Đặc Điểm Nhận Dạng Là Gì / 2023 / Top 16 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Thụ Là Gì? Đặc Điểm Nhận Dạng Một Chàng Thụ / 2023

“Thụ” 受 /shòu/ là người đóng vai trò là “nữ” trong mỗi quan hệ giữa hai người con trai với nhau, một từ dùng để phân biệt thân phận của hai người con trai trong mối quan hệ BL (Boy’s love), là khái niệm được sử dụng phổ biến trong các phim đam mỹ và trong giới LBGT. Nếu như “Công” là người chủ động thì “Thụ” là người thụ động, trong tiếng Trung, “Thụ” có nghĩa là nhận lấy. Vậy một bạn Thụ sẽ có những đặc điểm gì? Hãy cùng tìm hiểu xem nhé!

Soái ca là gì?Cách gọi người yêu trong tiếng Trung

Trong các bộ phim đam mỹ hay ngoài đời thực, đặc điểm để nhận dạng một bạn thụ là gì?

– Dáng người nhỏ nhắn, mảnh khảnh, khuôn mặt thư sinh: Các bạn thụ thường có dáng người mảnh khảnh, nhỏ nhắn (kiểu nhìn là khiến người ta nảy sinh ý muốn bảo vệ, che chở), khuôn mặt thư sinh và có phần nữ tính. – Giọng nói nhỏ nhẹ, bẽn lẽn, dễ xấu hổ, ngượng ngùng – Có phần yếu đuối, “yểu điệu thục nữ” Chàng thụ sẽ không bao giờ làm những việc yêu cầu phải khỏe mạnh như bưng bê vật nặng mà thường nhỏ nhẹ, từ tốn. Giống như một bạn nữ khác, chàng thụ cũng có xu hướng ỷ lại với những bạn nam khác hay người yêu. – Hoạt bát, đáng yêu, lắm lời và có phần hơi tăng động, ngốc nghếch: bản thân mình thấy kiểu thụ này khá dễ thương và dễ được cưng chiều. Các bạn thụ hoạt bát đáng yêu kết hợp với các bạn công lạnh lùng, phúc hắc sẽ là một cặp đôi hoàn hảo. – Thích ăn vặt, tụ tập tán chuyện với bạn bè và shopping.

(Nguồn ảnh: https://news.zing.vn/loat-anh-doi-thuong-cua-cap-doi-dong-tinh-hot-nhat-thai-lan-post427345.html)

Các hình mẫu Thụ: – 受的类型/shòu de lèi xíng/

– Chăm chút vẻ bề ngoài: Một số bạn thụ còn sở hữu số đồ skincare và make-up khiến các bạn nữ cũng phải kinh ngạc. – Thích chơi với các bạn nữ: có thể là do có sự đồng điệu về tính cách, sở thích nên các bạn thụ dễ thân với các bạn gái hơn. – Hoạt động thiên về các lĩnh vực làm đẹp, thời trang và nghệ thuật: Không ít các chàng thụ lựa chọn các công việc trong các lĩnh vực này như tạo mẫu tóc, chuyên viên trang điểm, stylist hoặc làm ông chủ của một cửa hàng, công ty thời trang, mĩ phẩm.

(Nguồn ảnh: https://www.yan.vn/quintus-va-kenny-cap-doi-dong-tinh-noi-tieng-chau-a-168541.html)

+ 弱受 /ruò shòu/: nhược thụ, chỉ những bạn thụ yếu đuối (về mặt tinh thần hoặc thể xác), hay bị bắt nạt, nhu nhược + 萌受 /méng shòu/: manh thụ ( manh: đáng yêu) + 强受: /qiáng shòu/ : cường thụ, chỉ những bạn thụ có ngoại hình hoặc tính cách mạnh mẽ + 霸王受 /bà wáng shòu/: bá vương thụ + 小美受 /xiǎo měi shòu/: tiểu mỹ thụ + 温柔受 /wēn róu shòu/: ôn nhu thụ, chỉ những bạn thụ có tính cách nhẹ nhàng, dịu dàng, ấm áp quan tâm, chăm sóc người khác + 傲娇受 /ào jiāo shòu/: ngạo kiều thụ, chỉ những bạn thụ “ngoài lạnh trong nóng”, ngoài mặt tỏ ra lạnh lùng + 诱受 /yòu shòu/: dụ thụ, chỉ những bạn thụ có nhan sắc, hay đi câu dẫn người khác + 腹黑受 /fù hēi shòu/: phúc hắc thụ, chỉ những bạn thụ thông minh, nham hiểm + 圣母受 /shèng mǔ shòu/: thánh mẫu thụ, chỉ những bạn thụ hiền lành, tốt đến mức khiến người khác bực mình, bất kể ai làm gì hại mình cũng đều tha thứ. + 白莲花受 /bái lián huā shòu/: bạch liên hoa thụ, chỉ những bạn thụ “ngụy thánh mẫu”, bề ngoài thuần khiết, ngây thơ, vô hại, nhưng bên trong lại âm hiểm xảo trá, thường dùng cho các vai tiểu tam trong tiểu thuyết. + 女王受 /nǚ wáng shòu/: nữ vương thụ, chỉ những bạn thụ quen được nuông chiều, hay sai bảo người khác, tình tình kiêu ngạo. + 笨拙受 /bèn zhuō shòu/: ngốc thụ, chỉ những bạn thụ ngốc nghếch vụng về + 总受 /zǒng shòu/: tổng thụ, dù ghép với ai thì cũng là thụ, bản chất là thụ + 大叔受 /dà shū shòu/: đại thúc thụ, chỉ kiểu thụ lớn hơn công nhiều tuổi + 狐狸受 /hú lí shòu/: hồ ly thụ + 阳光受 /yáng guāng shòu/: dương quang thụ, tính tình phóng khoáng, dễ kết bạn, luôn lạc quan yêu đời + 健气受/ jiàn qì shòu/: kiện khí thụ, nhân vật có tính cách phóng khoáng, hoạt bát + 流氓受 /liú máng shòu/: lưu manh thụ, có tính lưu manh, côn đồ + 小白受 /xiǎo bái shòu/: tiểu bạch thụ, trong sáng thụ, ngốc nghếch, khờ khạo về tình yêu, vô tri + 和善受 /hé shàn shòu/: tốt bụng thụ, tính cách ôn hòa, hiền lành, tốt bụng + 面瘫受 /miàn tān shòu/: mặt than thụ, kiểu người ít biểu cảm trên khuôn mặt, hoặc biểu cảm khá cứng nhắc.

Kim Cương Tổng Hợp Và Đặc Điểm Nhận Dạng / 2023

Trên thị trường đá quý hiện nay kim cương tổng hợp chất lượng ngọc (gem-quality) đã xuất hiện rộng rãi hơn so với trước đây, điều này vừa đem đến sự thú vị vừa tạo sự quan tâm đặc biệt cho những người kinh doanh và câu hỏi được đặt ra là: đặc tính của kim cương tổng hợp như thế nào? và nó có thể được nhận dạng bởi các nhà ngọc học hoặc các phòng thí nghiệm ngọc học hay không?

GIA đã nghiên cứu về kim cương tổng hợp trong hơn 30 năm qua, do đó hiểu rõ các phương pháp tổng hợp và cách nhận dạng chúng. Kim cương tổng hợp có thành phần hóa học và tính chất vật lý tương tự kim cương thiên nhiên, chỉ khác là chúng được tạo ra trong phòng thí nghiệm.

Nhiều người thường nhầm lẫn kim cương tổng hợp với đá thay thế kim cương (simulant) nhưng điều này không chính xác. Đá thay thế kim cương như là cubic zirconia (CZ) hoặc moissanite tổng hợp,… chỉ có bề ngoài gần giống kim cương còn tính chất vật lý và thành phần hóa học thì hoàn toàn khác. Do đó các nhà ngọc học có thể dễ dàng nhận dạng đá thay thế nhưng đối với kim cương tổng hợp thì khó hơn rất nhiều

Chỉ trong một số trường hợp các nhà ngọc học có thể nhận dạng được kim cương tổng hợp hoặc xử lý màu bằng các thiết bị ngọc học cơ bản, còn trong hầu hết trường hợp để nhận dạng chính xác cẩn phải sử dụng các thiết bị hiện đại. GIA đã tạo một cơ sở dữ liệu rất lớn về tính chất ngọc học (quang phổ, ảnh phát huỳnh quang, bao thể…) của tất cả các loại kim cương (thiên nhiên, xử lý, tổng hợp), trên cơ sở đó đã thiết lập các phương pháp nhận dạng kim cương một cách khoa học và đáng tin cậy.

1. Hệ thống phân loại kim cương (theo thành phần hóa học)

Bắt đầu từ những năm 1930, các nhà khoa học đã chia kim cương thành hai nhóm chính là loại I (type I) và loại II (type II) dựa trên sự khác nhau về độ trong suốt dưới tia cực tím, và trong mỗi loại lại được chia thành hai phụ nhóm dựa vào cách sắp xếp của nguyên tử carbon (và tạp chất) trong cấu trúc tinh thể kim cương. Đến năm 1959, các nhà khoa học phát hiện ra nitrogen là tạp chất chính trong kim cương và phân loại kim cương theo tạp chất này như sau: kim cương loại I có chứa nitrogen và kim cương loại II không có chứa nitrogen

Hình 3: Biểu đồ trên mô tả một cách đơn giản hệ thống phân loại kim cương. Kim cương loại I (hàng trên) và kim cương loại II (hàng dưới), mỗi loại được chia thành hai nhóm nhỏ dựa vào cách sắp xếp của các nguyên tử carbon (và tạp chất) trong cấu trúc kim cương. Loại kim cương có thể được xác định nhanh chóng bằng phổ hồng ngoại.

Hầu hết kim cương thiên nhiên thuộc loại Ia. Kim cương loại Ia chứa lượng lớn nitrogen ở dạng cặp hoặc dạng nhóm (cluster), kim cương loại này không thể tổng hợp được. Kim cương loại Ib chứa nguyên tử nitrogen ở dạng phân tán (scattered) và đơn lẻ (isolated), kim cương loại này khá hiếm trong tự nhiên. Kim cương loại IIa không chứa nitrogen. Kim cương loại IIb chứa boron.

Bảng 1: Bảng trên môt tả mối quan hệ giữa loại kim cương với kim cương thiên nhiên và kim cương tổng hơp (HPHT và CVD).

2. Quá trình tăng trưởng của kim cương thiên nhiên

Hình 4: Tinh thể kim cương thiên nhiên (hình trái) thường có dạng bát diện và bị tròn cạnh do chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dưới sâu bên trong trái đất. Chúng được mang lên mặt đất từ các núi lửa phun nổ có thành phần kimberlite (hình giữa). Mô hình tinh thể bát diện lý tưởng của kim cương thiên nhiên (hình phải)

Hiện nay có hai phương pháp được sử dụng để tổng hợp kim cương. Phương pháp truyền thống được gọi là phương pháp áp suất cao, nhiệt độ cao (HPHT-high pressure, high temperature): kim cương được tăng trưởng bên trong một hợp kim nóng chảy gồm sắt (Fe), nickel (Ni) hoặc cobalt (Co). Phương pháp mới hơn được gọi là phương pháp tích tụ hơi hóa học (CVD- chemical vapor deposition): kim cương được tăng trưởng từ khí có chứa nguyên tử carbon (như là methan) bên trong buồng chân không

Kim cương HPHT sau khi được cắt mài có thể được nhận dạng từ những đặc điểm như là sự phân bố của đới màu, phát huỳnh quang, graining dạng chữ thập và bao thể kim loại màu đen,…. Trong một số trường hợp, kim cương HPHT có hiện tượng phát lân quang (phosphorescence) khá lâu sau khi tắt đèn cực tím. Kim cương HPHT cũng dễ dàng được nhận dạng bằng các thiết bị hiện đại ở các phòng thí nghiệm như là máy quang phổ visible hoặc photoluminescence.

Hình 5: Trong quá trình tổng hợp HPHT, một thiết bị được sử dụng để tạo ra môi trường áp suất và nhiệt độ cực cao cho buồng tăng trưởng (hình trái). Tinh thể kim cương HPHT có cả mặt lập phương và mặt bát diện (hình giữa và phải). 3.2. Quá trình tổng hợp CVD

Quá trình tăng trưởng kim cương CVD diễn ra bên trong buồng chân không được bơm đầy khí có chứa carbon, như là methan. Một nguồn năng lượng (chùm microwve) được sử dụng để bẻ gãy liên kết giữa các phân tử khí và nguyên tử carbon rớt xuống dưới tấm mầm. Quá trình kết tinh này diễn ra trong khoảng vài tuần để tạo ra nhiều tinh thể cùng lúc, số lượng tinh thể phụ thuộc vào kích thước buồng tăng trưởng và số lượng mầm. Tinh thể sau khi tăng trưởng có dạng tấm với xung quanh viền là graphite đen.

Hình 6: Kim cương CVD không màu trọng lượng từ 0.22 đến 0.31 xuất hiện rộng rãi trên thị trường. Ảnh: Jian Xin (Jae) Liao/GIA.

Hầu hết tinh thể kim cương CVD có màu nâu nhạt hoặc xám nhạt, nhưng nếu thêm một lượng nhỏ tạp chất nitrogen hoặc boron vào trong buồng tăng trưởng thì sẽ tạo ra màu vàng, cam hồng hoặc xanh dương. Trái ngược với phương pháp HPHT, tinh thể không màu được tạo ra dễ dàng hơn với phương pháp này nhưng phải cần thời gian tăng trưởng rất lâu. Hầu hết kim cương CVD không màu xuất hiện trên thị trường đều đã trải qua quá trình xử lý nhiệt để loại bỏ màu nâu. Kim cương CVD chủ yếu thuộc loại IIa.

Kim cương CVD có tính chất ngọc học hơi khác so với kim cương HPHT. Sự phân bố màu đều hơn và có “sự biến dạng” màu giao thoa nhẹ, cấu trúc dải khi quan sát dưới ánh sáng phân cực, độ tinh khiết có khuynh hướng cao hơn do chỉ có những pinpoint carbon màu đen

Hình 7: Trong quá trình tổng hợp CVD, kim cương tăng trưởng thành từ lớp mỏng chồng lên nhau, độ dày tinh thể sau khi tăng trưởng phụ thuộc vào thời gian tăng trưởng (hình trái). Với phương pháp này, tinh thể có dạng tấm phẳng (hình giữa và phải) với xung quanh viền là graphite đen.

Hình 8: Dạng tinh thể lý tưởng của: kim cương CVD, kim cương HPHT và kim cương thiên nhiên. Mặt bát diện màu vàng và mặt lập phương màu xanh dương. Hầu hết kim cương thiên nhiên tăng trưởng dạng bát diện (hình phải), kim cương HPHT có cả mặt bát diện và mặt lập phương (hình giữa) và mặt bát diện hoàn toàn không có trong kim cương CVD (hình trái). Mũi tên chỉ hướng tinh thể tăng trưởng.

Bảng 2: So sánh đặc điểm nhận dạng của kim cương HPHT và CVD

Kim cương HPHT thường chứa bao thể kim loại, dưới ánh sáng truyền qua chúng có màu đen và không thấu quang, dưới ánh sáng phản chiếu chúng có ánh kim loại. Bởi vì hợp kim nóng chảy được sử dụng cho quá trình tăng trưởng gồm các nguyên tố như là sắt, nickel hoặc cobal nên kim cương HPHT chứa những bao thể lớn hoặc nhiều bao thể nhỏ sẽ có từ tính mạnh và có thể dính vào nam châm.

Kim cương CVD thành tạo theo cách khác nên chúng không chứa bao thể kim loại mà chỉ có những pinpoint màu đen. nh kim loại. Bởi vì hợp kim nóng chảy được sử dụng cho quá trình tăng trưởng gồm các nguyên tố như là sắt, nickel hoặc cobal nên kim cương HPHT chứa những bao thể lớn hoặc nhiều bao thể nhỏ sẽ có từ tính mạnh và có thể dính vào nam châm.

Kim cương thiên nhiên có thể có bao thể màu đen (graphite hoặc một số khoáng vật khác) nhưng những bao thể này không có ánh kim loại dưới ánh sáng phản chiếu.

4.3. Lưỡng chiết suất bất thường (Anomalous birefringence)

Khi kiểm tra dưới hai nicol vuông góc, kim cương thiên nhiên loại II thường thể hiện lưỡng chiết suất bất thường hay còn được gọi là “sự biến dạng” (strain) màu giao thoa với cấu trúc “tatami” hoặc cấu trúc dải. “Sự biến dạng” dạng màu giao thoa này là do kim cương thiên nhiên phải trải qua điều kiện ứng suất (sress) thay đổi liên tục trong thời gian dài khi còn nằm sâu bên trong trái đất hoặc trong qua trình phun nổ của núi lửa. Ngược lại, kim cương tổng hợp tăng trưởng trong môi trường áp suất gần như đều đặn và không trải qua điều kiện ứng suất như trên, vì vậy khi kiểm tra dưới hai nicol vuông góc chúng không có “sự biến dạng” hoặc chỉ có “sự biến dạng” nhẹ, cấu trúc dải.

Phát huỳnh quang là một trong những đặc điểm quan trọng nhất để nhận dạng kim cương tổng hợp, dưới sóng ngắn tia cực tím thường phát huỳnh quang mạnh hơn dưới sóng dài và có thể có những cấu trúc đặc trưng.

Kim cương HPHT phát huỳnh quang với cấu trúc chữ thập khi quan sát từ phần crown hoặc pavillion. Kim cương CVD phát huỳnh quang với cấu trúc sọc khi quan sát từ pavilion. Màu phát huỳnh quang đặc trưng là lục, vàng lục, vàng, cam hoặc đỏ.

Khi tắt đèn cực tím, một số viên kim cương tổng hợp có hiện tượng phát lân quang trong một vài phút hoặc lâu hơn.

GIA sử dụng thiết bị thu ảnh phát huỳnh quang gọi là DiamondView để kiểm tra kim cương. Thiết bị này cho phép phát hiện cấu trúc tăng trưởng bên trong kim cương và giúp phân biệt giữa kim cương thiên nhiên với kim cương tổng hợp.

Nhận Dạng Là Gì? Những Trường Hợp Cần Phải Nhận Dạng? / 2023

Theo quy định tại Điều 190 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

Nhận dạng được thực hiện bằng cách đưa người hoặc đồ vật, hoặc ảnh cho người làm chứng, người bị hại hoặc bị can trực tiếp ngắm, nhìn để họ chỉ ra có hay không người, vật, ảnh mà họ đã nhìn thấy trước đó. Đồng thời, yêu cầu họ xác định đúng người hoặc vật hoặc ảnh mà họ đã nhìn thấy đó. Nhận dạng có thể được tiến hành bằng cách cho người làm chứng, người bị hại hoặc bị can trực tiếp nghe lại âm thanh, giọng nói để họ xác nhận đúng hay không giọng nói của người mà họ đã nghe thấy trước đó.

– Thực chất của việc nhận dạng là quá trình người nhận dạng hồi tưởng, tái hiện, so sánh, nhận lại một đối tượng mà họ đã tri giác và ghi nhớ trong ký ức của mình

Có thể phân thành các loại nhận dạng khác nhau, nhưng tựu trung có hai loại nhận dạng: nhận dạng người và nhận dạng sự vật.

Nhận dạng người là hình thức nhận dạng mà Điều tra viên để cho người làm chứng, người bị hại, bị can quan sát một số người nào đó hoặc một số bức ảnh hoặc tử thi để xác định đối tượng mà họ đã mục kích hoặc để cho người làm chứng, người bị hại, bị can nghe lại giọng nói của một số người để xác nhận giọng nói của người mà mình đã trực tiếp nghe.

Nhận dạng sự vật là hình thức nhận dạng mà Điều tra viên để cho người làm chứng, người bị hại, bị can quan sát một số vật thể, súc vật hoặc ảnh chụp các vật thể, súc vật để họ xác nhận cái hoặc con mà họ đã nhìn thấy trước đó.

– Quy định biện pháp nhận dạng là nhằm mục đích khắc phục sự nhầm lẫn, sự ngộ nhận hoặc những sai lầm khác trong nhận thức dẫn đến sự thiếu khách quan, không chính xác trong lời khai của người làm chứng, người bị hại hoặc bị can. Có thể do nhiều tình tiết khác nhau (người có lời khai không quen biết, hoặc đã gặp nhưng không biết tên, địa chỉ, lai lịch (nếu là người) hoặc không có kiến thức về đối tượng, về những đặc điểm riêng của sự vật đã mục kích dẫn đến dễ nhầm lẫn vật tương tự… cần cho họ tiếp xúc trở lại để xem xét có đúng là đối tượng họ đã có quan hệ, đã trực tiếp nhìn thấy trước đây hay không.

– Theo quy định tại Điều luật, người nhận dạng có thể là người làm chứng, người bị hại hoặc bị can.

Nếu người nhận dạng là người làm chứng hay người bị hại thì trước khi tiến hành nhận dạng, điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh nhận dạng hoặc cố tình nhận dạng gian dối. Quy định điều đó là vì những người nhận dạng có thể bị đe dọa, chịu sức ép tâm lý do quan hệ cá nhân, tình cảm gia đình, họ hàng hoặc sợ bị trả thù từ phía đối tượng phạm tội trong số những người được đưa đến để nhận dạng mà trốn tránh nhận dạng hoặc nhận dạng gian dối. Những người làm chứng hoặc người bị hại cũng có thể vì động cơ vụ lợi, trả thù… mà trong quá trình nhận dạng đưa ra những thông tin không phù hợp thực tế khách quan; cố tình không nhận ra hoặc cố tình nhận sai đối tượng. Việc từ chối hoặc trốn tránh việc nhận dạng của người nhận dạng mà không có lý do chính đáng sẽ bị truy tố theo Điều 383 của Bộ luật hình sự. Nếu người nhận dạng cố ý gian dối nhận sai đối tượng, còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 385 của Bộ luật hình sự. Lý do được coi là chính đáng trong trường hợp từ chối khai báo về những đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 19 và khoản 2 Điều 383 Bộ luật hình sự.

Việc giải thích về quyền và nghĩa vụ của những người nhận dạng, người làm chứng, người bị hại phải được ghi vào biên bản.

Mặc dầu Điều luật không quy định, nhưng nếu người nhận dạng là người làm chứng, người bị hại dưới 16 tuổi thì phải mời cha mẹ, người đại diện hợp pháp khác của người đó tham dự, như đối với trường hợp tiến hành lấy lời khai người làm chứng hoặc người bị hại. Trong quá trình nhận dạng, Điều tra viên phải chú ý đặc điểm tâm lý của người nhận dạng và các yếu tố ngoại cảnh để đánh giá khả năng nhận dạng chính xác hay không…

– Đối tượng nhận dạng có thể là người, tử thi, đồ vật, súc vật, ảnh của các đối tượng này và những gì có thể quan sát bằng mắt. Việc nhận dạng bằng ảnh được thực hiện khi không đủ điều kiện để đưa người hoặc đồ vật ra để nhận dạng. Việc xác nhận người qua giọng nói là trường hợp đặc biệt được điều chỉnh trong Điều luật này.

Luật quy định Điều tra viên có thể mời người hoặc đưa vật, ảnh cho người làm chứng, người bị hại hoặc bị can nhận dạng. Những người được đưa ra để nhận dạng không thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng bức, áp giải. Số người, vật hoặc ảnh đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là 3 và có bề ngoài phải tương tự giống nhau. Riêng trường hợp nhận dạng tử thi thì không áp dụng nguyên tắc này.

Những người được đưa đến để nhận dạng phải có bề ngoài gần giống nhau tức là không có sự khác nhau về hình dạng thân thể. lứa tuổi, tầm thước, hình dáng, khuôn mặt, tóc. mắt, kiểu tóc. màu sắc và kiểu quần áo.

Các vật đưa ra để nhận dạng phải cùng loại, cùng tên gọi, gần giống nhau về kích thước, hình dáng, màu sắc, kiểu loại và nhãn hiệu. Điều luật quy định số đối tượng nhận dạng ở mức tối thiểu, ít nhất 3 đôi tượng, tất nhiên, điều đó không loại trừ việc đưa ra một sô lượng nhiều hơn.

Trường hợp đặc biệt, do điều kiện hoàn cảnh cụ thể đã diễn ra tại thời điểm người nhận dạng tiếp xúc với đối tượng cần nhận dạng trước đây, các khả năng nhận biết bằng thị giác bị hạn chế (ví dụ. trời tối, ngăn cách, hoặc người nhận dạng bị mù lòa, bị bịt mặt…) và có điều kiện nhận biết bằng âm thanh, mà thấy cần thiết, thì Điều tra viên có thể cho xác nhận người qua tiếng nói. Điều này cần được ghi rõ trong biên bản.

– Việc nhận dạng phải có ít nhất 2 người chứng kiến. Điều tra viên phải mời người chứng kiên quá trình tổ chức và tiến hành nhận dạng

Nếu là nhận dạng người, Điều tra viên phải nói rõ với người nhận dạng về các yêu cầu bảo đảm để không xúc phạm những quyền và lợi ích của người được đưa đến đê nhận dạng. Điểu tra viên phải yêu cầu họ có thái độ nghiêm túc, tránh những lời nói, cử chỉ ảnh hưỏng đến danh dự, nhân phẩm và tâm lý người đưa ra nhận dạng.

– Việc nhận dạng phải được tiến hành theo một trình tự nhất định.

Điều luật quy định Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được người hoặc sự vật. Điều này nhằm bảo đảm xác định khả năng nhận dạng của người nhận dạng có chính xác không.

Để đảm bảo khách quan, Điều tra viên không được đặt càu hỏi có tính chất gợi ý trước khi nhận dạng. Đối tượng được nhận dạng có thể được đưa ra lần lượt hoặc đồng loạt.

Khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật hay một ảnh trong số người, vật, ảnh được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận người, vật hay ảnh đó. Những điều này phải được phản ánh đầy đủ trong biên bản nhận dạng.

Trong trường hợp sử dụng nhiều người nhận dạng thì phải tổ chức cho từng người nhận dạng và không để họ tiếp xúc với nhau khi nhận dạng.

– B iên bản nhận dạng được lập theo quy định tại các Điều 178 của Bộ luật tố tụng hình sự. Biên bản nhận dạng phải ghi rõ họ tên, tuổi, sinh quán, trú quán của người nhận dạng và của những người đưa ra nhận dạng; những đặc điểm của các đồ vật, ảnh đưa ra để nhận dạng trình tự tiến hành nhận dạng. Nếu có ghi âm, ghi hình trong quá trình nhận dạng thì việc đó phải được thể hiện rõ trong biên bản. Trong biên bản cũng ghi rõ các lời khai báo và trình này của những người nhận dạng.

Điều tra viên, người nhận dạng, người được đưa ra nhận dạng, người chứng kiến phải cùng ký tên xác nhận vào biên bản.

Các yêu cầu khác đối với biên bản nhận dạng phải tuân thủ theo quy định như đối với các biên bản hoạt động điều tra trong các trường hợp lấy lời khai người làm chứng, lấy lời khai người bị hại hoặc đối chất.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

Tác giả

Nguyễn Văn Phi

Nhận Dạng Và Kiểm Sát Việc Nhận Dạng / 2023

Nhận dạng là biện pháp điều tra do Điều tra viên thực hiện theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Nhận dạng là quá trình nhớ lại, nhận lại đối tượng mà trước đây người nhận dạng đã tri giác và ghi nhớ trong trí nhớ khi đối tượng đó xuất hiện trở lại. Mục đích của nhận dạng là xác định sự đồng nhất, sự tương đồng hay sự khác nhau giữa đối tượng nhận dạng thực tại với đối tượng mà người nhận dạng đã tri giác trước đây. Nhờ tiến hành nhận dạng Điều tra viên có thể thu thập, kiểm tra, củng cố nhiều tài liệu chứng cứ khác nhau để chứng minh các tình tiết của vụ án và làm cơ sở để xây dựng giả thuyết điều tra.

Người nhận dạng và đối tượng nhận dạng được quy định tại Điều 190 BLTTHS.

Người nhận dạng là người được Điều tra viên đưa ra để quan sát, so sánh đối tượng nhận dạng với hình ảnh của đối tượng mà người nhận dạng tri giác trước đây trong mối liên hệ với vụ án còn lưu giữ trong trí nhớ của người nhận dạng để nhận lại đối tượng cần nhận dạng. Theo quy định người nhận dạng gồm: người làm chứng, bị hại hoặc bị can.

Đối tượng nhận dạng là đối tượng được Điều tra viên đưa ra để nhận dạng bao gồm: Người (bị can, đối tượng bị tình nghi, người bị hại, người làm chứng); tử thi; đồ vật, súc vật; địa điểm, tài liệu…

Sự cần thiết để tiến hành nhận dạng được xác định căn cứ vào nhiệm vụ của hoạt động điều tra và những vấn đề cần chứng minh trong vụ án.

Trình tự tiến hành nhận dạng

Trình tự nhận dạng quy định theo Điều 190 BLTTHS như sau:

– Điều tra viên hỏi người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà họ nhờ đó có thể nhận dạng được. Trường hợp người nhận dạng dưới 18 tuổi, thì phải mời cha mẹ, người đại diện hợp pháp hoặc thầy cô giáo của người đó tham dự.

– Số lượng người, vật hoặc ảnh đưa ra để nhận dạng ít nhất là ba và bề ngoài phải tương tự giống nhau. Đối với nhận dạng tử thi thì không áp dụng nguyên tắc này.

– Nếu người nhận dạng là người làm chứng, người bị hại thì Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối khai báo hoặc cố ý khai bao gian dối, việc giải thích phải được ghi vào biên bản.

– Trong khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được đưa ra những câu hỏi mang tinh chất gợi ý. Chỉ sau khi nhận dạng đã được xác định một người, một vật hay một ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên mới yêu cầu họ giải thích, đưa ra kết luận.

– Yêu cầu người nhận dạng giải thích là họ đã dựa vào các vết tích, đặc điểm gì mà xác nhận người, vật hoặc ảnh đó.

– Lập biên bản nhận dạng theo khoản 5 Điều 190 và các Điều 178, 133 BLTTHS năm 2015, theo mẫu. Biên bản ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khóe, tình trạng sức khỏe của những người nhận dạng và những người được đưa ra nhận dạng; đặc điểm của vật, ảnh đưa ra nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng; điều kiện, ánh sáng khi thực hiện nhận dạng.

Kiểm sát việc nhận dạng

Chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc nhận dạng là Kiểm sát viên. Căn cứ pháp lý để kiểm sát việc nhận dạng được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 42, khoản 1 Điều 190 BLTTHS năm 2015.

Theo quy định thì Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận dạng, đây là điểm mới của BLTTHS năm 2015. Trước đây, BLTTHS không quy định bắt buộc Kiểm sát viên phải kiểm sát trực tiếp, chỉ nghiên cứu biên bản do Điều tra viên chuyển đến.

Quá trình kiểm sát việc nhận dạng nếu phát hiện có vi phạm thì tùy mức độ vi phạm, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên khắc phục hoặc báo cáo lãnh đạo Viện xem xét, quyết định biện pháp phù hợp để loại trừ vi phạm, bảo đảm cho việc nhận dạng thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tiến hành nhận dạng và kiểm sát việc nhận dạng

Để thực hiện nhận dạng đúng quy định của Điều 190 BLTTHS năm 2015 và đạt kết quả thì quá trình nhận dạng cần quan tâm một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần có sự chuẩn bị nhận dạng: Lấy lời khai người nhận dạng để giúp cho họ nhớ lại những đặc điểm của đối tượng nhận dạng mà họ tri giác trước đây, là cơ sở để kiểm tra, xác minh lời khai của người nhận dạng cũng như xem xét khả năng nhận dạng của người nhận dạng.

Thứ hai, lập kế hoạch nhận dạng: Dựa trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, lời khai của người nhận dạng, đặc điểm nhân thân của người nhận dạng, đặc điểm của đối tượng nhận dạng, Điều tra viên lập kế hoạch nhận dạng: Xác định mục đích cuộc nhận dạng; xác định người nhận dạng, đối tượng nhận dạng; thời gian địa điểm tiến hành nhận dạng; dự kiến chiến thuật tiến hành nhận dạng; các phương tiện kỹ thuật cần thiết phục vụ cho cuộc nhận dạng; người chủ trì và người tham gia cuộc nhận dạng; mời người chứng kiến.

Thứ ba, lựa chọn đối tượng tương tự đưa ra nhận dạng: đối tượng là người có nét tương tự (cùng giới, độ tuổi, tầm vóc, màu tóc, màu mắt, khuôn mặt, màu da, chủng tộc…), đối tượng là đồ vật phải cùng chủng loại, màu sắc, độ cũ, mới…, đối tượng là động vật lựa chọn những; số đối tượng đưa ra để nhận dạng không được quá nhiều làm phân tán sự tập trung chú ý của người nhận dạng.

Thứ tư, khi tiến hành nhận dạng: Yêu cầu người nhận dạng quan sát; Điều tra viên không được đặt câu hỏi mang tính chất gợi ý. Chỉ sau khi người nhận dạng đã xác định một người, một vật hay một ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích, đưa ra kết luận. Yêu cầu người nhận dạng giải thích là họ đã dựa vào các vết tích, đặc điểm gì mà xác nhận người, vật hoặc ảnh đó. Chụp ảnh các đối tượng nhận dạng và đối tượng được người nhận dạng xác định là đối tượng mà người nhận dạng đã tri giác trước đây. Lập biên bản nhận dạng và yêu cầu mọi người tham gia nhận dạng ký vào biên bản.

Thứ năm, đánh giá kết quả nhận dạng: Sau khi kiểm tra, xác minh kết quả nhận dạng và giá trị chứng minh của kết quả nhận dạng đối với vụ án. Việc đánh giá kết quả nhận dạng phải được tiến hành một cách thận trọng, khách quan. Kết quả nhận dạng đáng tin cậy khi người nhận dạng chỉ ra được những đặc điểm, vết tích riêng biệt của đối tượng nhận dạng. Kết quả nhận dạng sau khi được kiểm tra, đánh giá có thể được sử dụng là nguồn chứng cứ pháp lý trong hoạt động điều tra để chứng minh sự thật của vụ án.

BLTTHS năm 2015 quy định Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc nhận dạng. Để thực hiện tốt nhiệm vụ Kiểm sát viên cần quan tâm một số nội dung sau:

– Kiểm sát viên bắt buộc phải trực tiếp kiểm sát việc nhận dạng. Quá trình trực tiếp kiểm sát nhận dạng phải yêu cầu Điều tra viên thực hiện đúng các quy định tại Điều 190 BLTTHS năm 2015. Khi phát hiện vi phạm phải yêu cầu Điều tra viên khắc phục.

– Kiểm sát chặt chẽ Biên bản nhận dạng về hình thức và nội dung, xem xét có đúng quy định Điều 178, 133, 190 BLTTHS không. Kết quả nhận dạng có khẳng định được người, ảnh, đồ vật,… phục vụ cho hoạt động điều tra.

Tóm lại, nhận dạng là biện pháp điều tra quan trọng được áp dụng rộng rãi trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh sự thật của vụ án. Kết quả nhận dạng là nguồn chứng cứ pháp lý. Quá trình kiểm sát việc thực hiện nhận dạng cần thực hiện đúng quy định của BLTTHS và quan tâm một số vấn đề nêu trên để việc nhận dạng đạt kết quả cao, làm căn cứ giải quyết các vụ án hình sự.

Đinh Thị Bích Hằng

VKSND TP Cẩm Phả