Dac Diem Van Thuyet Minh / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Nhung Dac Diem Cua Phat Giao Viet Nam

Đây là đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, cũng là đặc trưng nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam.

Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, và do vậy đã được tổng hợp chặt chẽ ngay với chúng. Hệ thống chùa “Tứ pháp” thực ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây-Mưa-Sấm-Chớp và thờ đá. Lối kiến trúc phổ biến của chùa Việt Nam là “tiền Phật, hậu Thần” với việc đưa các thần, thánh, các thành hoàng, thổ địa, các anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa. Có những chùa còn có cả bàn thờ cụ Hồ Chí Minh ở Hậu tổ. Hầu như không chùa nào là không để bia hậu, bát nhang ho các linh hồn, vong hồn đã khuất.

Phật giáo Việt Nam là tổng hợp các tông phái lại với nhau. Ở Việt Nam, không có tông phái Phật giáo nào thuần khiết. Tuy chủ trương của Thiền tông là bất lập ngôn, song ở Việt Nam chính các thiền sư đã để lại nhiều trước tác có giá trị. Dòng Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi thì pha trộn với Mẫu giáo, nhiều thiền sư phái này, nhất là những vị sống vào thời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đều nổi tiếng là giỏi pháp thuật, có tài biến hóa thần thông. Phật giáo Việt Nam cũng tổng hợp các con đường giải thoát bằng tự lực và tha lực, phối hợp Thiền tông với Tịnh Độ tông.

Các chùa phía Bắc là cả một Phật điện vô cùng phong phú với hàng mấy chục pho tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau. Ở phía Nam, Đại thừa và Tiểu thừa kết hợp mật thiết với nhau: nhiều chùa mang hình thức tiểu thừa (thờ Phật Thích Ca, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa, bên cạnh Phật Thích Ca lớn vẫn có nhiều tượng nhỏ, bên cạnh áo vàng vẫn có đồ nâu lam.

Phật giáo Việt Nam tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác: Phật với Nho, với Đạo, tạo thành quan niệm Tam giáo đồng nguyên (3 tôn giáo cùng phát nguyên từ một gốc) và Tam giáo đồng quy (3 tôn giáo cùng quy về một đích).

Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ với việc đạo và việc đời. Vốn là một tôn giáo xuất thế, nhưng vào Việt Nam, Phật giáo trở nên rất nhập thế: Các cao tăng được nhà nước mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng. Sự gắn bó đạo – đời không chỉ thể hiện ở việc các nhà sư tham gia chính sự, mà ngược lại còn có khá nhiều vua quan quý tộc đi tu. Trong 6 thế hệ đệ tử của phái Thảo Đường thì đã có tới 9 người là vua quan đương nhiệm. Không phải ngẫu nhiên mà ở sân chùa Phổ Minh, quê hương nhà Trần, lại có chiếc vạc đồng lớn (1 trong “An Nam tứ đại khí”) tượng trưng cho quyền lực.

Vẫn với truyền thống gắn bó với đời, đầu thế kỷ XX, Phật tử Việt Nam hăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội (như cuộc vận động đòi ân xá Phan Bội Châu và đám tang Phan Châu Trinh). Thời Diệm – Thiệu, Phật tử miền Nam đã tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lập dân tộc, nổi bật là sự kiện Phật tử xuống đường đấu tranh phản đối nền độc tài của gia đình họ Ngô, đỉnh cao là sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào mùa hè 1963.

Phật bà nghìn mắt nghìn tay

2. Khuynh hướng thiên về nữ tính

Các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là đàn ông, sang Việt Nam biến thành Phật Ông – Phật Bà. Bồ tát Quán Thể Âm đã được biến thành Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay – vị thần hộ mệnh của cư dân khắp vùng sông nước Đông Nam Á (nên còn gọi là Quan Âm Nam Hải). Ở một số vùng, ngay cả Phật tổ Thích Ca cũng được coi là phụ nữ (người Tày Nùng gọi là “Mẹ Pựt Xích Ca”). Người Việt Nam còn tạo ra những “Phật bà” riêng của mình: Đứa con gái nàng Man, tương truyền sinh vào ngày 8-4 được xem là Phật Tổ Việt Nam, bản thân bà Man trở thành Phật Mẫu. Rồi còn những vị Phật bà khác nữa như Quan Âm Thị Kính, Phật bà chùa Hương. Lại còn rất nhiều các bà bồ tát như Bà Trắng chùa Dâu, các thánh mẫu…

Việt Nam có khá nhiều chùa chiền mang tên các bà: chùa Bà Dâu, chùa Bà Đậu, chùa Bà Tướng, chùa Bà Dàn, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh… Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà: Trẻ vui nhà, già vui chùa là nói cảnh các bà.

Chùa hòa nhập với thiên nhiên, bao giờ cũng là nơi phong cảnh hữu tình; bởi vậy mới có cách nói ví “vui như trảy hội chùa”. Cảnh chùa hữu tình, hội chùa vui, cửa chùa rộng mở, cho nên cũng là nơi chở che cho trai gái tình tự: “Hội chùa Thầy có hang Cắc Cớ, Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy”.

Ngay từ đầu, người Việt Nam đã tạo ra một lịch sử Phật giáo cho riêng mình: nàng Man, cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật tổ với ngày sinh là ngày Phật đản 8-4.

Vốn có đầu óc thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa: Thứ nhất là tu tại gia, Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa; Dù xây chín bậc phù đồ, Không bằng làm phúc cứu cho một người; coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờ Phật: Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới là chân tu; đồng nhất cha mẹ, ông bà với Phật: Phật trong nhà không thờ đi thờ Thích ca ngoài đường (Tục ngữ).

Vào Việt Nam, Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng truyền thống có khả năng cứu giúp mọi người thoát khỏi mọi tai họa: Nghiêng vai ngửa vái Phật, Trời, Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân; làm nên mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi (hệ thống chùa Tứ pháp); ban cho người hiếm muộn có con (tục đi chùa cầu tự: Tay bưng quả nếp vô chùa, Thắp nhang lạy Phật xin bùa em đeo); ban lộc cho người bình dân để quanh năm làm ăn phát đạt (tục đi chùa lễ phật và hái lộc lúc giao thừa); cứu độ cho người chết và giúp họ siêu thoát (tục mời nhà sư tới cầu kinh và làm lễ tiễn đưa người chết).

Đức Phật Di-lặc

Muốn giữ cho Phật ở mãi bên mình, người Việt Nam có khi phá cả giới Phật giáo. Có nơi, do muốn buộc ông sư phải gắn bó với làng mình để giữ chùa, cúng lễ; dân làng đã tổ chức cưới vợ cho sư, khiến ngôi chùa gần như trở thành một gia đình.

Tượng Phật Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn ăn mà mặc (Tuyết Sơn gầy ốm), ông Nhịn mặc mà ăn (Di-lặc to béo), ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc quăn)… Nhiều pho tượng được tạc theo lối ngồi không phải trên tòa sen mà là chân co chân duỗi rất thoải mái, giản dị. Trên đầu Phật Bà chùa Hương còn lấp ló lọn tóc đuôi gà truyền thống của phụ nữ Việt Nam.

Ngôi chùa Việt Nam được thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong có 3 gian 2 chái… Chùa Một Cột như một lễ vật dâng lên Phật Bà với hình bông sen thanh thoát ở trên và trụ đá tròn trong hồ vuông ở dưới biểu hiện ước vọng phồn thực (no đủ và đông đúc).

Cùng với mái đình, ngôi chùa trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai ở mỗi làng. Người dân đi bất kỳ đâu có thế ghé chùa xin nghỉ tạm hoặc xin ăn.

Theo Sách Cơ sở Văn hóa Việt Nam (PGS. Trần Ngọc Thêm, 1999)

Bài: Sự Phát Triển Của Cây Lúa Dac Diem Sinh Hoc Cua Cay Lua Ppt

GV: Nguyễn Xuân NghiêmKỸ THUẬT TRỒNG LÚAĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÂY LÚAĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÂY LÚA 1. Nguồn gốc cây lúa trồng và hệ thống phân loại cây lúa

1. Nguồn gốc cây lúa trồng và hệ thống phân loại cây lúa

1.1 Nguồn gốc cây lúa trồng + Cây lúa trồng Oryza sativa L. là một loài cây thân thảo, sinh sống hàng năm. Thời gian sinh trưởng của các giống dài, ngắn khác từ 60 – 250 ngày.+ Về phương diện TV học, lúa trồng hiện nay là do lúa dại Oryza fatua hình thành thông qua quá trình chọn lọc nhân tạo lâu dài.1.2 Các trung tâm phát triển cây lúa+ ĐN Á là nơi cây lúa đã được trồng sớm nhất, ở thời đại đồ đồng nghề trồng lúa đã rất phồn thịnh.+ Cây lúa trồng ngay có thể được thuần hóa từ nhiều nơi khác nhau thuộc châu Á như: Myanma, VN, TQ, Ấn Độ, Thái Lan.+ Tại nơi phát sinh cây lúa hiện còn vì loài lúa dài và ở những địa điểm trên để tìm được đầy đủ bộ gen của cây lúa. 1.2 Các trung tâm phát triển cây lúa+ Từ các nơi phát sinh, cây lúa sau đó lan đi khắp TG cùng với sự giao lưu của con người.+ Tới các nơi mới với điều kiện sinh thái mới và sự can thiệp của con người thông qua quá trình chọn tạo giống mà cây lúa ngày nay có hàng vạn giống đặc trưng, đặc tính đa dạng đủ đáp ứng yêu cầu của con người.1.3 Phân loại cây lúaa. Phân loại cây lúa theo hệ thống phân loại thực vậtb. Phân loại cây lúa theo hệ thống của các nhà chọn giống* Phân loại theo loại hình sinh thái địa lí * Phân loại theo nguồn gốc hình thành* Phân loại theo tính trạng đặc trưng (IRRI – INGER – 1995)a. Phân loại cây lúa theo hệ thống phân loại thực vậtTheo phân loại học TV, cây lúa được xếp theo trình tự sau: Ngành: Angiospermac – Thực vật có hoa Lớp: Monocotyledones – lớp 1 lá mầm Bộ: Poales (Graminales) – Hòa thảo có hoa Họ: Poales (Graminales) – Hòa thảo Họ phụ: Poidae – Hòa thảo ưa nước Chi: Oryza – lúa Loài: Oryza sativa – lúa trồnga. Phân loại cây lúa theo hệ thống phân loại thực vậtLoài phụ: (Subspecies)Subsp: japonica: Loài phụ Nhật BảnSubsp: indica: Loài phụ Ấn ĐộSubsp: javanica: Loài phụ JavaBiến chủng (varietas) Var – Mutica – Biến chủng hạt mỏ cong.b. Phân loại cây lúa theo hệ thống của các nhà chọn * Phân loại theo loại hình sinh thái địa lí: Theo Liakhovkin A.G (1992), lúa trồng có 8 nhóm sinh thái địa lí sau:– Nhóm Đông Á: Triều Tiên, Nhật Bản, TQ. Đặc trưng của nhóm này là chịu lạnh tốt, hạt khó rụng.– Nhóm Nam Á: từ Pakistan sang vùng bờ biển phía nam TQ và Bắc VN. Đặc điểm nổi bật của nhóm sinh thái này là chịa lạnh kém, hạt dài và nhỏ.* Phân loại theo loại hình sinh thái địa lí: – Nhóm Philippin: nhóm lúa điển hình nhiệt đới không chịu lạnh  toàn bộ vùng Đông Nam Á.– Nhóm Trung Á: các nước Trung Á. Lúa hạt to, chịu lạnh và chịu nóng. (1000 hạt/32gr)– Nhóm Iran: gồm các nước TRung Đông xung quanh Iran. Hạt chịu lạnh, hạt to, đục và gạo dẻo.* Phân loại theo loại hình sinh thái địa lí: – Nhóm châu Âu: Nga, Italia, TBN,… loại hình Japonica chịu lạnh, hạt to, gạo dẻo nhưng kém chịu nóng.– Nhóm châu Phi: lúa trồng thuộc loài Oryza glaberrima.– Nhóm châu Mĩ La tinh: gồm các nước Trung Mĩ và Nam Mĩ. Nhóm cây lúa cao, thân to, khỏe, hạt to, gạo trong và dài, chịu ngập và chống đỗ tốt.* Phân loại theo nguồn gốc hình thành+ Nhóm quần thể địa phương: được hình thành trong một khoảng thời gian dài ở từng địa phương khác nhau.+Nhóm quần thể lai: được tạo ra bằng phương pháp lai trong các chương trình chọn giống khác nhau.* Phân loại theo nguồn gốc hình thành+ Nhóm quần thể đột biến: được tạo ra bằng pp đột biến.+ Nhóm quần thể tạo ra bằng CNSH: gồm các quần thể chuyển gen, nuôi cấy bao phấn hoặc chọn dàng tb.+ Nhóm các dàng bất dục đưc: là nhóm chứa kiểu gen gây bất dục đực.* Phân loại theo tính trạng đặc trưng (IRRI – INGER – 1995)Tập đoàn năng suất cao.Tập đoàn chất lượng caoTập đoàn giống chống bệnhTập đoàn giống chống và chịu sâuTập đoàn chống chịu rét* Phân loại theo tính trạng đặc trưng (IRRI – INGER – 1995)Tập đoàn chống chịu hạnTập đoàn chịu chua, mặn, phènTập đoàn giống chịu ngập úngTập đoàn giống và thời gian sinh trưởng đặc thù.2. Đặc điểm hình thái – sinh học của cây lúa2.1 Cấu tạo hạt lúa và sự nảy mầm

– Râu: hạt thóc có thể có râu hoặc không có râu. Ở hạt có râu thì mỏ hạt kéo dài ra thành râu, màu sắc của vỏ hạt và màu sắc của râu thường cùng một màu. Mỏ hạt là một bộ phận của vỏ trấu toa. Cấu tạo hạt lúa

– Mày trấu: Mỗi hạt trấu có hai mày trấu dính liền với cuống hạt. Mày trấu dài hay ngắn tùy theo giống.a. Cấu tạo hạt lúa– Hạt gạo: gồm 2 phần: nội nhũ và phôi. Nội nhũ được bao bọc bởi lớp vỏ cám, màu sắc lớp vỏ cám tùy theo giống. Nội nhũ là phần dự trữ dinh dưỡng để nuôi phôi và khi nảy mầm thì cung cấp dinh dưỡng cho phôi phát triển thành cây lúa non. Phôi ở phía cuối của hạt thóc, khi nảy mầm thì phôi phát triển thành mầm và rễ để lại bắt đầu một chu kì mới của cây lúa.b. Sự nảy mầm của hạtHạt hút nước trương lên gặp nhiệt độ thích hợp và đầy đủ không khí thì nảy mầm. Đầu tiên là một khối trắng xuất hiện , tiếp đến là rễ phôi xuất hiện và dài ra nhanh chóng, rồi bao mầm có dạng mũi chông đâm ra.c. Điều kiện cần thiết để hạt lúa nảy mầm– Nước– Nhiệt độ– Không khí2.2 Cây lúa non (cây mạ)* Sự phát triển của cây mạ Hạt nảy mầm sẽ phát triển thành cây mạ (lúa non). Đầu tiên từ phôi mầm đâm ra lá nguyên thủy chưa có phiến lá, lá thật đầu tiên với phiến lá hoàn chỉnh đồng thời một số rễ mới cũng hình thành.

Với sự xuất hiện của lá thật đầu tiên và các rễ mới, mộng mạ đã phát triển thành cây mạ. Cây mạ hoàn chỉnh gồm 3 bộ phận: lá, thân, rễ.* Điều kiện cần thiết để có cây mạ tốtĐủ nước: nước giúp cây mạ sinh trưởng khỏe và đều; thiếu nước cây mạ sinh trưởng kém, yếu, lớp nước sâu làm cây mạ lướt.

– Thời kì sinh trưởng sinh thực: từ gđ 4-6

+ Gđ 4: phân hóa đòng đến đòng già+ Gđ 5: trổ bông+ Gđ 6: Nở hoa, thụ phấn, thụ tinh– Thời kì chín: gđ 7-9+ Gđ 7: chín sữa+ Gđ 8: chín sáp+ Gđ 9: chín hòan tòan3.3 Các bước phân hóa đòng và hoa lúa+ Bước 1: đỉnh sinh trưởng bắt đầu phân hóa + Bước 2: phân hóa gíe cấp I + Bước 3: phân hóa gíe cấp II và phân hóa hoa, bông lúa non dài khoảng 1mm + Bước 4: phân hóa nhị đực và nhụy, bông lúa non dài khoảng 1,5 – 1 cm. 3.3 Các bước phân hóa đòng và hoa lúa+ Bước 5: hình thành tế bào mẹ hạt phấn, hoa lúa đã có hình dạng đặc trưng, bông lúa non dài 1, 5 – 5 cm + Bước 6: phân bào giảm nhiễm, hoa lúa định hình, bông lúa non dài 5 – 10 cm + Bước 7: tích lũy các chất trong hạt phấn, hoa lúa và bông lúa đạt độ dài tối đa + Bước 8: hạt phấn thành thục, bông lúa sẵn sàng trổ

Ly Thuyet_Chuong 2 Cấu Tạo Nguyên Tử

– Khối lượng nguyên tử tập trung ở nhân.

(Tổng khối lượng proton và nơtron có giá trị gần bằng khối lượng nguyên tử)

Là những nguyên tử của cùng một nguyên tố có :

Vậy có thể định nghĩa : ” Nguyên tố là tập hợp các nguyên tử có cùng điện tích hạt nhân “

Năm 1913, nhà vật lý Đan Mạch là Niels Bohr đã giải thích được mô hình cấu tạo của các nguyên tử có lớp vỏ electron tương tự Hyđro (tức là có 1 electron ở lớp vỏ như H, He+, Li 2+ …) . Còn các nguyên tử khác thì thuyết Bohr tỏ ra chưa đúng đắn, và cuối cùng mô hình nguyên tử ( đặc biệt là lớp vỏ electron) đã được giải thích khá đầy đủ dựa trên quan điểm thuyết cơ học lượng tử.

Chuyển động của các hạt vi mô có thể xem là chuyển động sóng, bước sóng của hệ thức đó tuân theo hệ thức Đơbrơi:

h: Hằng số Plank ( h = 6,626.10-27 erg.s

Hệ thức: Một hạt vi mô khối lượng m, tốc độ v đang ở tọa độ x, trên trục Ox

+ R(r) : Phần bán kính

– Các kết quả cho thấy sự phân bố xác xuất tìm thấy electron và các mặt giới hạn thu được cũng chính là hình dạng của các orbitan nguyên tử:

+ Hàm sóng của orbitan nguyên tử s không phụ thuộc vào góc (không có hướng) nên các orbitan s có dạng hình cầu, tâm là hạt nhân của nguyên tử, nghĩa là gốc của tọa độ.

+ Các orbitan p đều có dạng hai quả cầu tiếp giáp với nhau ở gốc tọa độ của chúng lần lượt nằm trên các trục x, y, z. Orbitan px nằm dọc theo trục x, orbitan py nằm dọc theo trục y và orbitan pz nằm dọc theo trục z.

+ Trong 5 orbitan d ba orbitan dxy, dxz và dyz giống với nhau hơn còn hai rrbitan dz 2 và dx 2-y 2 thì hơi khác. Ba orbitan dxy, dxz và dyz đều gồm 4 quả cầu tiếp giáp với nhau ở gốc tọa độ trong đó cứ hai quả cầu một có tâmnằm trênđường phân giác của các góc tạo nên bởi hai trục tọa độ.

VD: Tâm của bốn quả cầu của orbitan dxy nằm trên hai đường phân giác của các góc tạo nên bởi trục x và trục y. Orbitan dx 2-y 2cũng gồm có bốn quả cầu tiếp giáp với nhau ở gốc tọa độ, nhưng tâm của chúng nằm ngay trên trục x và trục y. Còn orbitan z 2 gồm có hai quả cầu tiếp giáp với nhau ở gốc tọa độ, tâm nằm trên trục z và một vành tròn nằm trong mặt phẳng xy.

* Số lượng tử từ ml

+ Có thể nhận các giá trị từ

⇒ Ứng với một trị số của l, ta có (2l +1) trị số của m l

+ Số lượng tử từ đặc trưng cho sự định hướng các orbitan nguyên tử trong từ trường, do đó quyết định số orbitan có trong một phân lớp và số hướng vân đạo

m l

0có 1 đơn vị orbitan

0 (s)

1 (p)

+ Ứng với một trị số của l có

Vậy trạng thái electron trong nguyên tử được hoàn toàn xác định bằng 4 số lượng tử n,l,ml,ms 2.3.5. Nguyên tử nhiều electron – Cấu hình electron nguyên tử

Sự phân bố electron của các nguyên tử nhiều electron tuân theo 3 nguyên lý sau:

: Hai electron của Heli có 3 số lượng tử n,m,l giống nhau thì phải có số spin khác nhau:

+ Electron duy nhất chứa trong một orbitan nào đó: được gọi là electron độc thân

– Mỗi phân lớp (ứng với một giá trị của) có tối đa trị số m tức là orbitan nguyên tử. Vì thế số electron tối đa có trong mỗi phân lớp làelectron.

: Năng lượng của AO 2s<2p, năng lượng của AO 3s<3p<3d

Các mức ns, (n-1)d và (n-2)f gần nhau và bao giờ cũng có năng lượng thấp hơn np

” Trong một phân lớp các electron được sắp xếp sao cho tổng số spin là cực đại” (số electron

độc thân là tối đa)

+Khi viết cấu hình electron thì việc phân bố các electron theo thứ tự năng lượng hay sắp xếp theo thứ tự n tăng dần là

2.4.2.1. Chu kỳ

– Là một dãy các nguyên tố hóa học mà nguyên tử của chúng có cùng số lượng tử chính n ( số lớp electron). Chỉ khác nhau ở số electron ở lớp bên ngoài, vì vậy số thứ tự của chu kỳ bằng với trị số lượng tử chính n.

– Mỗi chu kỳ được mở đầu bằng một kim loại điển hình, cuối là một phi kim và kết thúc là một khí hiếm.

Do tính chất độc đáo của chu kỳ 1 nên ở nguyên tố H bao gồm tính chất của nguyên tố mở đầu chu kỳ là một kim loại và cả tính chất nguyên tố cuối chu kỳ là một phi kim

Có cấu hình tim là: [He]

Có cấu hình tim là: [Ne]

Hoàn toàn giống chu kỳ 2

Các nguyên tố thuộc phân lớp d và f đều là

Có cấu hình tim là [Ar], gồm 18 nguyên tố và có nghịch đảo 4s và 3d nên thứ tự điền electron trước hết là 4s tiếp theo là 3d (đối với dãy nguyên tố chuyển tiếp thứ nhất (10 nguyên tố d))

Trong chu kỳ này có hai ngoại lệ khi điền electron vào phân lớp 3d , 4s là: Cr(4s 13d 5) và Cu(4s 13d 10) chứ không phải Cr(4s 23d 4) và Cu(4s 23d 9)

Giống chu kỳ 4

Có 6 ngoại lệ vì mức năng lượng của AO 5s và 4d rất gần nhau làm cho electron dễ nhảy

– Tương tự chu kỳ 5 nhưng có thêm 14 nguyên tố họ f bắt đầu từ nguyên tố Ce, các nguyên tố này có tính chất rất giống Lantan nên được xếp ở chung vào một ô với nguyên tố Lantan. Gọi là các Lantanoit (hay các nguyên tố họ Lantan) xếp phía dưới bảng.

Chưa hoàn chỉnh,giống chu kỳ 6.

– Điện tích hạt nhân nguyên tử của bất kỳ nguyên tố nào về trị số bằng số thứ tự của nguyên tố trong hệ thống tuần hoàn.

– Các nguyên tố trong hệ thống tuần hoàn được xếp theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân nguyên tử (đồng thời là số thứ tự của nguyên tố). Nó xác định số electron trong lớp vỏ nguyên tử và chính lớp vỏ này lại quyết định tính chất hóa học của các nguyên tố.

– Từ trái sang phải bán kính giảm dần vì

– Sự giảm này thể hiện đặc biệt rõ ràng ở các chu kỳ nhỏ.

– Phân nhóm chính: Từ trên xuống dưới, bán kính nguyên tử tăng lên do

* Đối với những nguyên tử nhiều electron

Từ trái sang phải năng lượng ion hóa tăng dần. Vì

Từ trên xuống dưới năng lượng ion hóa giảm vì

Diễn ra theo một quy luật không chặt chẽ

– Các nguyên tố Halogen: ns 2np 5 có ái lực electron lớn nhất (vì)

– Các nguyên tố có cấu hình: s 2p 6 hay p 3 có E nhỏ thậm chí âm vì

phân tử H : Cl thì Clo có độ âm điện lớn hơn nên cặp electron chung lệch về phía Clo.

⇒ Một phi kim mạnh có độ âm điệnlớn (Halogen là lớn nhất)

* Chu kỳ

Độ âm điện tăng khi đi từ trái sang phải vì

Trong một phân nhóm chính, đi từ trên xuống dưới, độ âm điện giảm dần vì

* Số oxi hóa của nguyên tố bằng số electron mà nguyên tử nhường đi hay thu vào để tạo ion có cấu hình bền (ns 2np 6 hay ns 2np 6nd 10)

+ Nếu nguyên tử nhường electron ta có số oxi hóa dương

+ Nếu nguyên tử nhận electron ta có số oxi hóa âm.

⇒ Nguyên tử của nguyên tố nào càng dễ nhường electron, tính kim loại của nguyên tố đó càng mạnh. VD: Li (1s 22s 1) có tính kim loại mạnh hơn F (1s 22s 22p 5)

⇒ Nguyên tử của nguyên tố nào càng dễ nhận electron, tính phi kim loại của nguyên tố đó càng mạnh. VD: Trong ví dụ trên thì F sẽ có tính phi kim mạnh hơn.

Khi số thứ tự nguyên tố tăng lên thì tính kim loại của nguyên tố giảm dần, tính phi kim tăng dần . Vì trong một chu kỳ, theo chiều tăng của điện tích hạt nhân (từ trái sang phải) thì năng lượng ion hóa, độ âm điện tăng dần đồng thời bán kính nguyên tử giảm dần làm cho khả năng nhường electron giảm nên tính kim loại giảm, khả năng nhận electron tăng nên tính phi kim tăng.

Trong một phân nhóm chính từ trên xuống tính kim loại tăng dần, tính phi kim giảm dần.

Vì theo chiều tăng của điện tích hạt nhân ( từ trên xuống dưới) thì năng lượng ion hóa, độ âm điện giảm dần đồng thời bán kính nguyên tử tăng nhanh làm cho khả năng nhường electron tăng, nên tính kim loại tăng, khả năng nhận electron giảm, nên tính phi kim giảm.

Van Một Chiều/Van Công Nghiệp/Van Nước Một Chiều

04/07/2017

có cấu tạo như thế nào để đảm có thể bảo vệ được hệ thống đi theo một chu trình chuẩn? sẽ phân tích cụ thể về cấu tạo từ ngoài vào trong của van một chiều, mời các bạn theo dõi để có được nhiều thông tin thú vị- có thể bạn chưa từng biết.

là sản phẩm hiếm khi được chú ý, nhưng chúng đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Mỗi lần bạn bật vòi nước hoặc một dải ga, hoặc sử dụng máy nước nóng, bạn vận hành một van. Van giúp bảo vệ chất lượng cuộc sống của chúng tôi bằng cách kiểm soát dòng chảy của tất cả các loại.

Có nhiều van và cấu hình van khác nhau cho nhiều mục đích và điều kiện khác nhau: sử dụng khác nhau (bật / tắt, điều khiển), chất lỏng khác nhau (lỏng hoặc khí, dễ cháy, độc hoặc ăn mòn), các vật liệu khác nhau (kim loại hoặc phi kim loại), áp suất khác nhau, điều kiện nhiệt độ khác nhau.

Tất cả những điều kiện đó sẽ được đáp ứng bằng việc cá kĩ thuật gia sẽ tính toán về mặt cấu tạo van một chiều phù hợp nhất với yêu cầu của người dùng.

Do đó quan trọng nhất là nên thân van

Thông thường thân van một chiều được làm bằng các chất liệu có tính chống ăn mòn cao, bền bỉ trong mọi môi trường khí, lỏng mà van một chiều hoạt động được. Một vài hợp chất thường gặp như inox, đồng ,thau, lót gang, thép đúc…

Nhờ ưu điểm tự nhiên sẵn có của các vật liệu trên mà tùy từng môi trường hoạt động, van một chiều sẽ được cấu tạo bởi các hợp chất phù hợp theo yêu cầu.

Đồng là hợp kim đồng, thiếc, kẽm và chì. Do tính chống ăn mòn tốt, chống ăn mòn và gia công, đồng là lý tưởng cho các loại đúc phức tạp. Nó cũng thích hợp cho các van được sử dụng trong dịch vụ áp suất thấp / trung bình

Thau là hợp kim của đồng và kẽm. Nó có khả năng gia công và gia công tuyệt vời và tiết kiệm hơn đồng.

Nylon 11 và nhựa epoxy được phủ bột trên bề mặt bên trong và bên ngoài của van sắt, tạo lớp lót hữu ích để ngăn ngừa nước đỏ, rỉ. Nó cũng thích hợp cho việc sử dụng trong đường dây cung cấp nước uống.

Điều này chủ yếu được sử dụng cho các ứng dụng tương đối thấp áp suất và nhiệt độ thấp.

Do nhiều nhiệt độ làm việc và áp suất, thép đúc thường được sử dụng cho các đường ống trong các mỏ dầu, các nhà máy lọc dầu và các nhà máy hóa dầu.

Điều này thường được sử dụng trong các hệ thống đường ống hơi, nước, gas và dầu nhờ phạm vi nhiệt độ làm việc và áp suất. Nó cung cấp hiệu suất cao cho chi phí của nó.

Do tính chống ăn mòn tuyệt vời và độ bền, vật liệu này thường được sử dụng trong nhiều ứng dụng, từ ngành công nghiệp hoá dầu đến các hệ thống nhà máy nói chung.

Kim loại này có khả năng chống ăn mòn và ăn mòn cao nhất.

Tùy môi trường sử dụng mà chúng ta sẽ lựa chọn vật liệu phù hợp, có sức bền đối để mang lại hiệu quả cao nhất cho người sử dụng.

2. Phần kết nối van một chiều với đường ống

Phần kết nối van một chiều với đường ống

Phần kết nối đường ống: có thể nối Ren hoặc mặt bích

Đầu hàn của van được hình thành theo hình dạng của một ổ cắm, trong đó ống được đưa vào và sau đó hàn vào van.

Kết nối này được sử dụng chủ yếu cho các van nhỏ, không quá 2 inch.

Vanmột chiều và đầu ống được nối với nhau và sau đó được hàn để tạo thành kết nối. Hai mép cạnh được sáp để kết nối. Phương pháp kết nối này có thể được sử dụng cho các van có kích thước bất kỳ.

Lá lật của van một chiều là bộ phận không thể thiếu trong cấu tạo van. Nhờ bộ phận này dongd hoặc mở mà dòng chảy chỉ được phép lưu thông theo một hướng nhất định, đảm bảo tốc độ dòng chảy chuẩn xác của cả hệ thống.

là phần kết nối giữa thân và đĩa lật, giúp đĩa van lật qua bên phải, k lật sang trái

Cấu tạo trục của van một chiều

Là phần trên cùng của van một chiều,. Khi cần thiết ta có thể mở nó để kiểm tra các bộ phận bên trong xem có vấn đề gì không.

Cấu tạo van một chiều Eriko

Hầu như tất cả các vật liệu xây dựng được sử dụng trong van một chiều đều được sản xuất dựa trên công nghệ tiên tiến nhất và dựa trên chính sách sản xuất tổng hợp từ nguyên liệu đến thành phẩm. Công ty TNHH cơ điện lạnh Eriko chuyên phân phối van công nghiệp nói chung và van một chiều nói riêng, giá cả cạnh tranh, phục vụ nhiệt tình.

Mọi thắc mắc xin gọi hotline: 0988628586 để được tư vấn biết thêm chi tiết và báo giá hợp lý nhất cho quý khách.

*******************************************************************************************************

CÔNG TY TNHH CƠ ĐIỆN LẠNH ERIKO

Địa chỉ: Lô 33 BT5 Khu đô thị mới Cầu Bươu, Xã Tân Triều, Huyện Thanh Trì, TP Hà Nội

Tel: 04 66 868 371 / Hotline: 0988 62 8586

VP -Kho Hàng TP HCM: B22/2 Đường Bạch Đằng, Phường 2, Quận Tân Bình, TP HCM

Nhà máy chế tạo thiết bị: Km17- Quán Gánh , Thường Tín, Hà Nội

Email: contact@eriko.com.vn Website: chúng tôi