Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội Là Gì / 2023 / Top 21 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Dân Cư Và Đặc Điểm Kinh Tế, Văn Hóa, Xã Hội / 2023

         1.     Quá trình hình thành dân cư

Từ nửa cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, khi bờ cõi phương Nam của đất nước được mở rộng và định hình, chúa Nguyễn đã chiêu tập nhiều bộ phận dân cư khác nhau ở Trung Trung Bộ, mà tập trung chủ yếu ở phủ Quảng Bình, Quảng Nam vào khẩn hoang miền Nam. Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận dân cư khác từ Đàng Ngoài vì bất đắc chí, cám cảnh triều đình Vua Lê – Chúa Trịnh mà vào Đàng Trong sinh cơ, lập nghiệp.

Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, điều kiện sinh hoạt rất khó khăn gian khổ, toàn xã Ninh Phước lại trong vùng kháng chiến, thường xuyên tiễn con em lên đường nhập ngũ, nhiều người tập kết ra Bắc sau năm 1954 nên dân số biến động không nhiều. Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1948, Pháp cưỡng ép Nhân dân Mỹ Giang phải dời đi sinh sống nhiều nơi khác. Đến năm 1962, sau khi Đồng Khởi, lật đổ chính quyền tại địa phương, địch dùng thủ đoạn xúc phần lớn dân Ninh Tịnh, Ninh Yển lên Động Dương rồi Ba Làng; dân Mỹ Giang, Đầm Vân vào Nha Trang, Vĩnh Xương, chỉ còn vài hộ dân kiên quyết bám trgày hòa bình lập lại, nhân dân từ các khu tập trung của địch trở về quê hương làm ăn sinh sống, dân số bắt đầu tăng trở lại so với trước năm 1962. Đặc biệt từ khi nhà máy đóng tàu Hyundai-Vinashin được xây dựng, Tỉnh lộ 1B được đưa vào hoạt động, dân số tăng dần, có thêm dân từ các tỉnh khác đến.

Đến vùng đất mới vốn còn hoang sơ, nhân dân Ninh Phước đã biết đoàn kết, tương trợ giúp đỡ, cùng nhau đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và tạo dựng được một cộng đồng làng xã ổn định. Trải qua nhiều thế kỷ lao động và chiến đấu, nhân dân Ninh Phước đã đổ không biết bao nhiêu công sức, mồ hôi, xương máu để xây dựng và bảo vệ quê hương, tạo lập những điều căn cơ cho các thế hệ nối tiếp nhau kế thừa và phát triển.

Theo số liệu điều tra đến năm 2011, dân số của xã Ninh Phước là 6818 người, phân bố trên 3 thôn: Thôn Mỹ Giang, Ninh Yển và Ninh Tịnh. Mật độ dân số là 186,3 người/km2. Tổng số người trong độ tuổi lao động chiếm 60,78% dân số trong xã. Lao động nông nghiệp chiếm 75,8%; lao động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 19,3 % và lao động dịch vụ thương mại là 9,55%. Lao động qua đào tạo chiếm 20% tổng số lao động đang làm việc.

Dân cư nông nghiệp chiếm 2/3, còn lại là ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Trong 3 thôn, có 2 thôn là Mỹ Giang và Ninh Yển với 864 hộ với 3.870 nhân khẩu dự kiến sẽ được di dời lên khu vực tái định cư Ninh Thủy và Xóm Quán ( xã Ninh Thọ) để phục vụ cho dự án điện lực Nam Vân Phong, sẽ còn lại thôn Ninh Tịnh với 678 hộ, 2.948 nhân khẩu.

2. Các hoạt động kinh tế

Cư dân Mỹ Giang, Ninh Tịnh, Ninh Yển có các hoạt động kinh tế khá đa dạng, chủ yếu dựa vào các sản vật từ núi rừng Hòn Hèo và từ vùng biển ven bờ giàu nguồn lợi hải sản. Họ cần cù, chịu thương chịu khó, tận dụng những điều kiện tự nhiên vừa ưu đãi vừa khắc nghiệt để mở đất, lập làng, tạo ra những ngành nghề đáp ứng nhu cầu của bản thân và gia đình.

Dựa vào rừng núi Hòn Hèo, những cư dân xưa đã đốn gỗ làm nhà, đóng các vật dụng gia đình, làm củi, bán cho các vùng khác; săn bắt thú rừng làm thịt… còn chủ yếu để cống nộp quan lại hoặc đóng các thứ thuế do triều đình nhà Nguyễn quy định, đó là các thứ mà nay còn lưu trong sử sách như sáp ong, mật ong, kỳ nam, trầm hương, gỗ mun, mây hoa, nhung hươu, cọp, gấu, nai. Sau này, do rừng Hòn Hèo bị khai thác cạn kiệt nên Nhà nước siết chặt lại, hoạt động này bị hạn chế dần, hiện nay hầu như đã ngưng hẳn.

Thiên nhiên Ninh Phước hùng vĩ nhưng khắc nghiệt, đất đai kém màu mỡ, diện tích lại ít, chủ yếu là đồi núi nên khởi đầu nhân dân vừa làm nghề biển vừa làm ruộng với số đất thổ, ruộng gieo hạn hẹp, sát chân núi, chủ yếu là các giống lúa gòn, lúa mướp… năng suất thấp. Ở đây phổ biến là phát rẫy trên đồi với cách trồng trọt đốt rừng chọt lỗ trỉa bắp, trồng đậu sản lượng không cao, lương thực không đủ còn phải ăn thêm gạo mua ở Nha Trang. Ở rẫy có giống bắp chu ly thơm ngon nổi tiếng được thương lái đặt mua; ngoài ra nhân dân còn trồng thuốc lá cung cấp cho phía Vĩnh Xương, Nha Trang hằng năm với số lượng không nhỏ. Tuy nhiên các giống cây ngày nay không còn trồng hoặc đã bị mất giống. Ngoài các loại cây lương thực, người dân còn trồng thêm các cây hoa màu như mì, đậu phụng, khoai lang, tỏi và từng có thời điểm trồng cây thuốc lá… Trong đó, vài năm gần đây, cây tỏi được xem là loại cây trồng chủ yếu, giúp người dân trong xã thực sự thoát nghèo một cách bền vững.

Bên cạnh trồng trọt, nghề chăn nuôi gia cầm, gia súc cũng phát triển, hầu như nhà nào cũng nuôi gia súc như heo, trâu, bò, dê, gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng… Các loại gia súc, gia cầm này chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu của gia đình cũng như lễ lạt, hội hè. Đặc biệt, trên đảo Mỹ Giang có đồng cỏ rộng 10ha dùng để chăn thả gia súc. Vài năm trở lại đây, việc chăn nuôi gia súc trên các khu vực đồi núi được đẩy mạnh, các loại gia súc đã trở thành hàng hóa thương phẩm của người dân Ninh Phước.

Về ngư nghiệp, do vị trí nằm sát biển nên ngư nghiệp cũng được chú ý phát triển với các nghề đăng, nghề câu, nghề lưới cá, giã cào là những nghề có truyền thống từ xa xưa, nhất là đối với người dân Mỹ Giang. Buổi ban đầu lập làng, nhân dân chỉ có thuyền nan, thuyền buồm để đánh bắt ở các ngư trường ven bờ với những dụng cụ như lưới đăng, chong mành, chài, câu rớ. Hiện tại, đội tàu của xã đã được hiện đại hóa với hàng trăm chiếc ghe, xuồng bằng máy với gần 200 chiếc. Tuy nhiên, tàu chủ yếu có công suất nhỏ khai thác ven bờ, hải sản đánh bắt chủ yếu là tôm hùm, cá, mực, nhum, ốc các loại cung cấp cho Nha Trang.

Bên cạnh đó, trong vài chục năm trở lại đây, nghề nuôi tôm giống, ốc hương giống tại thôn Ninh Tịnh có sự phát triển mạnh mẽ. Khu vực này đã và đang trở thành một trong những “thủ phủ” về giống thủy sản của cả nước.

Bên cạnh các hoạt động nông nghiệp, trên địa bàn xã còn có nhiều khu du lịch cao cấp như: Jungle Beach, Wild Beachs, Vịnh Kim Lan…

Cùng với định hướng phát triển khu vực vịnh Vân Phong thành khu kinh tế tổng hợp và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch vùng Nam Phú Yên – Bắc Khánh Hòa đến năm 2015, theo đó, sẽ phát triển toàn khu vực trong đó có xã Ninh Phước, thành khu cảng trung chuyển dầu và sản phẩm dầu; phát triển không gian liên kết về kinh tế thương mại tự do quốc tế, phát triển các loại hình công nghiệp gắn với cảng biển và dịch vụ thương mại kho bãi; xây dựng các tuyến du lịch biển, núi, tham quan di tích…Xã Ninh Phước nằm trong khu vực phát triển của Nam Vân Phong và đang phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Xã được lựa chọn làm vị trí triển khai nhiều dự án công nghiệp. Hiện tại đang có nhà máy đóng tàu Hyun-dai-Vinashin, Kho xăng dầu ngoại quan Vân Phong. Đặc biệt, nhà máy đóng tàu Hyundai-Vinashin (HVS) đã tạo ra biến đổi lớn về diện mạo kinh tế – xã hội của người dân Ninh Phước. Được thành lập năm 1996, chính thức đi vào hoạt động năm 1999, trong hành trình 23 năm phát triển của mình, HVS ngày càng khẳng định uy tín không chỉ trong thị trường khu vực mà còn trên thế giới về độ tin cậy, tính chuyên nghiệp trong lĩnh vực đóng mới tàu biển với 853 tàu được sửa chữa và trên 100 tàu được đóng mới. Đến năm 2018, tổng số lao động trong công ty hơn 5.000 người, trong đó HVS trên 3.000 người và thầu phụ gần 2.000 người; doanh thu hàng năm đạt hơn 400 triệu USD (tính đến năm 2018). Từ khi nhà máy đi vào hoạt động, người dân Ninh Phước có thêm các hoạt động kinh tế mới, mà chủ yếu là dịch vụ buôn bán, tạp hóa, dịch vụ lưu trú…

Trong những năm tiếp theo sẽ triển khai thêm các dự án công nghiệp khác như Nhà máy nhiệt điện Vân Phong 1, trên diện tích đất của 2 thôn Mỹ Giang và Ninh Yển. Đây sẽ là thuận lợi lớn cho sự phát triển của địa phương.

3. Hoạt động giao thông – liên lạc

Trước năm 2003, xã Ninh Phước chỉ có tuyến đường mòn, chỉ có thể giao thông bằng những loại phương tiện thô sơ như xe đạp, xe bò. Đến năm 2003, xã Ninh Phước có tuyến Tỉnh lộ 1B chạy qua trung tâm xã theo hướng Bắc Nam nối trung tâm của thị xã Ninh Hòa với xã Ninh Phước. Đường Tỉnh lộ 1B đã tạo động lực quan trọng nhằm phát triển kinh tế Ninh Phước, giúp quê hương “thay da, đổi thịt”. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông nông thôn nội xã được nâng cấp, bê tông hóa tạo thêm nhiều điều kiện đi lại thuận lợi cho nhân dân. Ngoài ra, hệ thống giao thông của xã còn bao gồm đường trục thôn xóm và đường trục đồng ruộng. Xã hiện được cung cấp điện từ lưới điện trung thế 220KV của thị xã Ninh Hòa, số hộ được sử dụng lưới điện quốc gia cho sinh hoạt và sản xuất đạt tỷ lệ 100%.

Hệ thống cơ sở hạ tầng, mạng lưới thông tin – viễn thông được phủ sóng khắp trong xã. Đến năm 2010, tổng số máy điện thoại đạt hơn 70% số hộ.

4. Đời sống văn hóa – xã hội và tín ngưỡng, tâm linh

Trong quá trình khẩn hoang, lập làng, người dân Ninh Phước đã xây dựng hệ thống các đình, miếu để thờ tự thần linh, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, quốc thái dân an; cũng như tưởng nhớ tổ tiên, anh linh các bậc tiền nhân khai hoang, mở cõi. Trong kháng chiến, các ngôi đình bị địch phá hủy nhiều lần, chỉ còn lại phần móng. Sau ngày đất nước thống nhất, các cơ sở thờ tự này mới được xây mới khang trang. Các ngôi đình thờ Thành hoàng Bổn cảnh, các bậc Tiền hiền và Hậu hiền là những người có công khai hoang, lập làng. Kiến trúc đình khá tiêu biểu cho tín ngưỡng vùng biển. Hằng năm, đình tổ chức cúng 2 lần vào tháng 3 âm lịch và tháng 10 âm lịch. Đây là những lễ hội chủ yếu của người dân Ninh Phước.

Đình Ninh Tịnh được xây dựng lại từ năm 1992, trùng tu năm 2000. Hàng năm, đình tổ chức cúng 2 lần vào 20/2 âm lịch (cúng Kỳ yên) và 21/7 âm lịch (cúng Tiền hiền). Ngoài ra, 3 năm/lần, nhân dân Ninh Tịnh còn mời đoàn hát bội đến biểu diễn trong dịp cúng Tiền hiền.

Lăng ông Nam Hải tại Ninh Tịnh được xây dựng 20/7 âm lịch năm 1990. Lăng thờ ông Nam Hải và tổ chức cúng hàng năm vào dịp 19/6 âm lịch.

Đình Mỹ Giang đặt trên đảo Mỹ Giang, được xây dựng đầu thế kỷ XX, do chiến tranh nên sụp đổ. Đến năm 1956 được dựng lại, sau khi người dân trong thôn bị địch xúc đi, đình hoang phế, sau giải phóng đình được cải tạo lại.

Sau năm 1975, sau khi nhân dân đảo Mỹ Giang dời lên đất liền, năm 1990, Đình Mỹ Giang (mới) được xây dựng bên cạnh Miếu Ninh Yển. Hằng năm đình tổ chức cúng đình 2 lần vào 25/3 âm lịch cúng ông Nam Hải và 20/2 âm lịch cúng Kỳ yên. Đặc biệt, đình có đội chèo hò báo trạo có từ xưa với khoảng 20 người.

Cạnh Đình Mỹ Giang là Miếu Bà hậu thổ. Miếu được xây dựng mới năm 1993. Miếu thờ bà Thiên Y A Na. Hằng năm Miếu tổ chức cúng vào dịp 20/2 âm lịch.

Miếu Ninh Yển được xây dựng vào năm 1993, Miếu thờ bà Thiên Y A Na. Hằng năm Miếu tổ chức cúng vào dịp 25/2 âm lịch.

Chùa Long Giang được xây dựng năm 1956 trên đảo Mỹ Giang. Năm 1962, sau khi bị xúc dân, chùa trở nên hoang phế. Năm 1991, chùa được xây dựng mới trên đất liền tại vị trí như ngày nay.

Đài Liệt sĩ được xây dựng tại thôn Ninh Tịnh, ghi danh những liệt sĩ quê hương Ninh Phước đã ngã xuống cho hòa bình, độc lập và thống nhất của Tổ quốc, cho sự bình yên của quê hương.

Nhân dân Ninh Phước có đời sống văn hóa tinh thần, những phong tục tập quán về ma chay, cưới hỏi, cúng tế có những nét giống với nhiều địa phương khác. Trong đó phong tục thờ cúng tổ tiên được truyền giữ và coi trọng. Gia đình nào cũng lập bàn thờ gia tiên, đặt ở nơi trang trọng nhất. Trên bàn thờ gia tiên thường có ảnh Bác Hồ. Ngày giỗ, tết, hội làng là nơi tụ họp của con cháu để hướng về cội nguồn, gia tộc, tổ tiên; thành kính đối với anh linh các bậc khai hoang, lập làng; những anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống trên quê hương Ninh Phước.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Ninh Phước không có trường học, ai muốn học phải lên Hòn Khói. Tuy nhiên, số lượng người học phổ thông rất hạn chế, chỉ có một vài người biết chữ. Lúc này nền giáo dục không đủ điều kiện nâng cao dân trí, bởi thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân có điều kiện được xóa mù chữ nhờ tham gia “bình dân học vụ”. Tuy nhiên, do điều kiện lúc bấy giờ nên trình độ học vấn của đa số nhân dân chỉ dừng lại ở bậc sơ học (tiểu học).

Sau giải phóng năm 1975, công tác giáo dục được Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở quan tâm đầu tư ngày càng phát triển mạnh thì việc học tập của nhân dân được thuận lợi hơn, nhiều con em được đi học. Trên địa bàn xã có đầy đủ 3 cấp học: Mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Đội ngũ giáo viên đều đạt chuẩn. Trình độ văn hóa của nhân nhân ngày càng được nâng cao, số lượng con em Ninh Phước tốt nghiệp cao đẳng, đại học ngày càng nhiều.

Trình Bày Đặc Điểm Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Của Các Nước Và Lãnh Thổ / 2023

Lời giải của Tự Học 365

Giải chi tiết: * Đặc điểm phát triển kinh tế xã hội của các nước và lãnh thổ châu Á hiện nay:

– Trình độ phát triển giữa các nước và vùng lãnh thổ rất khác nhau. Có thể phân biệt :

+ Nhật Bản là nước có trình độ phát triển cao nhất châu Á, đứng thứ hai thế giới (sau Hoa Kì) và là nước có nền kinh tế – xã hội phát triển toàn diện.

+ Một số nước và vùng lãnh thổ có mức độ công nghiệp hóa khá cao và nhanh như Xin-ga-po, Hàn Quốc, Đài Loan… được gọi là những nước công nghiệp mới.

+ Một số nước đang phát triển có tốc độ công nghiệp hóa nhanh, song nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng như Trung Quốc, Ấn Độ. Ma-lai-xi-a, Thái Lan… Các nước này tập trung phát triển dịch vụ và công nghiệp chế biến để xuất khẩu, nhờ đó tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao.

+ Một số nước đang phát triển, nền kinh tế dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp như Mi-an-ma. Lào, Băng-la-đét, Nê-pan Cam-pu-chia…

+ Ngoài ra, còn một số nước như Bru-nây, Cô-oét, A-rập Xê-Út… nhờ có nguồn dầu khí phong phú được nhiều nước công nghiệp đầu tư khai thác, chế biến, trở thành những nước giàu nhưng trình độ kinh tế – xã hội chưa phát triển cao.

– Một số quốc gia tùy thuộc loại nước nông – công nghiệp nhưng lại có các ngành công nghiệp rất hiện đại như các ngành điện tử, nguyên tử, hàng không vũ trụ… Đó là các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Pa-ki-xtan…

– Hiện nay, ở châu Á số lượng các quốc gia có thu nhập thấp, đời sống nhân dân nghèo khổ… còn chiếm tỉ lệ cao.

* Một số nước châu Á có nền công nghiệp hiện đại: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Xin-ga-po, Ấn Độ,…

Đặc Khu Kinh Tế Là Gì ? Lợi Ích Của Đặc Khu Kinh Tế / 2023

Trong chúng ta hẳn ai cũng đã từng nghe ít nhất một lần cụm từ “đặc khu kinh tế”. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết đặc khu kinh tế là gì, lợi ích của nó ra sao, trên thế giới và ở Việt Nam có những đặc khu kinh tế nào. Do vậy, bài viết sau đây chúng tôi giúp bạn đọc hiểu rõ hơn điều đó.

Đặc khu kinh tế trong tiếng Anh nghĩa là Special Economic Zones – SEZ, đây là các khu vực kinh tế được thành lập trong một quốc gia với mục đích thu hút nguồn đầu tư trong và ngoài nước bằng những biện pháp khuyến khích đặc biệt.

Sử dụng thuật ngữ đặc khu kinh tế để chỉ những khu vực kinh tế tại nơi ấy. Những công ty sẽ không bị đánh thuế hoặc bị đánh thuế nhưng với mức độ nhẹ khi đầu tư vào nơi này, mục đích là để khuyến khích hoạt động kinh tế phát triển hơn.

Đặc khu kinh tế được xác định riêng tùy theo mỗi quốc gia khác nhau. Theo ngân hàng thế giới vào năm 2008, đặc khu kinh tế là khu vực được giới hạn về mặt địa lý và nó thường được đảm bảo về mặt vật lý, nghĩa là có rào chắn, có người quản lý, điều hành.

Ngoài ra, nó còn được nhận các lợi ích dựa trên vị trí thực tế trong khu vực như lợi ích miễn thuế, thủ tục đơn giản,…

Cuối năm 1950, những đặc khu kinh tế SEZ bắt đầu xuất hiện tại các nước công nghiệp. Đầu tiên nhất là ở sân bay Sannon tại Clare, Ireland. Còn tùy vào mỗi quốc gia khác nhau mà các đặc khu kinh tế sẽ có những tên gọi khác nhau như sau:

Khu thương mại tự do FTZ

Khu chế xuất EPZ

Khu kinh tế tự do FZ

Khu công nghiệp IE

Cảng tự do Free Ports

Những biện pháp khuyến khích đặc biệt hay được áp dụng tại các đặc khu kinh tế nhằm thu hút đầu tư cụ thể như sau:

Tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi, miễn giảm thuế, đơn giản hóa các thủ tục, những chính sách linh hoạt về người lao động.

Các hạ tầng tiện lợi, tạo điều kiện sống thật tốt cho người làm việc ở trong đặc khu kinh tế.

Tại các vị trí chiến lược gắn liền với cảng biển, cảng hàng không quốc tế,…

Các hỗ trợ và ưu đãi khác.

Đặc khu kinh tế được tạo nên thúc đẩy công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế bền vững. Lợi ích mà đặc khu kinh tế mang lại như sau:

Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động của địa phương và nguồn lao động ở các khu vực lân cận.

Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Phát triển cơ sở hạ tầng tại khu vực này

Tránh tình trạng thuế tràn lan

So sánh các đặc khu kinh tế và khu công nghiệp thông thường

Thời gian thuê đất

Tối đa 99 năm

Tối đa 50 năm

Thuế thu nhập cá nhân

● Miễn thuế TNCN trong 5 năm.

● Giảm 50% thuế TNCN trong các năm tiếp theo

Theo luật định

Thuế thu nhập doanh nghiệp

10% trong 30 năm

20% ưu đãi về thuế tùy theo chính sách từng địa phương khác nhau.

Tổ chức chính quyền

● Không có hội đồng nhân dân.

● Trưởng đặc khu là do thủ tướng bổ nhiệm.

Ban quản lý khu kinh tế – khu công nghiệp trực thuộc tỉnh UBND thành phố bổ nhiệm.

Sở hữu nhà với người nước ngoài

● Tự do mua bán nhà với người có thời gian lao động trên 3 tháng.

● Thời hạn vĩnh viễn đối với nhà ở biệt thự.

● 99 năm với chung cư.

Tối đa 50 năm

Casino

Người Việt vào chơi Casino

Người Việt chỉ chơi Casino với các điều kiện trong thời gian thí điểm 3 năm.

Đặc khu kinh tế của có luật riêng biệt. Dự thảo luật đặc khu kinh tế là do Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư Việt Nam chủ trì xây dựng, nó được gọi tắt là Dự thảo Luật Đặc Khu.

Dự thảo Luật đặc khu đã được chính phủ quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4 vào tháng 10 năm 2017, được tiếp thu chỉnh lý và trình tiếp vào kỳ họp thứ 5.

Song đến ngày 9/6/2018 chính phủ ở nước ta đã thông báo đề nghị ủy ban thường vụ Quốc Hội Việt Nam lùi việc thông qua Dự án Luật Đặc khu sang kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 14 (tháng 10 năm 2018) để có thêm thời gian nghiên cứu.

Ngày 11 tháng 6 năm 2018 Quốc hội đã cho ý kiến về việc rút nội dung biểu quyết thông qua Dự án Luật Đặc Khu.

Kết quả biểu quyết 423 đại biểu tán thành rút trong tổng số 432 đại biểu tham gia biểu quyết ( tổng số đại biểu Quốc hội là 487.55 đại biểu không tham gia biểu quyết) chiếm tỉ lệ 87.45%.

Các đặc khu kinh tế trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có trên 4300 khu kinh tế tự do ở hơn 140 quốc gia.

Đặc khu kinh tế ở Việt Nam

Ở Việt Nam có tổng cộng ba đặc khu kinh tế bao gồm Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Dự kiến những đặc khu này sẽ tạo sức hút cực kỳ lớn của các nhà đầu từ trong và ngoài nước.

Theo ước tính của Bộ Tài chính, ba đề án đặc khu kinh tế cần khoảng 70 tỉ USD, tức là khoảng 1.57 triệu tỉ đồng, Vân Đồn cần 270 ngàn tỉ (2018 đến 2030), Bắc Vân Phong 400 ngàn tỉ (2019 đến 2025) và cuối cùng Phú Quốc là 900 ngàn tỉ (2016 đến 2030).

khu kinh tế Phú Quốc – Kiên Giang

Ngày 22/5/2013 Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam đã ra quyết định 31/2013/QD-TTg về việc thành lập khu kinh tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Khu kinh tế Phú Quốc chính thức được thành lập khi quyết định này có hiệu lực từ ngày 10 tháng 7 năm 2013.

Theo quy hoạch tổng thể đến năm 2030 sửa đổi, Phú Quốc sẽ có thêm 3 khu đô thị lớn, 15 khu du lịch sinh thái, 2 khu du lịch phức hợp 5 sân golf. Theo dự kiến, Phú Quốc sẽ trở thành đặc khu kinh tế vào năm 2020.

Đặc khu kinh tế Vân Đồn Quảng Ninh

Đặc khu kinh tế Vân đồng chính là khu kinh tế ở miền Bắc Việt Nam được thành lập vào năm 2007 với mục tiêu trở tâm một trung tâm sinh thái biển đảo chất lượng cao, dịch vụ chất lượng.

Không những vậy, nơi đây còn đặt mục tiêu trở thành trung tâm hàng không, đầu mối giao thương quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh.

Khu kinh tế Vân Đồn bao gồm một khu phi thuế quan và một khu thuế quan có diện tích rộng 2.200km. Trong đó diện tích của đất là 551.33km2 và vùng biển rộng 1620k2.

Đặc khu kinh tế bắc Vân Phong – Khánh Hòa

Được thành lập vào năm 2005, đặc khu kinh tế Bắc Phong Vân được đặt mục tiêu trở thành mộ hạt nhân tăng trưởng kinh tế, trung tâm đô thị, công nghiệp, dịch vụ, du lịch của khu vực Nam Trung bộ.

Đây chính là một đặc khu kinh tế tổng hợp lấy khu cảng trung chuyển container quốc tế làm chủ đạo. Có một khu phi thuế quan và một khu thuế quan ngăn cách nhau bằng tường rào.

Đặc khu kinh tế Bắc Vân Phong với diện tích hơn 1500km2, trong đó có phần biển rộng 800km2. Lợi thế của nó là cảng nước sâu Đầm Môn, nó có thể tiếp nhận tàu 200 DWT ra vào dễ dàng, giao thông tiện lợi do nằm trên giao lộ Bắc Nam và Tây Nguyên.

Các đặc khu kinh tế khác trên thế giới

với tổng cộng 10 đặc khu kinh tế

Khu kinh tế đặc biệt Visakhapatnam

Khu kinh tế đặc biệt Kandla

Khu kinh tế đặc biệt Surat

Khu kinh tế đặc biệt Cochin

Khu kinh tế đặc biệt Indore

Khu kinh tế đặc biệt SEEPZ

Khu kinh tế đặc biệt Jaipur

Khu kinh tế đặc biệt Madras

Mahindra City, Chennai

Khu kinh tế đặc biệt Noida

Bắc Triều Tiên

Khu kinh tế tự do Iquique

Khu kinh tế tự do Poti, khu kinh tế tự do Samegrelo

Khu kinh tế tự do Incheon

Khu kinh tế tự do Busan-Jinhae

Khu kinh tế tự do Gwangyang

Khu kinh tế tự do Daegu

Khu kinh tế tự do Hoàng Hải

Khu tự do Kish

Khu tự do Aras

Khu tự do Anzali

Khu tự do Arvand

Khu tự do Chabahar

Khu tự do Gheshm

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất

Khu tự do Jebel Ali

Thành phố Internet Dubai

Thành phố Truyền thông Dubai

Làng Tri thức Dubai

Thành phố Y tế Dubai

Trung tâm Tài chính Quốc tế Dubai

Khu DuBiotech

Khu Outsource Dubai

Khu Sản xuất và Truyền thông Quốc tế

Thành phố Studio Dubai

Khu kinh tế tự do Nakhodka

Khu kinh tế tự do Ingushetia

Khu kinh tế tự do Yantar, khu kinh tế tự do Kaliningrad

Khu thương mại tự do đặc biệt Okinawa

Philippines

Khu cảng tự do vịnh Subic

Khu kinh tế đặc biệt Clark

Đặc khu kinh tế Thâm Quyến

Đặc khu kinh tế Sán Đầu

Đặc khu kinh tế Chu Hải

Đặc khu kinh tế Hạ Môn

Đặc khu kinh tế Hải Nam

Khu vực Phố Đông của Thượng Hải thực chất cũng là một khu kinh tế tự do, dù tên gọi của nó không phải như vậy và cũng không phải là đặc khu kinh tế.

Cảng biển thương mại Odessa

Những bài học thành công và thất bại của đặc khu kinh tế

Những bài học thành công của đặc khu kinh tế

Trong số các đặc khu kinh tế thế giới thành công nhất phải kể đến chính là Thâm Quyến của Trung Quốc. Được thành lập vào năm 1980 từ một làng chài với 30 ngàn người dân, hiện nay Thẩm Quyến đã trở thành một trung tâm công nghệ tài chính tầm cỡ thế giới.

Đến năm 2016, Thâm Quyến với dân số lên đến 12 triệu người và có 3 triệu doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Năm 2017, GDP của Thâm Quyến đạt gần 340 tỷ USD nhờ các ngành công nghệ cao bùng nổ như internet, công nghệ sinh học và viễn thông.

Bên cạnh mô hình đặc khu của Trung Quốc, mô hình đặc khu của Hàn Quốc cũng rất thành công, nó kết nối chặt chẽ với nền kinh tế ở trong nước.

Chính phủ của quốc gia này cũng đã đầu tư hàng tỷ USD nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng hỗ trợ các đặc khu, hỗ trợ sự phát triển các ngành công nghệ cao, kinh tế quốc tế, giải trí và du lịch.

Đặc khu kinh tế Incheon của Hàn Quốc được đánh giá là thành phố có tiềm năng phát triển lớn thứ hai trên thế giới đến năm 2025.

Đặc khu Jeju mang lại nguồn thu nhập khổng lồ cho địa phương (GDP đạt 12 tỷ USD, trong đó du lịch chiếm tỷ trọng 25%). Ngoài ra nơi đây còn tạo nên thương hiệu du lịch nổi tiếng cho Hàn Quốc.

Kinh nghiệm từ các đặc khu kinh tế quốc tế thành công cho thấy nó cần phải phụ thuộc những yếu tố như sau:

+ Một là sự cam kết mạnh mẽ của chính phủ và chính quyền địa phương. Đây chính là yếu tố quan trọng hàng đầu để xây dựng niềm tin và thu hút các nhà đầu tư.

+ Hai là chính sách riêng biệt, đặc khu kinh tế cần có thể chế hành chính vượt trội, chính quyền đặc khu kinh tế được giao quyền tự chủ cao về lập pháp, hành pháp, tư pháp, đặc biệt là quyền lập quy về kinh tế. Bộ máy quản lý hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Thủ tục hành chính đơn giản, công khai và minh bạch. Nhà nước chỉ can thiệp hành chính khi cần thiết nhằm đảm bảo được sự ổn định, cạnh tranh lành mạnh.

Những đặc khu có quyền tự trị khá cao, đồng thời giải quyết được những vướng mắc tại đặc khu.

+ Ba là ưu đãi hấp dẫn. Nhằm thu hút nguồn lực vốn đầu tư trong và ngoài nước, các đặc khu kinh tế thường hay áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích đặc biệt

chẳng hạn như xây dựng môi trường kinh doanh lý tưởng, miễn giảm thuế, cho phép tự do trung chuyển hàng hóa, đơn giản hóa các thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục hải quan, tự do hóa các dòng chảy vốn đầu tư, lợi nhuận,…

+ Bốn là sự gắn kết chặt chẽ nền kinh tế trong nước cùng với thị trường toàn cầu. Và để làm được điều này đòi hỏi những chính phủ cần phải đầu tư phát triển

hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, chính sách phát triển kinh tế của đặc khu phải có sự kết nối chặt chẽ, ảnh hưởng lan tỏa đến các vùng kinh tế địa phương trong nước.

+ Năm là phải xác định mục tiêu cụ thể, rõ ràng, phù hợp và hướng đến ngành nghề ưu tiên phát triển, có lợi thế so sánh vượt trội. Những ngành nghề thu hút đầu tư được điều chỉnh, cập nhật liên tục, bắt kịp với xu hướng

phát triển của thế giới với công nghệ cao, thông minh và thân thiện với môi trường, đồng thời xác định được các đối tác chiến lược cụ thể để duy trì mức cạnh tranh cao của đặc khu, chẳng hạn như ở Trung Quốc, Hàn Quốc, UAE, Singapore.

+ Sáu là vị trí chiến lược. Đa phần các đặc khu kinh tế thành công là nhờ xây dựng tại các khu vực có vị trí địa lý kinh tế, chính trị chiến lược. Chẳng hạn như ở gần cảng biển quốc tế, các tuyến giao thông quan trọng của đất nước, kết nối dễ dàng với khu vực và quốc tế,…

Nhờ vậy mà tạo điều kiện thuận lợi, tiềm năng phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội, liền kề khu vực kinh tế phát triển và có khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư,

nhất là đầu tư nước ngoài, nguồn nhân lực. Chẳng hạn như đặc khu Thâm Quyến, Sán Đầu, Chu Hải của Trung Quốc, Incheon và Jeju của Hàn Quốc, Dubai của UAE.

Những bài học thất bại của đặc khu kinh tế

Châu Phi chính là bài học về sự thất bại của nhiều đặc khu kinh tế. Nguyên nhân là do sự thiếu kết nối hạ tầng giao thông, năng lượng cần thiết. Bên cạnh đó còn thiếu kế hoạch quản lý, chiến lược hiệu quả hay gặp những vấn đề bất ổn về chính sách trong nhà nước.

Vào thập niên 90 của thế kỷ XX, chính phủ Nigeria đã rót khoản đầu tư cực lớn vào khu kinh tế tự do trọng điểm tại Calabar. Song, chỉ hơn một thập niên sau, chỉ còn một số công ty hoạt động tại đặc khu kinh tế.

Còn ở Kenya, khu chế xuất sau gần 20 năm hoạt động, chỉ xuất khẩu được hơn 400 triệu USD năm 2008. Còn với khu kinh tế tự do tại Nigeria, Senegal và Tanazania thậm chí thấp hơn, với tỷ lệ đóng góp vào xuất khẩu cả nước rất hạn chế.

Trong quá khứ, Ấn Độ cũng rất kỳ vọng vào các đặc khu kinh tế, song đến năm 2015 chỉ có khoảng gần 200 trên tổng số 560 đặc khu còn hoạt động. Trong đó, cũng có khá nhiều đặc khu không hoạt động hết công suất.

Nguyên nhân dẫn đến thất bại của mô hình đặc khu kinh tế tại Ấn Độ là do thành lập tràn lan và áp dụng mức đãi thuế dài hạn, tỉ lệ ưu đãi lớn, điều này gây thất thu nguồn ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, thể chế kinh tế và hành chính của các đặc khu kinh tế của Ấn Độ về cơ bản không có sự vượt trội rõ rệt.

Qua quá trình nghiên cứu đã chỉ ra nhiều nguyên tố dẫn đến thất bại của đặc khu kinh tế trên thế giới. Nó bao gồm việc vị trí không thuận lợi dẫn đến chi phí đầu tư kém, các chính sách thiếu tính cạnh tranh.

phần lớn dựa vào thời gian miễn hay ưu đãi thuế, các chính sách lao động cứng nhắc, kết cấu hạ tầng của các đặc khu kinh tế chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư, sự phối hợp không chặt chẽ giữa doanh nghiệp tư nhân và chính phủ trong việc phát triển kết cấu hạ tầng cho đặc khu kinh tế.

Bên cạnh đó còn có giá thuê và các dịch vụ mang tính bao cấp; mô hình quản lý và tổ chức bộ máy cồng kềnh,…

Thông qua kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong quá trình phát triển đặc khu với sự can thiệp từ chính quyền trung ương sẽ giảm cơ hội thử nghiệm các ý tưởng táo bạo ở các đặc khu.

Song, nếu trao quyền lực quá lớn cho đặc khu có thể xảy ra việc thiết lập các nhà nước bên trong nhà nước.

Điều đáng quan ngại hơn là các khoản ưu đãi để thu hút nhà đầu tư theo kéo sự méo mó bên trong các nền kinh tế.

Nếu không được quản lý chặt chẽ, các đặc khu trở thành nơi ẩn náu của hoạt động rửa tiền, chẳng hạn như việc lập các hóa đơn khống trong xuất khẩu.

Kinh Tế Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò Của Kinh Tế Du Lịch Việt Nam / 2023

Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia.

1. Kinh tế du lịch là gì?

Kinh tế du lịch là một hệ thống phức hợp những quan hệ và hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia trong quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ du lịch, nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cho các bên tham gia và tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Trong quá trình hội nhập kinh tế, kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia.

Kinh tế du lịch nhằm khai thác tài nguyên có sẵn của thiên nhiên nhằm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.

Ngành kinh tế du lịch gồm 2 loại:

Du lịch trong nước: là loại hình tổ chức và khai thác các địa điểm tham quan du lịch dành cho khách du lịch trong nước hoặc những khách du lịch tới tham quan tại quốc gia đó.

Du lịch quốc tế: là loại hình du lịch mà khách du lịch của quốc gia nội tại có nhu cầu và thực hiện tham quan di lịch tại quốc gia khác.

2. Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch

Tính tổng hợp, liên ngành: ngành du lịch cũng như các ngành khác, đều có mỗi quan hệ liên kết chặt chẽ với các lĩnh vực khác như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, tài nguyên môi trường, thể thao văn hóa…

Tính xã hội hóa: tức là ngành kinh tế du lịch thu hút mọi thành phần kinh tế xã hội tham gia.

Tính xanh và sạch: Đây được đánh giá là ngành công nghiệp không khói, có xu hướng tích cực bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp.

Tính lợi ích và hiệu quả kinh tế cao: phải khẳng định rằng kinh tế du lịch đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế, góp phần tăng ngân sách và mức đô tăng trưởng GDP của mỗi quốc gia.

3. Vai trò của kinh tế du lịch đối với hội nhập quốc tế

Có thể nói kinh tế du lịch là chiếc chìa khóa thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa quốc gia tác động mạnh mẽ đến tổng sản phẩm quốc nội GDP; ngân sách nhà nước; tổng vốn đầu tư; công nghệ hiện đại; tổng kim ngạch xuất khẩu; nền văn hóa đa dạng.

Kinh tế du lịch góp phần thúc đẩy phân công lao động, hợp tác khu vực và quốc tế: Kinh tế du lịch là ngành sản xuất ra sản phẩm du lịch để cung ứng ra thị trường với sự kết hợp của một chuỗi các dịch vụ khác nhau, để có được sản phẩm chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường đòi hỏi phải có sự phân công lao động, chuyên môn hóa rất cao trong các công đoạn, phân khúc sản phẩm.

Kinh tế du lịch góp phần tăng cường giao lưu, hội nhập của quốc gia với khu vực và quốc tế: thông qua các hoạt động dịch vụ du lịch, đòi hỏi sự liên kết mở rộng, giao lưu kinh tế và văn hóa.

Kinh tế du lịch góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tham gia mở rộng thị trường nội địa và quốc tế: đây là kênh quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Thông qua hợp tác quốc tế và khu vực trong lĩnh vực du lịch, các quốc gia có thể tận dụng lợi thế để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Việc phát triển kinh tế du lịch góp phần giới thiệu và quảng bá hình ảnh của quốc gia đối với nhiều nước khác trên thế giớ; có cơ hội được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến; có cơ hội liên kết mở rộng các tuyến du lịch và các loại hình du lịch mới.

Tuy nhiên để phát triển kinh tế du lịch cũng đối mặt với một số thách thức như làm tăng sự phụ thuộc về khách du lịch của các quốc gia vào thị trường nước ngoài hoặc tạo ra những thách thức trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc, bảo vệ tài nguyên và môi trường.