÊN TẮC TỐI ĐA HÓA SẢN LƯỢNG � Doanh nghiệp thường mong muốn đạt được sản lượng tối đa ứng với một khoản chi phí nhất định. � Giả sử doanh nghiệp có phương trình đường đẳng phí như (4.7) và hàm sản xuất như (4.1). Doanh nghiệp sẽ lựa chọn tập hợp đầu vào vốn và lao động để tối đa hóa sản lượng trong điều kiện ràng buộc của chi phí. 47 Nguyên tắc Để tối đa hóa sản lượng, nhà sản xuất sẽ lựa chọn tập hợp giữa vốn và lao động sao cho tại đó họ mua hết số tiền TC sẵn có và tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên bằng với tỷ giá của lao động và vốn. TC = vK + wL v w MP MP v w MRTS K L ��� 48 Hình 4.7 Nguyên tắc tối đa hóa sản lượng L C q0 q1 q2 K TC/w TC/v LC KC O �

17. 1/2/2012 17 49 VI.2 NGUYÊN TẮC TỐI THIỂU HÓA CHI PHÍ SẢN XUẤT � Mặt khác, doanh nghiệp còn muốn tìm kiếm kỹ thuật sản xuất với chi phí thấp nhất để sản xuất ra một mức sản lượng cho trước. � Giả sử doanh nghiệp muốn sản xuất một mức sản lượng q0, giá của vốn là v và của lao động là w. Doanh nghiệp sẽ chọn phối hợp K và L có chi phí thấp nhất. 50 Nguyên tắc Để tối thiểu hóa chi phí sản xuất để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định, nhà sản xuất sẽ chọn sản xuất tại điểm mà tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (giữa lao động và vốn) bằng với tỷ giá của lao động và vốn. q0 = f(K, L) v w MP MP v w MRTS K L ��� 51 Hình 4.8. Nguyên tắc tối thiểu hóa chi phí CKC LC q0 K L �

18. 1/2/2012 18 52 PHẦN II. LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT I. CHI PHÍ KẾ TOÁN VÀ CHI PHÍ CƠ HỘI �Chi phí kế toán (tài chính) là những khoản phí tổn mà doanh nghiệp thực sự gánh chịu khi sản xuất ra hàng hóa hay dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. 53 Bảng 4.4 Báo cáo thu nhập của quán “Ngon miệng” Doanh thu Số tiền (đồng) 3000 tô, 4000 đồng/tô 12.000.000 Chi phí Tiền công 600.000 Thuê mặt bằng 500.000 Vật liệu (bánh, thịt, v.v.) 5.000.000 Chất đốt 400.000 Chi phí khác 3.000.000 Tổng chi phí 9.500.000 Lợi nhuận trước thuế 2.500.000 Thuế phải trả 500.000 Lợi nhuận sau thuế 2.000.000 54 Chi phí cơ hội � Chi phí cơ hội là khoản bị mất mát do không sử dụng nguồn tài nguyên (nhân công hay vốn) theo phương thức sử dụng tốt nhất. � Chi phí cơ hội là thước đo đúng đắn của chi phí và là động cơ quan trọng của cá nhân để ra quyết định về sử dụng tài nguyên. � Chi phí cơ hội của vốn được bao gồm trong chi phí kinh tế của doanh nghiệp.

19. 1/2/2012 19 55 � Chi phí kinh tế bao gồm chi phí kế toán và cả chi phí cơ hội của vốn và lao động. Chi phí kinh tế = chi phí kế toán + chi phí cơ hội � Siêu lợi nhuận là khoản lợi nhuận thêm vào lợi nhuận mà những người chủ doanh nghiệp có thể kiếm được bằng cách gửi tiền theo lãi suất ngân hàng. � Siêu lợi nhuận là chỉ số chính xác chỉ ra mức độ hiệu quả mà doanh nghiệp đang hoạt động. 56 II CHI PHÍ NGẮN HẠN Chi phí ngắn hạn là những chi phí của một thời kỳ mà trong đó số lượng và chất lượng của một vài đầu vào không đổi. 57 II. 1 TỔNG CHI PHÍ, CHI PHÍ CỐ ĐỊNH VÀ CHI PHÍ BIẾN ĐỔI � Tổng chi phí (TC) là toàn bộ chi phí để sản xuất ra một số lượng sản phẩm q nhất định. � Tổng chi phí gồm hai bộ phận cấu thành: chi phí cố định hay còn gọi là định phí và chi phí biến đổi hay còn gọi là biến phí.

20. 1/2/2012 20 58 Chi phí cố định (FC) � Chi phí cố định (FC) là những khoản chi phí không thay đổi khi sản lượng thay đổi. Hay là, chúng là những chi phí mà doanh nghiệp phải trả dù không sản xuất một sản phẩm nào. � Ví dụ: tiền thuê mặt bằng, thuê nhà máy, khấu hao máy móc, thiết bị, tiền mua bảo hiểm và cũng có thể là tiền lương, v.v… 59 Chi phí biến đổi (VC) � Chi phí biến đổi (VC) là những khoản chi phí tăng giảm cùng với mức tăng giảm của sản lượng. � Ví dụ: Chi phí biến đổi có thể gồm các khoản chi phí: nhiên liệu, nguyên, vật liệu, tiền lương theo sản phẩm, v.v… TC = VC + FC (4.15) 60 Hình 4.9 Đường tổng chi phí, chi phí cố định và chi phí biến đổi FC TC VC Chi phí q

21. 1/2/2012 21 61 II. 2 CHI PHÍ TRUNG BÌNH VÀ CHI PHÍ BIÊN � Chi phí trung bình (AC) là tổng chi phí tính trên một đơn vị sản phẩm. q TC AC � AVCAFC q VC q FC q VCFC AC ���� � � (4.15) (4.16) 62 Trong đó: � AFC là chi phí cố định trung bình. Đó là khoản chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm. � AVC là chi phí biến đổi trung bình. Đó là khoản chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm. � Chúng ta thấy rằng khi sản lượng sản xuất ra tăng, AFC giảm. 63 Chi phí biên �Chi phí biên là khoản chi phí tăng thêm do sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm. dq dVC dq dTC q VC q TC MC �� � � � � � � (4.17) Vậy, chi phí biên chính là đạo hàm của hàm số tổng chi phí theo sản lượng, hay là độ dốc của đường tổng chi phí.

23. 1/2/2012 23 67 Ví dụ �Một doanh nghiệp có tình hình sản lượng và chi phí như sau: q TC MC AC 0 10 – – 1 18 8 18 2 22 4 11 3 24 2 8 4 28 4 7 5 35 7 7 6 45 10 7,5 68 Hình 4.12 Các đường chi phí ngắn hạn: AC, MC, AVC và AFC 0 2 4 6 8 10 12 14 16 0 2 4 6 8 10 12 14 16 Chiphê Saín læåüng MC AC AVC AFC 69 III CHI PHÍ DÀI HẠN � Dài hạn là giai đoạn đủ dài để cho doanh nghiệp điều chỉnh tất cả các loại đầu vào của mình theo sự thay đổi của điều kiện sản xuất. � Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể lựa chọn các đầu vào và kỹ thuật sản xuất có chi phí thấp nhất ở mỗi mức sản lượng. Đường tổng chi phí dài hạn (LTC) mô tả chi phí tối thiểu cho việc sản xuất ra mỗi mức sản lượng, khi doanh nghiệp có khả năng điều chỉnh tất cả các đầu vào của mình một cách tối ưu. � Trong dài hạn, không có chi phí cố định, mọi khoản chi phí đều biến đổi.

24. 1/2/2012 24 70 III.2 Chi phí trung bình và chi phí biên � Trong dài hạn, ta cũng có những khái niệm về chi phí biên và chi phí trung bình tương tự trong ngắn hạn. � Đường LAC cũng có dạng chữ U giống SAC nhưng chi phí ở mỗi mức sản lượng thấp hơn. Doanh nghiệp có thể chọn phương thức sản xuất có chi phí trung bình thấp nhất của đường SAC. 71 IV TÍNH KINH TẾ THEO QUY MÔ Khi doanh nghiệp mở rộng sản lượng mà làm cho: � Chi phí trung bình dài hạn giảm: ta gọi là tính kinh tế nhờ quy mô; � Chi phí trung bình dài hạn vẫn không đổi: ta gọi là lợi tức theo quy mô cố định; � Chi phí trung bình dài hạn tăng: ta gọi là tính phi kinh tế vì quy mô. 72 q q q Chi phí LAC LAC LAC Hình 4.15. Tính kinh tế theo quy mô a) Tính kinh tế nhờ quy mô b) Lợi tức theo quy mô cố định c) Tính phi kinh tế viì quy mô

25. 1/2/2012 25 73 3 nguyên nhân của tính kinh tế nhờ quy mô � Tính không thể chia cắt của quá trình sản xuất. � Sự chuyên môn hóa. � Sự tận dụng lợi thế của máy móc thiết bị. 74 PHẦN III. TỐI ĐA HÓA LỢI NHUẬN I. NGUYÊN TẮC TỐI ĐA HOÁ LỢI NHUẬN Doanh thu biên (MR) là phần doanh thu tăng thêm do sản xuất và tiêu thụ thêm một đơn vị sản phẩm. dq dTR q TR MR � � � � 75 Bảng 4.6 Sản lượng, doanh thu biên, chi phí biên và lợi nhuận q (1) P (2) TR = P.Q (3) MR (4 ) TC (5) MC (6 ) =TR -TC (7) 0 – 0 – 10 – -1 0 1 2 1 21 21 25 15 -4 2 2 0 40 19 36 11 4 3 1 9 57 17 44 8 1 3 4 1 8 72 15 51 7 2 1 5 1 7 85 13 59 8 2 6 6 1 6 96 11 69 10 2 7 7 1 5 105 9 81 12 2 4 8 1 4 112 7 95 14 1 7 9 1 3 117 5 111 16 6 10 1 2 120 3 129 18 -9

26. 1/2/2012 26 76 DOANH THU BIÊN dq )Pq(d dq dTR MR �� Pq dq dP MR �� � Nếu số lượng hàng hóa mà doanh nghiệp bán ra không ảnh hưởng gì đến giá cả thị trường (điều này xuất hiện trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo), khi đó: doanh thu biên bằng với giá. � Nếu doanh nghiệp bán ra thêm sản phẩm làm giảm giá cả thị trường (đây là đặc điểm của thị trường độc quyền) thì: doanh thu biên nhỏ hơn giá. 77 I.2 NGUYÊN TẮC TỐI ĐA HÓA LỢI NHUẬN Để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp sẽ chọn mức sản lượng (q*), tại đó doanh thu biên bằng với chi phí biên. MR = MC 78 Hình 4.16 Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận MC MR q MR, MC q* A

27. 1/2/2012 27 79 III. NGUYÊN TẮC TỐI ĐA HÓA DOANH THU � Để tối đa hóa doanh thu, doanh nghiệp cần chọn mức sản lượng mà tại đó doanh thu biên bằng 0. MR = 0 � Ví dụ: Một doanh nghiệp có hàm chi phí và hàm số cầu như sau: STC = 0,1q2 + 10q + 1000 P = 50 – 0,1q 80 Hçnh 4.19 Âæåìng doanh thu cuía doanh nghiãûp A 0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500 550 Saín læåüng Doanhthu 81 IV. TỐI ĐA HÓA LỢI NHUẬN VỚI CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO Nguyên tắc: Để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp cần thuê mướn (sử dụng) yếu tố đầu vào cho đến khi giá trị sản phẩm biên bằng với chi phí biên của việc thuê mướn yếu tố đầu vào. Nghĩa là: doanh nghiệp cần tính toán doanh thu – chi phí cho mỗi đơn vị yếu tố đầu vào và ngưng thuê mướn khi lợi nhuận tăng thêm của yếu tố đầu vào bằng không. MRPL = w hay chúng tôi = w MRPK = v chúng tôi = v

28. 1/2/2012 28 82 Hình 4.20 Cầu về lao động của doanh nghiệp MRPL SL L MRPL, w w0 A L* = DL

29. ��������������������������������������������������������������������������� ��������������������������������������������������������������������������������� �����������������������������������������������������

Phương Pháp Phân Tích Cận Biên Trong Kinh Tế Học Vi Mô

Đây là phương pháp đặc thù của kinh tế học nói cvà kinh té học vi mô nói riêng. Một số tác giả còn gọi phương pháp này là phương pháp phân tích lợi ich – chi phí. Nó cũng là phương pháp cơ bản của sự lựa chọn kinh tế tối ưu bởi vì bất cứ sự lựa chọn nào cũng phải dựa trên sự so sánh lợi ích ( benefit) mang lại ( hay cái được ) và chi phí ( cost) bỏ ra ( hay cái mất ). Một quyết định được đưa ra chỉ có thể làm tăng lợi ích kinh tế cho chủ thể nếu tổng lợi ích thu được vượt quá tổng chi phí phát sinh từ việc thực hiện quyết định đó. Nói cách khác, mục tiêu cuối cùng của sự lựa chọn là tối đa hóa lợi ích ròng tức là hiệu số giữa tổng lợi ích và tổng chi phí từ việc sản xuất ( hoặc tiêu dùng ) một số lượng hàng hóa ( dịch vụ ) nhất định là tối đa. Để đạt được mục tiêu này, quyết định mà mỗi chủ thể tham gia lựa chọn phải đưa ra là sản xuất ( hoặc tiêu dùng ) một số lượng bao nhiêu đơn vị hàng hóa, dịch vụ.

Phương pháp phân tích cận biên được sử dụng để tìm ra điểm tối ưu ( còn gọi là điểm cân bằng) của sự lựa chọn. Theo phương pháp này, chúng ta phải so sánh lợi ích và chi phí tại mỗi một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ( hoặc tiêu dùng ) tăng thêm. Lợi ích và chi phí đó được gọi là lợi ích cận biên và chi phí cận biên. Như vậy, hành vi hợp lý của mỗi chủ thể tham gia thị trường là: gia tăng việc sản xuất ( hoặc tiêu dùng ) các đơn vị hàng hóa, dịch vụ nhất định cho đến khi lợi ích cận biên của đơn vị hàng hóa, dịch vụ cuối cùng được sản xuất ( tiêu dùng ) bằng với chi phí cận biên của đơn vị đó. Tại đây, họ đạt được đến điểm tối ưu cho tổng lợi ích ròng lớn nhất và quyết định được số lượng hàng hóa, dịch vụ tới ưu cần phải sản xuất ( hoặc tiêu dùng).

Ai Cũng Cần Phải Học Kinh Tế Vi Mô!

Đã đến lúc cải cách bộ môn kinh tế học vi mô theo hướng đơn giản, dễ hiểu và mang nhiều tính thực tế hơn.

Đã đến lúc cải cách bộ môn kinh tế học vi mô theo hướng đơn giản, dễ hiểu và mang nhiều tính thực tế hơn.

Suốt một thế kỷ vừa qua, các trường đại học hàng đầu thế giới đã giảng dạy kinh tế học vi mô thông qua lăng kính của mô hình Arrow-Debreu về trạng thái cân bằng tương đối. Với cái nhìn sâu hơn về học thuyết “Nguồn gốc của cải của các quốc gia” được đưa ra bởi Adam Smith, mô hình này là hiện thân của vẻ đẹp, sự đơn giản và tính thiếu thực tế của hai định lý cơ bản về trạng thái cân bằng tương đối. 

Học thuyết này cũng đối lập với sự hỗn độn và phức tạp mà các nhà kinh tế học đã tạo ra trong nỗ lực tìm ra cách tốt hơn để minh họa các diễn biến của kinh tế thế giới. Nói cách khác, trong khi các nhà nghiên cứu nỗ lực để hiểu thấu những trường hợp phức tạp của thế giới thực, các sinh viên kinh tế được tiếp cận với những giả thuyết không hề tồn tại trên thực tế. 

Phương pháp giáo dục này xuất phát từ ý tưởng cho rằng đóng khung những suy nghĩ về các vấn đề kinh tế sẽ tỏ ra hữu ích đối với các sinh viên kinh tế hơn so với các mô hình. Tuy nhiên, điều này lại trở thành gánh nặng với một bộ phận khác: đi chệch khỏi mô hình Arrow-Debreu, mọi thứ trở nên quá thực tế và phức tạp và do đó không còn phù hợp với các lớp học. Những suy nghĩ thực tế về kinh tế vi mô chỉ dành cho các chuyên gia. 

Chắc chắn là, các mô hình cơ bản (ví dụ như học thuyết về độc quyền, hàng hóa công cộng hoặc đơn giản là học thuyết thông tin bất cân xứng) có giá trị về mặt giáo dục. Tuy nhiên, có rất ít nhà nghiên cứu làm việc với chúng. Những lý thuyết được sử dụng phổ biến khi nghiên cứu về kinh tế vi mô bao gồm phân tích rủi ro, thị trường hai bên, tín hiệu thị trường, cấu trúc vi mô của thị trường tài chính, đánh thuế tối ưu … Những lý thuyết này phức tạp hơn nhiều và phần lớn bị loại khỏi các cuốn sách giáo khoa. 

Trên thực tế, các cuốn sách giáo khoa về kinh tế vi mô gần như không thay đổi trong ít nhất là 2 thập kỷ qua. Do đó, các sinh viên mới tốt nghiệp gặp nhiều khó khăn để có thể hiểu được những bài báo đậm chất nghiên cứu. 

Mặc dù đúng là các mô hình kinh tế vi mô thực tế phức tạp hơn nhiều so với những gì được viết ra trong sách giáo khoa, không nhất thiết phải mất nhiều năm nghiên cứu để có thể nắm bắt được chúng. 

Một ví dụ là thị trường hai bên. Đây là lý thuyết nói đến sự cạnh tranh giữa các hệ thống có sản phẩm kết nối hai bộ phận người dùng. Hai bộ phận này sau đó cung cấp cho bên còn lại những lợi ích của mạng lưới. Khi một thị trường là thị trường hai bên, rất nhiều kết luận của phân tích chống độc quyền không còn đúng nữa. Thâm nhập thị trường có thể có hại cho người tiêu dùng, hợp đồng độc quyền sẽ khiến số doanh nghiệp tham gia vào thị trường tăng lên.

Nghiên cứu được thực hiện bởi David Evans và Richard Schmalensee miêu tả nhiều trường hợp áp dụng những kết luận cũ dẫn đến sai lầm. Tuy nhiên, có thể hiểu được sự bất đồng về hành vi giữa thị trường hai bên và thị trường truyền thống bằng cách sử dụng những công cụ đơn giản của kinh tế học vi mô cư bản, như sự khác nhau giữa hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ sung. Khi các nhà sản xuất hàng hóa thay thế thông đồng với nhau, họ thường nâng giá hàng hóa. Ngược lại, những nhà sản xuất hàng hóa bổ sung sẽ hợp tác với nhau để hạ giá hàng hóa. 

Thêm vào đó, hợp đồng độc quyền có thể giúp tăng cạnh tranh bằng cách cho phép hai hệ thống hoạt động trong cùng một thị trường. Nói một cách ngắn gọn hơn, với hiểu biết căn bản về sự khác nhau giữa hàng hóa thay thế và bổ sung, ai cũng có thể hiểu về những mô hình kinh tế phức tạp mà không cần phải tốn kém để thuê một chuyên gia. 

Mặc dù mô hình Arrow-Debreu cũng có giá trị riêng (giải thích tại sao một nền kinh tế không có kế hoạch vẫn có thể hoạt động đúng thứ tự), mô hình này không thể khuyến khích sinh viên khi cuối cùng họ phát hiện ra rằng đây là những mô hình khác xa so với thực tế. 

Cải cách quy trình đào tạo kinh tế học vi mô sẽ giúp truyền đạt một thông điệp chính xác hơn và tạo nhiều cảm hứng hơn: kể cả những người có vốn kiến thức trung bình cũng có thể hiểu và áp dụng những ý tưởng phức tạp được phát triển bởi những chuyên gia.

Theo Trí Thức Trẻ/Project Syndicate

Bài Tập Lớn Kinh Tế Vi Mô Cần Cho Sinh Viên Kinh Tế

Bài tập lớn Kinh tế vi mô cần cho sinh viên kinh tế

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Kinh tế học vi mô là một phân ngành chủ của kinh tế học chuyên nghiên cứu về hành vi kinh tế của các cá nhân (gồm người tiêu dùng, nhà sản xuất hay một ngành kinh tế nào đó), là một môn khoa học kinh tế về sự lựa chọn tối ưu các vần đề kinh tế cơ bản của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Kinh tế học vi mô là nền tảng cho nhiều chuyên ngành của kinh tế học như kinh tế công cộng, kinh tế phúc lợi, thương mại Quốc tế, lý thuyết tổ chức ngành, địa lý kinh tế, …

Một trong những mục tiêu nghiên cứu của Kinh tế học vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối cho các mặt hàng, dịch vụ và sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau. Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thị trường khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả cần có trong lý thuyết cho việc cạnh tranh hoàn hảo. Ngoài ra còn trang bị các công cụ nâng cao trong phân tích tổng quát.

Chính vì thế Kinh tế học vi mô là một môn học vô cùng quan trọng với sinh viên nhóm ngành kinh tế. Việc học và nghiên cứu môn học này sẽ giúp bạn yêu thích môn học cũng như hiểu rõ hơn vể ngành nghề mà mình đã lựa chọn.

Bài tập lớn là một loại bài tập tổng hợp bao gồm nhiều ý nhỏ nhằm giải quyết nhiều mặt của một vấn đề. Bài tập lớn Kinh tế vi mô gồm có 2 phần là:

Phần lý thuyết, sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về môn học kinh tế vi mô, củng cố, nâng cao những nhận thức về lý luận, phương pháp luận, nắm bắt được các quy luật như: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sự lựa chọn tối ưu… để vận dụng và giải quyết những vấn đề cụ thể trong hoạt động Kinh tế vi mô nói chung và hoạt động của một doanh nghiệp nói riêng.

Phần bài tập, sẽ giúp sinh viên giải thích, phân tính và chứng minh các tình huống xảy ra trong hoạt động vi mô của doanh nghiệp cũng như việc xử lý các tình huống đó một cách tối ưu trong những điều kiện cho phép.

Hy vọng rằng sau khi làm xong bài tập lớn kinh tế vi mô này các bạn sẽ rút ra được những điều bổ ích để có thể áp dụng cho thực tế sau này.

1. Giới thiệu chung về môn học vi mô a. Đối tượng và nội dung cơ bản của Kinh tế học vi mô

Kinh tế học vi mô là một nhánh của kinh tế học đi sâu nghiên cứu hành vi của các chủ thể, các bộ phận kinh tế riêng biệt các thị trường, các hộ gia đình và các hãng kinh doanh. Kinh tế vi mô cũng quan tâm đến tác động qua lại giữa hành vi của người tiêu dùng và các hãng để hình thành thị trường và các ngành để quá trình phân tích được đơn giản.

Kinh tế vĩ mô là một nhánh của kinh tế học tập trung nghiên cứu các hoạt động của nền kinh tế dưới góc độ tổng thể. Nó đề cập tới các tiêu chí tổng thể như: tốc độ tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, thu nhập quốc dân…

Þ Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô tuy khác nhau nhưng đều là những nội dung quan trọng của kinh tế học, không thể chia cắt nhau, mà bổ sung cho nhau, tạo thành hệ thống kiến thức kinh tế thị trường có sự điêù tiết của nhà nước. Vì vậy kinh tế vĩ mô tạo hành lang, tạo môi trường, tạo đIều kiện cho kinh tế vi mô phát triển. Trong thực tiễn kinh tế và quản lý kinh tế nếu chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế vi mô, quản lý kinh tế vi mô hay quản lý sản xuất kinh doanh, mà không có sự đIều chỉnh cần thiết của kinh tế vĩ mô, quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước về kinh tế thì rất khó có thể nắm bắt và điều chỉnh được nền kinh tế.

b. Đối tượng và nội dung cơ bản của kinh tế học vi mô

Kinh tế vi mô là một môn khoa học kinh tế, một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lý doanh nghiệp trong ngành kinh tế quốc dân. Nó là khoa học về sự lựa chọn hoạt động kinh tế vi mô trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của sự điều tiết. Do đó kinh tế vi mô là sự lựa chọn để giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp, một tế bào kinh tế: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Để giải quyết được những yêu cầu trên kinh tế vi mô sẽ nghiên cứu tập trung vào một số nội dung quan trọng nhất như vấn đề kinh tế cơ bản: cung và cầu, cạnh tranh và độc quyền, cầu về hành hoá: cung và cầu về lao động, sản xuất và chi phí, lợi nhuận và quyết định cung cấp; hạn chế của kinh tế thị trường và sự can thiệp của chính phủ; doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hoá.

Những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp; việc lựa chọn kinh tế tối ưu, ảnh hưởng của quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dần; quy luật chi phí tương đối ngày càng tăng; hiệu quả kinh tế.

Cung và cầu: Nghiên cứu nội dung của cung và cầu, sự thay đổi cung cầu, quan hệ cung cầu ảnh hưởng quyết định đến giá cả thị trường và sự thay đổi giá cả trên thị trường làm thay đổi quan hệ cung cầu và lợi nhuận.

Lý thuyết người tiêu dùng: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung của nhu cầu và tiêu dùng, các yếu tố ảnh hưởng đến đường cầu, hàm cầu và hàm tiêu dùng, tối đa hoá lợi ích và tiêu dùng tối ưu, lợi ích cận biên và sự co dãn của cầu.

Thị trường các yếu tố sản xuất: Nghiên cứu cung và cầu về lao động, vốn, đất đai.

Sản xuất chi phí và lợi nhuận: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung sản xuất và chi phí, các yếu tố sản xuất, hàm sản xuất và năng suất, chi phí cận biên, chi phí bình quân và tổng chi phí: lợi nhuận doanh nghiệp, quy luật lãi suất giảm dần, tối đa hoá lợi nhuận, quyết định sản xuất và đầu tư, quyết định đóng cửa doanh nghiệp.

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền: Nghiên cứu về thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền: quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền, quan hệ giữa sản lượng, giá cả và lợi nhuận.

Vai trò của chính phủ: Nghiên cứu khuyết tật của kinh tế thị trường, vai trò và sự can thiệp của chính phủ đối với hoạt động kinh tế vi mô và vai trò của doanh nghiệp nhà nước.

Một trong những mục tiêu nghiên cứu của kinh tế học vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối cho các mặt hàng và dịch vụ và sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau. Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thị trường khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả cần có trong lý thuyết cho việc cạnh tranh hoàn hảo. Ngoài ra còn trang bị các công cụ nâng cao trong phân tích cân bằng tổng quát.

c. Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô

Nghiên cứu những vấn đề kinh tế lý luận, phương pháp luận và phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế vi mô. Vì vậy cần nắm vững khái niệm, định nghĩa, nội dung, công thức tính toán, cơ sở hình thành các hoạt động hình thành kinh tế vi mô, quan trọng nhất là phải rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của nó.

Cần gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận và thực hành trong quá trình học tập.

Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực tiễn sinh động phong phú, phức tạp của các hoạt động kinh tế vi mô của doanh nghiệp ở Việt Nam và ở các nước.

Cần hết sức coi trọng việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn về các hoạt động kinh tế vi mô trong các doanh nghiệp tiên tiến của Việt Nam và của các nước trên thế giới. Nhờ đó chúng ta mới có thể làm phong phú thêm, sâu sắc thêm những nhận thức lý luận về môn khoa học kinh tế vi mô.

Ngoài ra còn có những phương riêng được áp dụng các phương pháp riêng như:

Áp dụng phương pháp cân bằng nội bộ, bộ phận, xem xét từng đơn vị vi mô, không xét sự tác động đến các vấn đề khác; xem xét một yếu tố thay đổi, tác động trong các điều kiện các yếu tố khác không đổi.

Trong kinh tế vi mô cần sử dụng mô hình hoá như công cụ toán học và phương trình vi phân để lượng hoá các quan hệ kinh tế.

2. Giới thiệu chung về lý thuyết cung – cầu

Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhật định.

Lượng cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua sẵn sáng hoặc có khả năng mua ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định.

Biểu cầu là bảng chỉ số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng sẵng sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.

Đường cầu là đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu và giá. Một điểm chung của các đường cầu là chúng nghiêng xuống dưới về phía phải.

Luật cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa hoặc dịch vụ giảm xuống.

Thu nhập là một yếu tố quan trọng trong xác định cầu. Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng.

Những hàng hóa có cầu tăng lên khi thu nhập tăng lên được gọi là các hàng hóa thông thường.

Các hàng hóa mà cầu giảm đi khi thu nhập tăng lên được gọi là hàng thứ cấp.

Khi số lượng người tiêu dùng càng tăng thì cầu về hàng hoá cũng tăng.

Thị hiếu có ảnh hưởng lớn đến cầu của người tiêu dùng, thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hoá hoặc dịch vụ.

Cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào các kỳ vọng (sự mong đợi) của người tiêu dùng. Nếu người tiêu dùng hy vọng rằng giá cả của hàng hoá nào đó sẽ giảm xuống trong tương lai, thì cầu hiện tại đối với hàng hoá của họ sẽ giảm xuống và ngược lại.

Khi có sự thay đổi của các yếu tố trên thì sẽ làm cho lượng cầu thay đổi ở mọi mức giá. Chúng tạo lên hàm cầu được thể hiện dưới dạng phương trình sau:

Trong đó :

Lượng cầu tại một mức giá đã cho được biểu thị bằng một điểm trên đường cầu. Còn toàn bộ đường cầu phản ánh cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể nào đó. Do vậy sự thay đổi của cầu là sự dịch chuyển của toàn bộ đường cầu sang bên trái hoặc bên phải, còn sự thay đổi của lượng cầu là sự vận động dọc theo đường cầu.

Hình vẽ sau đây minh hoạ sự phân biệt đó.

Khái niệm:

Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khac nhau trong một thời gian nhất định.

Lượng cung là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵng sàng và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định.

Biểu cung là một bảng miêu tả số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.

Đường cung là đường biểu diễn mối quan hệt giữa đường cung và giá trên đồ thị. Một nét chung của đường cung là có độ nghiêng lên trên về phía phải phản ánh quy luật cung.

Luật cung là số lượng hàng hóa được cung trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của nó tăng lên. Vì vậy theo luật cung, giá và số lượng tỉ lệ thuận với nhau.

Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao sản xuất, giảm chi phí lao động trong quá trình chế tạo sản phẩm. Sự cải tiến công nghệ làm cho đường cung dịch chuyển về phía phải, nghĩa là làm tăng khả năng cung lên.

Giá của các yếu tố sản xuất có ảnh hưởng đến khả năng cung sản phẩm. Nếu giá của các yếu tố sản xuất giảm sẽ dẫn đến giá thành sản xuất giảm và cơ hội kiếm lợi nhuận sẽ cao lên, do đó các nhà sản xuất có xu hướng sản xuất nhiều lên.

Số lượng người càng nhiều thì lượng cung càng lớn.

Mọi mong đợi về sự thay đổi giá của hàng hóa, giá của các yếu tố sản xuất, chính sách thuế… đều có ảnh hưởng đến cung hàng hóa và dịch vụ. Nếu sự mong đợi dự đoán có thuận lợi cho sản xuất thì cung sẽ được mở rộng và ngược lại.

Từ các yếu tố trên ta xác định được hàm cung theo phương trình sau:

Trong đó :

Sự thay đổi của cung là sự dịch chuyển toàn bộ đường cung. Sự thay đổi lượng cung là sự vận động dọc theo đường cung.

Hình sau đây mô tả sự khác biệt đó:

Giá trần:

Là một mức giá tối đa mang tính pháp lý bắt buộc người bán ra không được đòi hỏi giá cao hơn.

Giá trần thường được áp dụng khi có sự thiếu hụt thất thường về các hàng hóa quan trọng nhằm tránh sự tăng giá quá mức. Mức giá này thường thấp hơn mức giá cân bằng.

è Bảo vệ lợi ích nười tiêu dùng.

Chính phủ thường đặt ra mức giá tối thiểu đối với hàng hóa. Mức giá này thường áp dụng cho hiện tượng dư thừa sản lượng.

Mục tiêu đặt giá sàn nhằm đảm bảo lợi ích cho người sản xuất và cung ứng phục vụ.

è Bảo vệ lợi ích người sản xuất.

d. Các phương pháp ước lượng cầu

Điều tra và nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng bằng cách quan sát:

Quan sát hành vi của người tiêu dùng là cách thu thập thông tin về sở thích của người tiêu dùng, thông qua việc quan sát hành vi mua sắm và sử dụng sản phảm của họ.

Phương pháp thử nghiệm là phương pháp điều tra cầu của người tiêu dùng trong phòng thí nghiệm, nghĩa là người tiêu dùng được cho một số tiền và được yêu cầu chỉ tiêu trong một cửa hàng.

Phương pháp này phản ánh tính hiện thực hơn là phương pháp điều tra người tiêu dùng. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có các hạn chế nhất định như không đảm bảo độ chính xác cho việc suy đoán của toàn bộ thị trường.

Phương pháp thí nghiệm trên thị trường.

Phương pháp phân tích hồi quy.

3. Giới thiệu chung hành vi của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất. Một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh có hiệu qủa là doanh nghiệp thoả mãn được nhu cầu tối đa của thị trường và xã hội về hàng hoá, dịch vụ trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất.

Qúa trình kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, xã hội của từng loại doanh nghiệp. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:

Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ để quyết định xem sản xuất cái gì

Chuẩn bị đồng bộ các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định sản xuất như: lao động, đất đai, thiết bị, vật tư, kỹ thuật, công nghệ….

Tổ chức tốt quá trình kết hợp chặt chẽ, khéo léo giữa các yếu tố cơ bản của đầu vào để tạo ra hàng hoá và dịch vụ, trong đó lao động là yếu tố quyết định.

Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, bán hàng hóa thu tiền về.

Một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả của kinh doanh là rút ngắn chu kỳ kinh doanh. Chu kỳ kinh doanh chính là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu khảo sát nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá, dịch vụ, đến lúc bán xong hàng hóa và thu tiền về.

Công nghệ

Sản xuất là các loại hoạt động của doanh nghiệp bao gồm cả lĩnh vực lưu thông và dịch vụ.

Các doanh nghiệp chuyển hoá các đầu vào (còn gọi là các yếu tố sản xuất) thành đầu ra (còn gọi là sản phẩm).

Các yếu tố sản xuất được chia thành 2 loại:

+ Lao động (L)

+ Vốn (K) bao gồm: các nguyên nhiên vật liệu, tài sản cố định, máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng…

Các yếu tố được kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất kinh đoanh để tạo ra sản phẩm đầu ra (Q). Sản phẩm đầu ra có thể là sản phẩm hữu hình hoặc sản phẩm vô hình.

Hàm sản xuất

Quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện bằng hàm sản xuất

+ Hàm sản xuất chỉ rõ mối quan hệ giữa sản lượng tối đa có thể thu được từ các tập hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào với một trình độ công nghệ nhất định.

+ Hàm sản xuất biểu diễn phương pháp sản xuất có hiệu quả về mặt kỹ thuật khi kết hợp giữa các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra.

Một doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao khi doanh nghiệp đó có chi phí cơ hội đầu vào là nhỏ nhất.

Một hàm sản xuất thường dùng là hàm Cobb Douglas:

Y = A. K a.L a ( b=1-a )

Trong đó:

Y : là sản lượng đầu ra

L : là vốn

K : là lao động

a, b : là những hằng số cho biết tầm quan trọng tương đối của vốn và lao động trong quá trình sản xuất.

MPL = Qn – Qn-1

Sản xuất với một đầu vào biến đổi

Năng suất lao động bình quân ( APL )

Hình vẽ:

Sản xuất với hai đầu vào biến đổi

Đường động lượng :

Là đường biểu thị tất cả sự kết hợp của các yếu tố đầu vào khác nhau để sản xuất ra một lượng đầu ra nhất định.

Các đường động lượng cho thấy sự linh hoạt mà các doanh nghiệp có được khi ra quyết định sản xuất trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp có thể đạt được một đầu ra lựa chọn bằng cách sử dụng các cách kết hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào để được một lượng đầu ra mong muốn với mục đích tối thiểu hoá chi phí tối đa hoá lợi nhuận.

Hình vẽ:

Sự thay thế các đầu vào, tỷ suất thay thế, kỹ thuật cận biên (MRTS)

Độ nghiêng của đường cong lượng cho thấy có thể dùng 1 số lượng đầu vào này thay thế cho 1 số lượng đầu vào khác nhưng phải đảm bảo đầu ra không đổi. Độ nghiêng đó được gọi là tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên (MRTS) nghĩa là muốn giảm đi một đơn vị lao động thì cần có bao nhiêu đơn vị vốn với điều kiện Q không đổi và ngược lại.

Và số đầu ra giảm đi do giảm sử dụng vốn sẽ là:

Trong đó: DK : chênh lệch về vốn

MP K : năng suất lao động cận biên theo vốn

DQ + DL = 0

Tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên

TH 1: Các yếu tố đầu vào có thể thay thế hoàn toàn cho nhau và MRTS không đổi trên một đường đồng lượng có dạng một đường thẳng có nghĩa là cùng một đầu ra có thể chỉ được sản xuất bằng lao động và vốn hoặc bằng sự kết hợp giữa lao độngvà vốn

TH 2: Các yếu tố đầu vào không thể thay thế cho nhau, mỗi mức đầu vào đòi hỏi có sự kết hợp riêng. Mỗi mức đầu ra đòi hỏi một sự kết hợp giữa lao động và vốn. Khi đó đường động lượng có dạng L.

Lý thuyết về chi phí sản xuất

Ý nghĩa và khái niệm

Trong kinh tế vi mô chi phí sản xuất giữ mộtvị trí quan trọng và có quan hệ tới nhiều vấn đề khác của doanh nghiệp như: quan hệ với người tiêu dùng, xã hội….Trong đó:

+ Chi phí tính toán (chi phí kế toán) là tất cả những khoản chi nhưng không tính đến chi phí cơ hội.

+ Chi phí kinh tế (chi phí tài chính) là tất cả các khoản chi bao gồm cả chi phí cơ hội.

Þ Chi phí kinh tế thường lớn hơn chi phí tính toán 1 lượng bằng chi phí cơ hội.

Chi phí ngắn hạn là những chi phí của thời kỳ mà trong đó số lượng và chất lượng của đầu vào là không đổi.

Tổng chi phí (TC) là toàn bộ chi phí biến đổi và chi phí cố định sản xuất ra sản phẩm.

Chi phí cố định (FC) là khoản chi phí không biến đổi khi sản lượng tăng hoặc giảm hoặc bằng 0.

Chi phí biến đổi (VC) là khoản chi phí biến đổi theo từng mức đầu ra

TC = FC + VC

Chi phí bình quân (ATC) là tổng chi phí cho 1 đơn vị sản phẩm:

Chi phí cố định bình quân là chi phí cố định cho 1 đơn vị sản phẩm

Chi phí biến đổi bình quân là chi phí biến đổi cho 1 đơn vị sản phẩm

Þ ATC = AVC + AFC

Mối quan hệ giữa MC và ATC

Hình vẽ:

MC < ATC Þ ATC giảm dần

MC = ATC Þ ATC min

Trong dài hạn doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các đầu vào của nó. Vấn đề đặt ra là lựa chọn các đầu vào như thế nào để sản xuất 1 đầu ra nhất định với chi phí tối thiểu

Gọi LTC là tổng chi phí sản xuất trong dài hạn.

LAC là chi phí bình quân dài hạn (chi phí trung bình dài hạn).

LMC là chi phí cận biên dài hạn.

Þ

Trong trường hợp ngắn hạn nếu doanh nghiệp đạt mức giá

P = ATCmin Þ doanh nghiệp sẽ đạt hòa vốn.

P £ AVCmin Þ doanh nghiệp có thể phải đóng cửa sản xuất.

AVCmin < P < ATCmin Þ doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.

Trong trường hợp dài hạn nếu:

P = LACmin Þ doanh nghiệp đạt hòa vốn dài hạn.

P < LACmin Þ doanh ngiệp rời bỏ thị trường.

Là đường bao gồm tất cả các tập hợp có thể có của lao động và vốn mà người ta có thể mua với một tổng chi phí nhất định.

Gọi TC là tổng chi phí.

W là chi phí cho 1 đợn vị lao động (lương).

R là chi phí cho 1 đơn vị vốn.

TC = w.L + rK

∏ = TR – TC

Lợi nhuận và tối đa lợi nhuận

Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.

Do vậy lợi nhuận thường được xác định như sau:

Trong đó:

TR = P.Q (giá . số lượng)

Đối với doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo lợi nhuận đạt tối đa tại mức sản lượng Q* khi P = MC

Đối với doanh nghiệp kinh doanh trong thị trường độc quyền và bán cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa tại mức sản lượng Q* khi MR = MC

Để đạt TR max khi MR = 0

Quy tắc : tối đa lợi nhuận

Các loại lợi nhuận

Lợi nhuận tính toán: được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí tính toán. Đó là khoản chi phí không tính đến những chi phí tiềm ẩn hay chi phí cơ hội.

Lợi nhuận bình quân: được hình thành do tác động của quy luật cung cầu vốn trong nền kinh tế thị trường. Nó được biểu hiện cụ thể bằng tỷ suất lãi trên vốn.

Lợi nhuận bình thường: là mức lợi nhuận chỉ vừa đủ để giữ cho các nhà kinh doanh tiếp tục công việc của mình và tồn tại với tư cách là một bộ phận của tổng chi phí.

Lợi nhuận siêu ngạch.

Lợi nhuận dị thường.

Lợi nhuận độc quyền.

Tối đa hóa lợi nhuận

Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp đó kiếm được nhờ bán hàng hóa, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định.

Doanh thu cận biên (MR) là là mức thay đổi tổng doanh thu do tiêu thụ thêm một đơn vị sản lượng:

Tối đa hóa lợi nhuận trong sản xuất ngắn hạn.

Doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa ở mức sản lượng mà ở đó doanh thu cận biên bằng với chi phí cận biên (MR=MC).

Tối đa hó lợi nhuận tron sản xuất dài hạn.

Như ta đã biết trong sản xuất dài hạn không còn chi phí cố định, doanh nghiệp có quyền quyết định nên xây dựng một năng lực sản xuất đến mức nào là tối ưu, tức là xác định lượng chi phí cố định tối ưu.

Để tối đa hóa lợi nhuận, chúng ta có thể sử dụng phương pháp trình bày ở trên nhưng loại trừ chi phí cố định, có nghĩa là mọi chi phí đều biến đổi như phương pháp ngắn hạn, doanh nghiệp coi giá cả thị trường là cho trước và là doanh thu cận biên của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ tăng sản lương khi nào doanh thu cận biên còn lớn hơn chi phí cận biên.

Doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối đa bằng việc cân bằng doanh thu cận biên và chi phí cận biên.

4. Giới thiệu chung về hành vi của doanh nghiệp độc quyền

Độc quyền bán là một thị trường, trong đó chỉ có một người bán, nhưng có nhiều người mua.

Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ một số nguyên nhân cơ bản sau :

Đạt được tính kinh tế quy mô, yếu tố quan trọng quyết định cấu trúc thị trường là sản lượng ở mức quy mô tối thiểu có hiệu quả so với cầu của thị trường. Quy mô tối thiểu có hiệu quả là sản lượng mà tại đó, đường chi phí bình quân dài hạn của một doanh nghiệp ngừng đi xuống. Như vậy, nếu một doanh nghiệp đạt được tính kinh tế của quy mô, thì việc mởi rộng sản lượng của nó sẽ loại bỏ được các đối thủ và cuối cùng sẽ là người bán duy nhất trên thị trường, nếu mức sản lượng có chi phí bình quân dài hạn tối thiểu của nó là đủ lớn để đáp ứng cầu thị trường.

Bằng phát minh sáng chế (bản quyền). Luật về bằng phá minh sáng chế (bản quyền) cho phép các nhà sản xuất có được vị trí độc quyền về bán một sản phẩm hoặc một quy trình công nghệ mới trong một khoảng thời gian nhất định.

Kiểm soát các yếu tố (đầu vào) sản xuất. Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ quyền sở hữu một loại đầu vào (nguyên liệu) để sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó.

Quy định của chính phủ. Một doanh nghiệp có thể trở thành độc quyền hợp pháp nếu nó là người duy nhất được cấp giấy phép sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, dịch vũ nào đó. Chẳng hạn đường sắt Việt Nam, bưu điện Việt Nam…

Đặc điểm :

Một người bán, nhiều người mua.

Sản phẩm đọc nhất không có hàng hóa thay thế gần gũi.

Có sức mạnh thị trường (có quyền định giá sản phẩm và sản lượng bán, việc gia nhập thị trường là rất khó khăn, nhiều trở ngại).

Đường cầu và đường doanh thu cận biên :

Là người sản xuất duy nhất đối với một loại sản phẩm, nhà độc quyền bán có vị trí độc nhất trên thị trường. Nhà độc quyền bán có sự kiểm soát toàn diện đối với số lượng sản phẩm đưa ra bán. Nhưng điều này không có nghĩa là nó đặt giá cao bao nhiêu cũng được, vì mục đích của nó là tối đa hóa lợi nhuận. Đặt giá cao sẽ có ít người mua và lợi nhuận thu được sẽ ít hơn.

Vì là người duy nhất bán một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể trên thị trường, nhà độc quyền bán đứng trước cầu thị trường – một đương cầu dốc xuống dưới về phí phải. Đường cầu thị trường chính là đường doanh thu bình quân (AR) của doanh nghiệp. Khi đường cầu dốc xuống thì giá và doanh thu bình quân luôn lớn hơn doanh thu cận biên, vì tất cả các đơn vụ đều được bán ở cùng một giá. Tăng lượng bán thêm một đơn vị thì giá bán phải giảm xuống, như vậy tất cả các đơn vị bán ra đều phải giảm giá chứ không phải chỉ một đơn vị bán thêm. Đường doanh thu cận biên vì thế luôn nằm dưới đường cầu, trừ điểm đầu tiên.

Quyết định cung cấp của doanh nghiệp độc quyền :

Một doanh nghiệp để tối đa hóa lợi nhuận phải sản xuất ở mức sản lượng sao cho doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên tại mức Q* (MR = MC).

CM : Q* là sản lượng tối đa hóa lợi nhuận.

Sự khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo và doanh nghiệp độc quyền bán là : doanh ngiệp nghiệp độc quyền bán có sức mạnh thị trường. Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo phải đặt giá bằng chi phí cận biên, còn doanh nghiệp độc quyền bán đặt giá cao hơn chi phí cận biên. Vì thế sức mạnh độc quyền bán được đó bằng chỉ số Lerner, gọi là mức độ sức mạnh độc quyền của Lerner.

Mất không từ sức mạnh độc quyền.

Do sức mạnh độc quyền tạo ra giá cao hơn và sản lượng sản xuất ra thấp hơn so với cạnh tranh hoàn hảo, nên ta dễ thấy người tiêu dùng bị thiệt hại, còn người sản xuất thì được lợi.

Theo hình vẽ ta thấy nếu thị trường là cạnh tranh hoàn hảo thì giá và sản lượng sẽ là P c và Q c. Nếu thị trường là độc quyền bán thì giá và sản lượng là P m và Q m. Như vậy so với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thì thị trường độc quyền bán tạo ra phúc lợi ít hơn, một phần thặng dư tiêu dùng (diện tích A) và thặng dư sản xuất (diện tích B) bị mất do chỉ sản xuất ở mức sản lượng Q m. Phần phúc lợi bị mất gọi là mất không và được tính bằng S ∆ABC.

I. Các thông tin

Một doanh nghiệp độc quyền kinh doanh một loại sản phẩm đặc biệt gặp đường cầu :

Trong đó :

P là giá tính bằng USD (đô-la) trên một đơn vị sản phẩm.

Q là sản phẩm lượng tính bằng ngàn đơn vị sản phẩm.

Nhà độc quyền có chi phí bình quân để sản xuất ra một sản phẩm là:

Khi tính bằng ngàn đô-la trên một ngàn đơn vị sản phẩm thì :

P = 11000 – 1000Q 1 (D 1)

P = 100000 – 3000Q 2 (D 2)

Ta có :

Đường cầu của doanh nghiệp được xác định như sau :

Vậy phương trình đường cầu có thể viết :

P = 33250 – 750Q (D)

Þ Ta có phương trình doanh thu là :

Phương trình doanh thu cận biên là :

MR = = (TR 2)’ = 33250 – 1500Q

Phương trình chi phí cận biên :

MC = = (TC)’ = 4Q + 3000

Mức sản lượng tối ưu của nhà độc quyền xuất hiện khi doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên.

KL: Vậy mức sản lượng tối ưu của nhà độc quyền là :

Q = 20,11 (ngàn sản phẩm)

P = 33250 – 750.20,11 = 18167,5 (USD / ngàn sản phẩm)

Nhà độc quyền sẽ đặt giá P = 18,1675 (USD / sản phẩm)

TR = P.Q = 18167,5 . 20,11 = 365348.425 (USD)

TC = 500 + 2Q 2 + 3000Q

= 500 + 2(20,11) 2 + 3000(20,11)

= 61638,82 (USD)

Lợi nhuận cực đại nhà độc quyền có thể thu được là :

∏ max = TR – TC = 365348,425 – 61638,82

= 303709,61 (USD)

Sức mạnh của nhà độc quyền được thể hiện bằng việc doanh nghiệp này có quyền định giá và sản lượng bán của sản phẩm.

Ở đây :

P = 18167,5 (USD / ngàn sản phẩm)

Q = 20,11 (ngàn sản phẩm)

Þ MC = 4Q + 3000

= 4 . 20,11 + 3000

= 3080,44

Sức mạnh của nhà độc quyền là :

Vì 0 ≤ L ≤ 1

Þ Nên có thể thấy sức mạnh độc quyền của doanh nghiệp này rất lớn.

Mức giá và sản lượng tối ưu cho xã hội của hãng này xảy ra khi đường chi phí cận biên gặp đường cầu (tại điểm B trên hình vẽ)

P = MC

Û 33250 – 750Q = 4Q + 3000

Û Q = 40,12 (ngàn sản phẩm)

Þ Giá P = 33250 – 750Q

= 33250 – 750 . 40,12

= 3160 (USD / ngàn sản phẩm)

Giá 1 sản phẩm là: P = 3,16 (USD / sản phẩm)

Để tối đa hóa lợi nhuận nhà độc quyền đã hạn chế sản lượng thấy hơn sản lượng tối ưu cho xã hội và gây ra mất không.

Lượng mất không chính là: diện tích tam giác ABC.

= 150946 (USD)

Khi chính phủ đặt giá bản của nhà độc quyền là P = 180 (USD / đơn vị sản phẩm) thì giá của 1000 sản phẩm là:

P = 180000 (USD / ngàn sản phẩm)

TR = 180000 Q

MR = 180000

Để đạt được lợi nhuận cao nhất phải thỏa mãn:

MR = MC

Û 180000 = 4Q + 3000

Û Q = 44250 (ngàn sản phẩm)

TR = 5 . 310 . 10 6 (USD)

Ta có: TC = 600 + 2Q 2 + 3000Q

= 4048875500 (USD)

Lợi nhuận cực đại là :

∏ max = TR – TC = 1261124500 (USD)

Nếu doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa doanh thu thì phải thỏa mãn: MR = 0

P = 16624,75 (USD / ngàn sản phẩm)

hay P = 16,62475 (USD / sản phẩm)

Vậy để tối đa hóa doanh thu thì doanh nghiệp sẽ bán ra

Q = 22,167 (ngàn sản phẩm)

Với giá

P = 16,62475 (USD / sản phẩm)

Để không bị lỗ, doanh nghiệp phải thỏa mãn: d = ATC min

Hay MC = ATC

Þ Q = = 15,81

Để không bị lỗ doanh nghiệp phải sản xuất

Q = 15,81 ( ngàn sản phẩm)

Với giá

P = 21392,5 (USD / ngàn sản phẩm)

Hay

P = 21,3925 (USD / sản phẩm)

Thặng dư sản xuất của doanh nghiệp khi đạt mức lợi nhuận tối đa chính là phần diện tích đa giác ACDE trên đồ thị

PS = 0,5 [(18167,5 – 3000) + (18167,5 – 3080,44)] . 20,11

= 304209 (USD)

Thặng dư tiêu dùng chính là diện tích tam giá AEF

PS = 0,5 (33250 – 18167,5) . 20,11

= 151654 (USD)

Lợi ích ròng của xã hội khi đó

NSB = PS + CS = 304209 + 151654

= 455863 (USD)

Qua bài tập lớn ở trên chúng ta có thể rút ra một số điều như sau:

Sức mạnh của nhà độc quyền được thể hiện bằng việc doanh nghiệp đó có quyền quyết định giá và sản lượng bán. Từ đó có thể tính được mức độ sức mạnh của nhà độc quyền đó bằng việc dùng hàm Lerner.

Để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp sẽ phải phải là gì? ở đây muốn tối đa hóa lợi nhuận thì chi phí cận biên phải bằng với doanh thu cận biên. Từ đó ta có thể tính được lợi nhuận cực đại mà doanh nghiệp có thể thu được và sản lượng tối đa mà doanh nghiệp sẽ sản xuất ra để đem lại lợi nhuận cực đại đó.

Mức giá và sản lượng tối ưu cho xã hội đối với hãng độc quyền này xảy ra khi đường chi phí cận biên gặp đường cầu.

Nếu doanh nghiệp muốn tối đa hóa doanh thu thì hành vi thì phải thỏa mãn doanh thu cận biên bằng 0.

Để không bị lỗ hay phá sản thì doanh nghiệp sẽ phải làm gì? Ở đây để không phá sản thì P = ATCmin khi và chỉ khi MC = ATC.

Qua đó ta có thể tính được thặng dư sản xuất mà doanh nghiệp có được khi đạt mức lợi nhuận tối đa và tính được thặng dư tiêu dùng và lợi ích ròng của xã hội mà khi nhà độc quyền này đạt lợi nhuận cực đại.

Þ Vì vậy chúng ta cần:

Cần nắm vững khái niệm, định nghĩa, nội dung, công thức tính toán, cơ sở hình thành các hoạt động kinh tế vi mô, quan trọng hơn là rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của nó. Chẳng hạn, phải hiểu tại sao lại đề ra các mức giá mua và giá bán, các sự lựa chọn phương pháp tăng lợi nhuận…

Cần phải sử dụng những lý luận, phương pháp luận có tính quy luật chung đó để làm cơ sở phân tích các hoạt động kinh tế vi mô, phát hiện những mâu thuẫn đang diễn ra trong thực tiễn và trên cơ sở đó xây dựng các dự đoán, đề ra các phương hướng, biện pháp phù hợp, nhằm phát triển có hiệu quả hơn các hoạt động kinh tế vi mô.

Þ Bài tập lớn giúp ta hiểu hơn về môn học, đặc biệt là về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó sẽ phải có những biện pháp để khắc phục những sai lầm, của doanh nghiệp để đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn và có những hướng đi riêng để doanh nghiệp phát triển mạnh.

Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí