Phương Pháp Dạy Học Quan Sát Các Môn Tự Nhiên & Xã Hội

Trong cuộc sống thường ngày mọi vật đều sinh sôi và phát triển dựa vào những nguyên lý mà đã tồn tại từ rất lâu. Không phải ngẫu nhiên mà cha ông ta có nhiều kinh nghiệm về thời tiết, mùa màng để áp dụng vào việc trồng trọt của mình hay có những kinh nghiệm để chữa bệnh bằng nhiều cách thức khác nhau như dùng thuốc bằng các loại thảo mộc hay một số bộ phận của các con côn trùng, … tất cả là nhờ vào quá trình quan sát qua một thời gian dài mà đúc kết được những kinh nghiệm đó. Chính vì thế, ngày nay phương pháp dạy học quan sát được đưa vào giảng dạy rất phổ biến đặc biệt ở cấp tiểu học khi mà các em đang còn rất muốn khám phá thế giới xung quanh thông qua sự quan sát và tìm tòi để học hỏi hơn là chỉ ngồi ở lớp lắng nghe giảng lý thuyết. Để cho các bạn có cái nhìn đúng và áp dụng thành công phương pháp dạy học quan sát các môn tự nhiên & xã hội này chúng tôi sẽ chia sẽ rõ hơn trong bài viết sau đây.

Thông thường khi nhắc đến việc quan sát chắc có lẽ nhiều người sẽ nghĩ là hành động nhìn của mắt để nhận biết hay trải nghiệm một sự vật, con vật, sự việc nào đó. Nhưng không hẳn vậy, đối với phương pháp học quan sát này thì người hướng dẫn (giáo viên, giảng viên,…) sẽ hướng dẫn người học dùng các giác quan của mình để cảm nhận về những sự vật hay hiện tượng đưa ra. Hiện tượng đó là những gì xung quanh cuộc sống hàng ngày, có thể là về tự nhiên hay xã hội với mục tiêu cuối cùng giúp người học rút ra tổng kết hay kết luận một cách khoa học nhất.

Lợi ích khi đưa phương pháp dạy học quan sát

Tại các bậc học như ở mẫu giáo hay tiểu học thì có thể thấy việc áp dụng phương pháp quan sát này vào giảng dạy rất nhiều. Với nhiều lý do có thể nhắc đến như sau:

– Các học sinh khi còn nhỏ đặc biệt là ở cấp 1 thì tư duy về hình ảnh cũng như trực quan sinh động sẽ rất chiếm ưu thế, nên việc sử dụng phương pháp dạy quan sát trong quá trình giảng bài sẽ đem lại hiệu quả cao nhất có thể.

– Việc học bằng phương pháp này còn mang lại khả năng sáng tạo, dần hình thành trong tư duy những định nghĩa, khái niệm  đúng đắng nhất của mỗi học sinh đối với những gì quan sát, cảm nhận được thông qua mỗi buổi được học cùng phương pháp này.

– Bên cạnh đó phương pháp dạy học quan sát sẽ giúp các em luyện tập được năng lực quan sát của bản thân, nâng cao tư duy và mở mang được rất nhiều kiến thức mới mà sách vở không thể nào truyền tải được hết tất cả mà nhờ vào quá trình quan sát mới có thể có đầy đủ được.

– Không chỉ vậy việc thực hiện đúng theo phương pháp dạy học thông qua quan sát sẽ đem lại sự dễ dàng hơn cho các em trong nhiều môn học khác nữa.

– Nhờ đó khi mà các tiết học được người hướng dẫn đưa phương pháp này vào phần bài giảng của mình thì sẽ có một điều chắc chắn rằng sẽ thu hút sự tập trung, chú ý rất nhiều của các em, qua đó chất lượng của buổi học sẽ tăng lên cao hơn.

Trên thực tế, ai ai cũng biết được tầm quan trọng của việc học lý thuyết phải cần song song với thực hành thì mới có thể tiến bộ nhanh chóng được. Trong công cuộc xây dựng những mầm xanh tương lai của đất nước thì luôn đòi hỏi những người làm nghề hướng dẫn các em phải luôn đổi mới và áp dụng những phương pháp hiệu quả nhất. Đặc biệt trong môn học Tự nhiên và Xã hội thì các đối tượng học của môn này lại phù hợp nhất để áp dụng phương pháp dạy học quan sát này.

Các đối tượng thường được chia làm hai dạng chính là đối tượng quan sát bên trong và đối tượng quan sát bên ngoài. Bên trong có thể kể đến các vật như: các mẫu vật phẩm, mô hình, tranh, ảnh, các tiêu bản, đồ dùng trong nhà, … Còn bên ngoài như: nhà, cây cối, động vật, sông, suối, biển, …

Một số bước tiến hành của phương pháp dạy học quan sát 

– Đầu tiên, cần đưa ra mục tiêu muốn đạt được thông qua quá trình quan sát, ví dụ như bạn muốn giới thiệu các em biết về chức năng của lá đối với cây.

– Tiếp theo, cần đưa đến quyết định lựa chọn đối tượng để các em có thể quan sát được. Trong ví dụ trên bạn nên lựa chọn một cái cây có nhiều lá ở bên ngoài môi trường tự nhiên.

– Khi đã lựa chọn xong đối tượng cần quan sát thì sẽ tiến hành đến bước cho các em quan sát đối tượng. Trong bước này cần chú ý về việc tổ chức quan sát sao cho đạt hiệu quả như phân chia các em làm việc theo nhóm để có thể trao đổi chung với nhau những gì mình quan sát được.

– Cuối cùng là phần thu hoạch những gì các em quan sát được, để tìm ra được mục tiêu là xem chức năng của lá đối với quan trọng như thế nào? Liệu chuyện gì sẽ xảy ra khi một cái cây không có lá hoặc lá bị vặt hết? Người hướng dẫn nên cùng các em đưa ra những quan điểm và chốt lại vấn đề, sau đó báo cáo những gì mình quan sát được từ đó suy luận ra nhiều kiến thức khoa học thú vị.

Đặc Điểm Chung Của Chương Trình Các Môn Học Về Tự Nhiên Và Xã Hội

CHƯƠNG TRÌNH ĐƯỢC XÂY DỰNG THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP CHƯƠNG TRÌNH ĐƯỢC XÂY DỰNG THEO QUAN ĐIỂM ĐỒNG TÂM CHƯƠNG TRÌNH ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN KINH NGHIỆM VÀ VỐN SỐNG CỦA HỌC SINH CHƯƠNG TRÌNH ĐƯỢC XÂY DỰNG THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP BIỂU HIỆN CỦA QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

Coi tự nhiên,xã hội và con người là một thể thống nhất trong đó các sự vật và hiện tượng có mối liên hệ qua lại lẫn nhau.

Kiến thức của các môn học được tích hợp từ nhiều môn khoa học như: sinh học, vật lí, hóa học, địa lí, lịch sử và các lĩnh vực kiến thức liên ngành như môi trường, dân số và sức khỏe.

Chương trình có cấu trúc thích hợp với lứa tuổi của học sinh tiểu học (theo giai đoạn):

theo phân môn (môn Lịch sử và địa lí)

Câu hỏi 1

So sánh mức độ tích hợp ở giai đoạn I và II thì giai đoạn nào có mức độ tích hợp cao hơn?

Hint

Mức độ tích hợp kiến thức ở giai đoạn I cao hơn giai đoạn II.

Mức độ tích hợp kiến thức ở giai đoạn II cao hơn giai đoạn I.

Chính xác

Sai

Câu hỏi 2

Chương trình nào có mức độ tích hợp cao hơn?

Hint

So sánh chương trình cải cách và chương trình 2000.

Sai

Đúng

Câu hỏi 3

Chúng ta biết rằng trong chương trình cải cách chỉ có một môn học Tự nhiên và Xã hội, còn trong chương trình 2000 là 3 môn học Tự nhiên và Xã hội; Khoa học; Lịch sử và Địa lí. Chương trình nào có mức độ tích hợp cao hơn? Tại sao?

Tuy về số môn học về tự nhiên và xã hội ở chương trình mới nhiều hơn so với chương trình cũ. Song cấu trúc nội dung của các môn học này lại thể hiện mức độ tích hợp cao hơn. Vì vậy chương trình mới có mức độ tích hợp cao hơn.

Câu hỏi 4

Tại sao có thể nói chương trình mới có mức độ tích hợp cao hơn?

Nội dung giáo dục sức khỏe đã được tích hợp vào.

Lịch sử va Địa lí cũng là một môn học tích hơp.

Câu hỏi 5

MỤC TIÊU CỦA GIÁO DỤC SỨC KHỎE TRONG CHƯƠNG TRÌNH 2000

Sức khỏe cá nhân (chủ đề Con người và Sức khỏe)

Sức khỏe xã hội (Chủ đề Xã hội)

Sức khỏe thể chất (chủ đề Con người và Sức khỏe)

Sức khỏe tinh thần và cảm xúc (Chủ đề Xã hội)

TÁC DỤNG CỦA VIỆC TÍCH HỢP VỚI NỘI DUNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE

Việc tích hợp với nội dung giáo dục sức khỏe có tác dụng:

1. Tránh sự trùng lặp về nội dung

2. Góp phần giảm thời lượng học tập cho học sinh

3. Thực hiện tốt hơn các mục tiêu giáo dục sức khỏe

4. Nâng cao tính thiết thực của các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học

THỰC HÀNH

Hãy lấy ví dụ chứng minh cho từng tác dụng của việc tích hợp với nội dung giáo dục sức khỏe như đã nêu ở trên.

QUAN ĐIỂM ĐỒNG TÂM

CHƯƠNG TRÌNH ĐƯỢC XÂY DỰNG THEO QUAN ĐIỂM ĐỒNG TÂM

Câu hỏi 1

Trong hai chương trình, Chương trình cải cách và chương trình 2000 (phần các môn về tự nhiên và xã hội) chương trình nào có mức độ đồng tâm cao hơn? Vì sao?

Phần nội dung các môn về tự nhiên và xã hội trong chương trình mới được xây dựng ở mức độ đồng tâm cao hơn chương trình cải cách.

Câu hỏi 2

Những bằng chứng nào thể hiện chương trình mới có mức độ đồng tâm cao hơn?

Tính nối tiếp của hai giai đoạn rõ nét hơn

Môn khoa học cũng được cấu trúc theo quan điểm đồng tâm, trong khi đó trong chương trình cũ tính đồng tâm của phân môn khoa học không rõ ràng.

THỰC HÀNH CHƯƠNG TRÌNH ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN KINH NGHIỆM VÀ VỐN SỐNG CỦA HỌC SINH

Nội dung chương trình được lựa chọn cần thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với học sinh, giúp các em có thể áp dụng các kiến thức khoa học vào cuộc sống hàng ngày.

Chương trình chú trọng đến việc hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập và kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống.

TÌNH HUỐNG

Vì sao có thể nói Tự nhiên và Xã hội là môn học mà học sinh có nhiều vốn sống và kinh nghiệm để tham gia xây dựng bài học?

Đối tượng học tập của môn học là chính các sự vật, hiện tượng cụ thể, gần gũi học sinh. (với các môn học khác chúng chỉ là phương tiện)

Các sự vật, hiện tượng này các em học sinh đã được tiếp xúc từ trước khi tới trường từ nhiều nguồn khác nhau: gia đình, các phương tiện thông tin đại chúng, cộng đồng, bạn bè ….

Kiến thức thuộc môn học được xây dựng theo quan điểm đồng tâm, nên những cái đã biết, đã học luôn là cơ sở, điểm tựa cho viẹc học tập những kiến thức tiếp theo.

Phương Pháp Dạy Học Môn Tự Nhiên Xã Hội

Phương pháp dạy học môn tự nhiên xã hội Biên tập bởi: nguyễn Thị Thấn

Phương pháp dạy học môn tự nhiên xã hội Biên tập bởi: nguyễn Thị Thấn Các tác giả: nguyễn Thị Thấn

Phiên bản trực tuyến: http://voer.edu.vn/c/94d71ad2

2/131

Câu hỏi 1 Ở nước ta từ trước đến nay đã trải qua mấy cuộc cải cách giáo dục?

Hint Lưu ý: Một cuộc cải cách giáo dục không phải đơn thuần là một lần thay sách giáo khoa. 2 cuộc 3 cuộc 4 cuộc

3/131

Câu hỏi 2 Read the paragraph below and fill in the missing words. 1. Cuộc cải cách giáo dục gần đây nhất (lần thứ 3) được tiến hành vào khoảng những năm sau 2000?True False

Hint Chương trình tiểu học mới được Bộ trưởng kí duyệt vào năm 2001, nhưng nhièu tài liệu lại gọi đó là Chương trình 2000 Incorrect! Correct! 2. Trong lần đổi mới giáo dục sau năm 2000, tên môn học Tự nhiên và Xã hội đã thay đổi?True False

Hint Hãy xem xét tên gọi của các môn học ở cả hai giai đoạn. Correct!

4/131

Incorrect!

Câu hỏi 3 Môn học với tên gọi “Tự nhiên và Xã hội” lần đầu tiên được dạy ở nước ta từ khi nào?

Câu hỏi 4

5/131

Vì sao có thể nói trong lần đổi mới giáo dục sau năm 2000, tên môn học “Tự nhiên và Xã hội” đã thay đổi?

6/131

Dạy cái gì “DẠY CÁI GÌ”

Chúng ta đang sống trong thời đại “bùng nổ thông tin”. Thông tin ngày nay phát triển vớí tốc độ rất cao không chỉ về lượng mà cả nguồn. Ngày càng có nhiều lĩnh vực thông tin mới. Nhà trường không thể thờ ơ với những thông tin đó vì chúng có quan hệ mật thiết với đời sống của xã hội và của từng thành viên trong đó có các em học sinh. Vậy làm thế nào để bổ sung những thông tin đó vào nội dung dạy học ở nhà trường. Trên thế giới có hai hướng lựa chọn và đưa thông tin mới vào nội dung học tập trong trường học. Đó là: Tăng thêm môn học mới, kéo dài thời gian đào tạo trong nhà trường. Sắp xếp lại kiến thức cũ theo hướng tích hợp, bỏ đi những kiến thức trùng lặp và bổ sung thêm những thông tin mới. Trong hai hướng trên đa số các nước đều lựa chọn hướng thứ hai, tức là hướng tích hợp. Cụ thể là sắp xếp và tích hợp các môn học hiện hành và bổ sung thêm các thông tin mới vào các môn học đã có. Tích hợp đã trở thành xu hướng phát triển giáo dục trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua. Quan điểm tích hợp được đề cao từ bao giờ? Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình giáo dục bắt đầu được đề cao ở Mỹ và các nước châu Âu từ những năm 50 – 60, ở Châu Á vào những năm 70. Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta được bắt đầu từ cuộc Cải cách Giáo dục lần thứ 3. Một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận nêu trên là trong chương trình này lần đầu tiên các kiến thức về khoa học tự nhiên và

7/131

khoa học xã hội được kết hợp trong một môn học. Môn học này được học từ lớp 1 đến lớp 5 ở trường tiểu học với tên gọi Tự nhiên và Xã hội. Trên thế giới từ những năm 50 của thế kỉ trước. Ở Việt Nam từ Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3.

Vì sao tích hợp lại trở thành xu thế phát triển giáo dục? Ngoài việc bùng nổ thông tin còn một lí do khác. Đó là ngày nay loài người đang phải đối mặt với nhiêu vấn đề như vấn đề môi trường, tài nguyên, dân số … Các chuyên gia cho rằng việc chuyên môn hoá quá cao các lĩnh vực kiến thức chính là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề của thời đại. Sự phát triển của khoa học theo chiều hướng phân khoa và chuyên khoa giúp cho nhân loại ngày càng hiểu một cách tỉ mỉ về vũ trụ bao quanh. Song phương hướng phát triển này làm cho các chuyên gia chuyên sâu một lĩnh vực quá nhỏ nên ngày càng mất đi khả năng bao quát, liên kết và nhìn nhận các sự vật và hiện tượng trong mối liên hệ qua lại vốn tồn tại trong thế giới tự nhiên và xã hội. Điều đó làm cho nhiều công trình nghiên cứu về khoa học và công nghệ cứ cố gắng làm cải thiện một mặt nào đó của thế giới tự nhiên và xã hội nhưng lại làm ảnh hưởng xấu đến các mặt khác, làm phá vỡ sự cân bằng của hệ thống vốn thống nhất và hoàn chỉnh của môi trường tự nhiên và xã hội.

8/131

9/131

“Chương trình các môn học về tự nhiên và xã hội ” CHƯƠNG TRÌNH CÁC MÔN HỌC VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI BẢNG SO SÁNH CẤU TRÚC CỦA HAI CHƯƠNG TRÌNH

BẢNG SO SÁNH CẤU TRÚC CỦA MÔN (PHẦN) KHOA HỌC

BẢN SO SÁNH CẤU TRÚC CỦA MÔN (PHẦN) LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ

10/131

11/131

“Định hướng đổi mới chương trình tiểu học 2000 ” ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC 2000 Chỉ có một chương trình tiểu học thống nhất trong toàn quốc. Chương trình phải đáp ứng được những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặt trọng tâm vào đổi mới các phương pháp dạy học. Đẩy cao mức độ tích hợp trong cấu trúc chương trình các môn học. Chương trình được xây dựng dựa trên nguyện vọng và sở thích của học sinh. Là một chương trình mở và mềm dẻo hơn các chương trình cũ. Đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá. THỰC HÀNH Trong Chương trình Cải cách có những loại chương trình tiểu học nào? Dành cho những đối tượng nào? Từ cuộc cải giáo dục lần thứ 3 tồn tại 4 loại chương trình: 1. chương trình hệ 165 tuần (đại trà) 2. Chương trình hệ 120 tuần (những vùng khó khăn) 3. Chương trình hệ 100 tuần (phổ cập) 4. Chương trình thực nghiệm công nghệ giáo dục (các trường thực nghiệm của Trung tâm công nghệ giáo dục) Hãy lấy ví dụ để chứng minh rằng Chương trình 2000: 1. Được xây dựng dựa trên nguyện vọng và sở thích của học sinh. 2. Là một chương trình mở và mềm dẻo hơn các chương trình cũ.

12/131

Câu hỏi 1 So sánh mức độ tích hợp ở giai đoạn I và II thì giai đoạn nào có mức độ tích hợp cao hơn?

13/131

Câu hỏi 2 Chương trình nào có mức độ tích hợp cao hơn?

Hint So sánh chương trình cải cách và chương trình 2000. Chương trình cải cách chương trình mới Sai Đúng

Câu hỏi 3

14/131

Chúng ta biết rằng trong chương trình cải cách chỉ có một môn học Tự nhiên và Xã hội, còn trong chương trình 2000 là 3 môn học Tự nhiên và Xã hội; Khoa học; Lịch sử và Địa lí. Chương trình nào có mức độ tích hợp cao hơn? Tại sao?

Tuy về số môn học về tự nhiên và xã hội ở chương trình mới nhiều hơn so với chương trình cũ. Song cấu trúc nội dung của các môn học này lại thể hiện mức độ tích hợp cao hơn. Vì vậy chương trình mới có mức độ tích hợp cao hơn.

Câu hỏi 1 Trong hai chương trình, Chương trình cải cách và chương trình 2000 (phần các môn về tự nhiên và xã hội) chương trình nào có mức độ đồng tâm cao hơn? Vì sao? Phần nội dung các môn về tự nhiên và xã hội trong chương trình mới được xây dựng ở mức độ đồng tâm cao hơn chương trình cải cách.

Câu hỏi 2 Những bằng chứng nào thể hiện chương trình mới có mức độ đồng tâm cao hơn?

16/131

Đối tượng học tập của môn học là chính các sự vật, hiện tượng cụ thể, gần gũi học sinh. (với các môn học khác chúng chỉ là phương tiện) Các sự vật, hiện tượng này các em học sinh đã được tiếp xúc từ trước khi tới trường từ nhiều nguồn khác nhau: gia đình, các phương tiện thông tin đại chúng, cộng đồng, bạn bè …. Kiến thức thuộc môn học được xây dựng theo quan điểm đồng tâm, nên những cái đã biết, đã học luôn là cơ sở, điểm tựa cho viẹc học tập những kiến thức tiếp theo.

17/131

“Mục tiêu các môn học về tự nhiên và xã hội ” MỤC TIÊU CÁC MÔN HỌC VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Môn học

TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI

KHOA HỌC

LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ

– Con người và sức khỏe (cơ thể người, cách giữ vệ MỤC sinh cơ thể người TIÊU và phòng tránh VỀ bện tật, tai nạn)KIẾN Một số sự vật, THỨC hiên thương đơn giản trong tự nhiên và xã hội xung quanh

– Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người; cách phòng tránh một số bệnh tật thông thường và bệnh truyền nhiễm. – Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật, thực vật. – Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất .

– Các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử và địa lí, các mối quan hệ thuộc phạm vi: địa phương, đất nước Việt Nam và một số nước trên thế giới.

– Tự chăm sóc sức khỏe bản thân; ứng xử và đưa ra quyết định hợp lí trong đời sống để phòng tránh bệnh tật và tai nạn. MỤC Quan sát, nhận TIÊU xét, nêu thắc mắc, VỀ KĨ đặt câu hỏi, diễn NĂNG đạt những hiểu biết của mình (bằng lời nói hoặc hình vẽ…) về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội)

– Ứng xử phù hợp với với các vấn đề về sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng.- Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản và gần gũi với đời sống, sản xuất.Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm tòi thông tin để giải đáp, diễn giải những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…- Phân tích, so sánh để rút ra dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên.

– Quan sát các sự vật, hiện tượng; thu thập tìm kiếm tư liệu lịch sử, địa lí từ các nguồn khác nhau.- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp.- Phân tích so sánh, đánh giá các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử và địa lí.- Thông báo những kết qủa học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…- Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống.

– Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản

– Ham học hỏi, ham hiểu biết thế giới xung

– Có ý thức thực hiện các quy tắc

18/131

Bức Thư Thứ 10: Làm Sao Để Con Gái Cũng Học Giỏi Các Môn Tự Nhiên?

“Nhiều người vẫn nghĩ con trai thông minh hơn con gái nên học các môn tự nhiên cũng tốt hơn. Nhưng thực tế, giới tính không hề ảnh hưởng đến trí thông minh. Nhiều nghiên cứu bố từng đọc còn chỉ ra rằng con gái thậm chí đạt điểm cao hơn con trai trong hầu hết môn học, trong đó có cả những môn tự nhiên và khoa học.

Hôm trước bố con mình đến HOCMAI để kiểm tra kiến thức, con cũng thấy có rất nhiều bạn nữ đúng không? Bố thấy những chia sẻ kinh nghiệm thi vào trường chuẩn, trường chuyên đa số là của các bạn nữ. Rất nhiều bạn nữ học giỏi các môn tự nhiên đấy thôi? Bố nghĩ tất cả là do các bạn ấy có đam mê và chọn được thầy cô giỏi với phương pháp tốt để khơi dậy những đam mê đó.

Muốn học giỏi các môn tự nhiên cần phải có phương pháp học tập thật sự khoa học con ạ.

Con hãy tự đặt ra mục tiêu cho bản thân mình. Hãy suy nghĩ về những ích lợi mà các môn tự nhiên này mang lại, thay vì sợ nó, hãy có đam mê con ạ. Lợi ích các môn này thì rất nhiều, như: khả năng tư duy logic, óc phân tích, sự chính xác, những kiến thức thực tế có thể áp dụng… Con sẽ thấy các môn tự nhiên thực sự hữu ích và yêu thích nó hơn.

Ngoài ra, hầu hết các môn tự nhiên đều theo một trình tự nhất định. Vì vậy, con phải nắm chắc chắc kiến thức nền tảng. Nếu không nắm vững kiến thức ở các lớp dưới, con rất khó để học tốt các năm tiếp theo.

Cuối cùng hãy kiên trì! Không chỉ các môn tự nhiên mà môn xã hội hay bất cứ việc gì cũng rất cần sự kiên trì con ạ. Hôm nay con có thể không hiểu bài, điểm chưa cao, nhưng bố mong con đừng vội bỏ cuộc. Dành thời gian xem lại lý thuyết, ôn luyện nhiều lần, dần dần, chắc chắn con sẽ tiến bộ.

Hè này, bố đã đăng ký cho con học khóa Ôn luyện ở HOCMAI. Bố hy vọng, khóa học sẽ bù đắp được những lỗ hổng kiến thức cũ, giúp con khơi dậy niềm yêu thích với các môn tự nhiên và đạt kết quả tốt.

>> Chương trình Học Tốt 2024 – 2024: Khởi động từ hè – Bứt phá trong năm

Lợi Ích Của Việc Ăn Ngô Mỗi Ngày – Mẹ Tự Nhiên

Ngô (bắp) là thực phẩm có sẵn quanh năm với giá trị dinh dưỡng không thể bỏ qua trong chế độ ăn uống hàng ngày. Ngô có vị ngọt và là loại cây dễ trồng, khả năng thích nghi cũng như chống chọi sâu bệnh, thời tiết khắc nghiệt.

Khi chế biến cùng các thực phẩm khác, giá trị dinh dưỡng của ngô dễ bị mất đi hoặc biến đổi không tốt cho sức khỏe con người. Ngô luộc đơn giản nhưng là một loại thực phẩm ngũ cốc nguyên hạt và cũng có khi được coi như rau.

Lợi ích của việc ăn ngô mỗi ngày

Ăn ngô mỗi ngày không chỉ mang lại giá trị dinh dưỡng mà còn giúp ta có một sức khỏe vàng

Một bắp ngô luộc nặng khoảng 164 gram và chứa 177 calo, trong đó phần lõi ngô nặng khoảng 103 gram. Trong một hạt ngô, có 2g chất béo, 41g carbohydrate, 5g chất xơ và 5g protein. Nước chiếm 114g trong tổng cộng trọng lượng. Các chất béo trong ngô có xu hướng là chất béo không bão hòa đa và không bão hòa đơn, bao gồm 29.5 mg axit béo omega – 3 và 961 mg axit béo omega – 6. Ngô luộc không chứa muối hay natri.

Những bài thuốc dân gian chữa bệnh hiệu quả

Ăn lạc có tác dụng gì?

Lý do bạn nên ăn quả lựu mỗi ngày

Tăng cường sức khỏe hệ tiêu hóa

Một trong những lợi ích của ăn ngô là giúp cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh. Lý do là bắp ngô giàu chất xơ không hòa tan- chất khiến dễ tiểu tiện. Chất xơ này cũng hỗ trợ sự phát triển của vi khuẩn có lợi cho ruột già và đổi lại vi khuẩn giúp biến chất xơ thành chuỗi axit béo ngắn (SCFA). SCFA có thể cung cấp năng lượng cho các tế bào ruột, từ đó làm giảm nguy cơ mắc các vấn đề ở ruột, bao gồm cả ung thư ruột kết.

Tốt cho người tiểu đường

Trái bắp giúp hạ nồng độ đường trong máu ở người tiểu đường

Nhiều nghiên cứu cho thấy, thường xuyên ăn bắp ngô sẽ giảm được nguy cơ tiểu đường tuýp 2. Trong một cuộc thử nghiệm ở 40.000 người cho thấy, những phụ nữ thường xuyên ăn ngô giảm được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 hơn 30% so với những người không ăn hoặc ít khi ăn. Chỉ số đường huyết của ngô thấp giúp giảm lượng đường huyết trong máu. Chất xơ cũng giúp làm chậm quá trình chuyển hóa thức ăn thành đường, từ đó giúp hạ thấp nồng độ đường trong máu.

Chống ung thư hiệu quả

Cho bắp vào thực đơn mỗi ngày để ngăn ngừa tình trạng ung thư

Trong hạt ngô có chứa rất nhiều chất beta-cryptoxanthin, một loại carotenoid có tác dụng chống oxi hóa, giúp ngăn ung thư phổi hiệu quả. Một nghiên cứu, ở 35.000 người tham gia cho biết, những người ăn thực phẩm nguyên hạt như ngô giảm được đáng kể nguy cơ ung thư vú. Lý do là trong bắp ngô có chứa hàm lượng cao chất xơ cũng như chất chống oxi hóa, giúp bảo vệ tế bào khỏi bị ung thư.

Có lợi cho não

Vitamin B1 có nhiều trong ngô, loại vitamin này có khả năng giúp cơ thể tránh được tình trạng đầu óc mệt mỏi và giảm trí nhớ. Một bắp ngô có thể đáp ứng được khoảng 24% lượng vitamin mà cơ thể cần mỗi ngày.

Bảo vệ tim

Ngô là thực phẩm cũng có chứa nhiều cả chất xơ hòa tan và không hòa tan. Các chất xơ hòa tan liên kết với cholesterol trong mật, được bài tiết từ gan, sau đó lan truyền đi khắp nơi trong cơ thể để hấp thụ tiếp cholesterol có hại. Ngoài ra, lượng vitamin B trong bắp cũng giúp làm giảm homocysteine. Chúng ta biết rằng, nếu homocysteine tăng cao có thể phá hủy các mao mạch, từ đó mà dẫn đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Ăn một bắp ngô cũng có thể cung cấp được 19% lượng vitamin B mỗi ngày.

Tốt và bổ dưỡng cho phụ nữ mang thai

Bác sĩ thường khuyên phụ nữ mang thai tăng cường bổ sung chất folate nếu cơ thể bị thiếu. Folate là chất giúp ngăn chặn nguy cơ sảy thai và thai nhi bị khuyết tật. Trong khi đó, ngô lại rất giàu folate. Nếu bạn thường xuyên ăn ngô sẽ không cần phải bổ sung các viên folate, nó sẽ giúp cơ thể thai nhi tổng hợp tế bào mới và khỏe mạnh. Giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Trái bắp chứa nhiều folate giúp ngăn chặn nguy cơ sảy thai và thai nhi bị khuyết tật

Bắp ngô có nhiều chất xơ không hòa tan và hòa tan. Chất xơ hòa tan này khi liên kết với cholesterol trong mật đã được bài tiết ra từ gan sẽ lan truyền khắp cơ thể giúp hấp thụ cholesterol có hại. Ngoài ra, lượng vitamin B trong bắp cũng giúp làm giảm homocysteine.

Khi homocysteine trong cơ thể cao sẽ phá hủy các mao mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Một bắp ngô mỗi ngày sẽ cung cấp cho cơ thể 19% lượng vitamin B cần thiết mỗi ngày.

Tốt cho trí nhớ

Vitamin B1 có nhiều trong ngô giúp acetylcholine-một chất truyền tín hiệu thần kinh cho bộ nhớ. Thiếu vitamin B1 sẽ khiến bạn luôn trong tình trạng đầu óc mệt mỏi và giảm trí nhớ. Một bát ngô có thể đáp ứng được khoảng 24% lượng vitamin mà cơ thể cần mỗi ngày.

Tốt cho mắt

Màu sắc khác nhau của ngô cũng đem lại những lợi ích sức khỏe khác nhau, chủ yếu là bởi vì chúng chứa các sắc tố không giống nhau. So với ngô trắng, ngô vàng có chứa beta-carotene và zeaxanthin, tốt cho việc duy trì sức khỏe thị lực.

Ngừa thiếu máu

Thiếu máu là do thiếu vitamin B12, axít folic và chất sắt. Ăn bắp sẽ giúp bạn ngừa thiếu máu vì bắp chứa nhiều các chất trên, cần thiết cho quá trình hình thành hồng cầu.

Trái bắp chứa nhiều Vitamin B12, acid folic, và chất sắt

Có sự khác biệt giữa các hương vị khác nhau và giá trị dinh dưỡng của ngô. Protein, chất béo và hàm lượng vitamin của ngô ngọt cao gấp 1-2 lần, lượng selen cao gấp 8-10 lần ngô bình thường. Ngoài ra, nó có chứa 17 loại axit amin, trong đó 13 loại cao hơn nhiều so với ngô bình thường.

Ngô giúp bạn giảm cân

Trong ngô chứa nhiều chất xơ, ít chất béo nên dù ăn bao nhiêu bạn cũng không lo bị tích tụ mỡ trên cơ thể. Ngoài ngô luộc, bạn còn có hẳn một thực đơn giảm cân với bắp ngô lạ miệng và vô cùng hấp dẫn.

Thu Hiền

Bản quyền thuộc về Metunhien.vn