Công Dụng Đu Đủ Tía / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Công Dụng Cây Đu Đủ Tía

Cây Đu Đủ Tía là vị thuốc nam được nhiều người biết đến. Những ứng dụng chủ yếu của giống cây này là dùng để điều trị trĩ. Cây có lượng độc tố nhất định nhưng nếu sử dụng đúng liều lượng sẽ vô cùng hữu dụng. Shop hoa đẹp Hoa4mua sẽ chia sẻ cho bạn những công dụng, đặc tính riêng của giống cây này để có thể nhận biết dễ dàng.

Khái quát đặc tính chung của cây Đu Đủ Tía

Đu Đủ Tía còn được biết đến với tên gọi khác là cây Thầu Dầu, Đu Đủ Dầu. Cây có tên khoa học là Ricinus communis L. Giống cây này thuộc họ Thầu Dầu.

Cây thuộc dạng thân thảo hoặc cũng có thể lá cây bụi mọc hoang. Chiều cao của cây có thể đạt tới 5m với điều kiện phát triển phù hợp. Thân cây đặc tính nhẵn và được phủ bên ngoài bởi bột sáp. Cây thường sắc xanh lá, xanh xám hay đỏ tím. Thân cây rỗng và tròn với nhiều cành nhỏ với những lá mọc phân chia đều hai bên.

Phiến lá cây to và có sắc tía, lá rộng có thể lên tới 40cm hoặc to hơn. Mỗi phiến lá sẽ được chia từ 7 đến 11 thùy, hình trứng thuôn hay giống như hình ngọn giáo. Đặc tính mép lá có răng cưa và gân nổi rõ. Cuống lá dày và thậm chí có thể dài lên tới 40cm.

Hoa của cây mọc thành cụm và phát triển ở vùng ngọn hay nách của lá. Hoa mọc tạo thành chùy với đài có hình tam giác, bao phủ nhiều lông. Cây có hoa đực và hoa cái. Những hoa đực sẽ có thùy dạng bầu dục, có chứa rất nhiều nhụy hoa. Hoa cái sẽ có hình chóp hay bầu dục. Bao phủ bên trên hoa cái là rất nhiều chóp lá.

Cây cho quả nang và có hình trứng. Mỗi quả sẽ dài ừ 1,5cm đến 2,5cm. Quả có sắc màu lục hay tím nhạt, đặc tính có những gai mềm và bên trong có 3 hạt. Hạt của quả hình bầu dục và nhẵn sắc nâu xám. Hạt sẽ có những vân đỏ hoặc màu nâu đen. Mùa hoa của cây là vào tháng 3 cho đến tháng 7. Cây kết quả từ tháng 4 cho đến tháng 8.

Phân bố và nguồn gốc của cây Thầu Dầu Tía

Cây có nguồn gốc từ Ấn Độ, Ai Cập và ở Ethiopia. Cây được du nhập và phát triển ở nhiều nước như Brazil, Argentina, Hoa Kỳ và Thái Lan. Cây hiện này có rất nhiều ở những nước nhiệt đới hay những vùng có khí hậu ấm áp.

Tại Việt Nam cây phát triển và mọc ở khu vực rừng núi Tây Bắc. những tỉnh như Lào Cai, Hà Giang, Hòa Bình có rất nhiều cây Đu Đủ Tía. Cây sẽ có ít ở những vùng đồng bằng hay những tỉnh miền Nam.

Ứng dụng và lợi ích mang lại của cây Đu Đủ Tía

Giống cây này được thu hái và sử dụng phần lá, thân và hạt để làm dược liệu, thuốc trị bệnh. Người ta thu hái lá cây quanh năm sau đó sơ chế bằng cách phơi khô hoặc dùng tươi. Hạt của cây thì được thu hái vào khoảng tháng 5 cho đến tháng 6. Hạt cây dùng để ép dầu sử dụng.

Phần lá của cây dùng để thoa hay đắp ngoài trị bệnh. Lưu ý dầu của hạt ép ra không được uống.

Những ứng dụng trị bệnh của cây có thể kể đến đó là:

– Điều trị tình trạng sa tử cung và sa trực tràng.

– Trị liệt thần kinh mặt nhanh chóng.

– Dùng cho người bị sót nhau thai sau sinh, người đẻ khó.

– Trị bệnh trĩ hữu ích.

Lưu ý: phần hạt của cây có chất độc Ricin nên không được uống dầu ép từ hạt. Khi dùng nên cần lưu ý. Ngộ độc ricin có thể gây tử vong nhanh chóng.

Hình ảnh cây Đu Đủ Tía – Dược liệu hữu ích

Cây Đu Đủ Tía mọc rất nhiều ở nước ta. Những ứng dụng của cây chủ yếu là vị thuốc trị bệnh. Nếu có bất cứ thắc mắc gì về giống cây này, nhanh chóng liên hệ với shop hoa tươi Hồ Chí Minh Hoa4mua để các chuyên gia của chúng tôi tư vấn và giải đáp những băn khoăn của bạn.

Phương Hay Thuốc Quý:đu Đủ Tía

Một bạn đọc từ địa chỉ thư điện tử tunguyetphung…@yahoo.com có gửi cho tôi một câu hỏi: “Tôi nghe nói hạt đu đủ tía có chất độc A . Xin cho biết công dụng trị bệnh của hạt đu đủ tía. Xin thành thật cám ơn!”.

Thầu dầu (Đu đủ tía – Ricinus communis). Ảnh: P.C.T

Hạt đu đủ tía không thấy tên trong quy chế độc bảng A cũng như B của y học cổ truyền.

Tuy nhiên, nói hạt đu đủ tía có một chất độc là điều hoàn toàn đúng. Chất độc đó là ricin – một protein độc có trong hạt đu đủ tía.

Cây đu đủ tía, còn gọi là Thầu dầu, tên chữ Hán là 蓖 麻 ( theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu đọc là Bế ma hoặc Bề ma, trong khi sách thuốc của cố GS Đỗ Tất Lợi phiên âm là Tỳ ma, TS Võ Văn Chi phiên âm là Bí ma). Tên khoa học là Ricinus communis L., thuộc họ Thầu dầu – Euphorbiaceae. Cây Thầu dầu cho ta các vị thuốc sau đây:

1. Dầu Thầu dầu – Bế ma du là dầu ép từ hạt cây Thầu dầu, là một chất lỏng sền sệt, trong, không màu hay hơi vàng, mùi vị nhạt và gây buồn nôn.

Theo Từ điển cây thuốc Việt Nam của TS Võ Văn Chi, dầu Thầu dầu có tác dụng nhuận trường thông tiện, được chỉ định dùng trong bệnh táo bón của trẻ em, phụ nữ có thai, bệnh nhân mổ và sản phụ. Liều dùng cho người lớn 1-2 thìa, trẻ em ½ thìa. Để tránh buồn nôn có thể hòa lẫn cà-phê (bia hay dịch trái cây) để uống.

Theo tài liệu của GS Đỗ Tất Lợi thì dầu Thầu dầu có tác dụng tẩy nhẹ và chắc chắn. Uống lúc đói với liều 10-30g. Sau khi uống 3-4 giờ sẽ gây đi ngoài nhiều, mà không đau bụng. Với liều 30-50g, đi ngoài sẽ kéo dài 5-6 giờ. Dầu này không gây hiện tượng xót trong ruột, chỉ làm ruột non và ruột già co bóp nhiều hơn mà không ảnh hưởng đến xương chậu nhỏ, do đó rất tốt cho phụ nữ có thai mà bị táo bón.

2. Hạt Thầu dầu – Bế ma tử là hạt phơi khô của cây Thầu dầu. Trong hạt Thầu dầu có một protein rất độc tên là ricin, chiếm tỉ lệ 3-5% trong hạt. Khi ép dầu, thì chất độc này nằm lại trong khô dầu làm cho khô dầu có chất độc không dùng làm thức ăn được. GS, TS Đỗ Tất Lợi đã viết rất chi tiết về chất độc này trong sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam như sau:

Chất ricin là một chất độc. Với liều 0,002mg đối với 1kg thể trọng đã làm chết một con thỏ. Tác dụng độc của nó giống như vi trùng. Nó có thể gây miễn dịch: cho súc vật ăn với liều nhỏ, nhiều lần, thì sau đó súc vật có thể ăn với liều khá cao mà không chết.

Ricin bị nhiệt độ cao phá hủy, cho nên có nơi có thể cho lợn ăn khô Thầu dầu đã hấp nóng ở 115oC trong một giờ rưỡi. Và có thể do đó một vài nơi ở ta ăn hạt thầu dầu xào nấu mà không thấy hiện tượng ngộ độc.

Nếu không bị phá hủy, độ độc của nó rất cao: 3g khô dầu đủ giết chết một con bò non nặng 100kg; chỉ cần tiêm 0,03mg cho một 1kg thể trọng chó là đủ giết chết chó. Liều độc đối với một con chuột bạch nặng 500g là 6 phần triệu gam, tức là đối với chuột bạch, ricin độc gấp 7 lần chất aconitin là chất độc vào loại độc nhất có trong Ô đầu (Aconitum).

Liều độc với người là 3mg tiêm dưới da, 180mg uống; 1 hạt đủ gây nôn mửa, 3-4 hạt đủ làm trẻ con chết, 14-15 hạt làm chết người lớn. Tiêm chất ricin đã đun lâu có thể gây miễn độc. Thanh huyết miễn độc, antiricin để lâu có thể giảm bớt hiệu lực.

Cơ chế tác dụng của ricin là làm vón hồng cầu và bạch cầu.

Do có độc như vậy nên trong Đông y không dùng hạt Thầu dầu làm thuốc uống trong, mà chỉ làm thuốc đắp ngoài. Xin giới thiệu một số đơn thuốc dân gian có ghi trong Từ điển cây thuốc Việt Nam của TS Võ Văn Chi:

1- Sa tử cung và trực tràng: Dùng hạt Thầu dầu giã ra đắp lên đầu.

2- Đẻ khó, sót nhau: Dùng hạt Thầu dầu (độ 14 hạt) giã nát đắp vào lòng bàn chân, khi đẻ xong hay nhau đã ra thì bỏ thuốc ngay và rửa sạch.

3- Liệt thần kinh mặt: Giã hạt Thầu dầu và đắp vào phía đối diện.

Ngoài hạt, sách đã dẫn còn biết lá Thầu dầu còn được dùng trị viêm mủ da, eczema, mẩn ngứa, ung nhọt, viêm tuyến vú, viêm đau khớp, diệt giòi, giết bọ gậy và rễ Thầu dầu dùng chữa phong thấp đau nhức khớp, đòn ngã sưng đau, sài uốn ván, động kinh, tinh thần phân liệt. Lá và rễ thường dùng với liều 30-60g. Dùng ngoài lấy lá giã đắp.

PHAN CÔNG TUẤN

Công Dụng Của Quả Đu Đủ

Đu đủ là loại trái cây nhiệt đới, có vỏ bóng mịn, thịt dày, nhiều nước, hương vị thanh ngọt, phù hợp cho việc giải nhiệt mùa hè.

Không những thế, trong quả đu đủ có chứa hàm lượng Vitamin C và Vitamin A khá cao, có hơn 17 loại axit amin, canxi, sắt, kiềm và papin (là loại men phân giải protein). Chính vì thế, quả đu đủ có rất nhiều tên gọi như: trái vạn thọ, trái cây trăm lợi ích hay vua của trái cây…

Hôm nay, Gia Chánh Cẩm Tuyết xin giới thiệu đến các bạn lợi ích của quả đu đủ đến sức khỏe của con người.

Theo y học hiện đại, quả đu đủ có chứa protease, giúp phân hủy chất béo thành axit béo, giúp cơ thể phân giải protein thịt, là chất có lợi cho cơ thể tiêu hóa và hấp thụ dinh dưỡng từ thức ăn hàng ngày. Dùng đu đủ sau các bữa ăn sẽ giúp dạ dày phân giải, hấp thụ các loại thịt khó tiêu hóa, phòng ngừa các triệu chứng loét dạ dày.

Chất kiềm và papain trong đu đủ có khả năng chống khuẩn mycobacterium tuberculosis (Vi khuẩn lao) và ký sinh trùng như: sán dây, giun đũa, giun tóc và amoeba…

Đu đủ có chứa Rennet, một loại enzyme thủy phân protein, có tác dụng thông tuyến sữa (với phụ nữ sau sinh), chất kiềm giúp ngừa bệnh bạch cầu lymphocytic (ung thư máu).

Trong quả đu đủ có chứa nhiều nước, carbohydrate, protein, chất béo, vitamin và một loạt các axit amin thiết yếu giúp bổ sung hiệu quả nguồn dinh dưỡng nuôi cơ thể, tăng cường khả năng miễn dịch.

Chất kiềm có tác dụng giảm đau nhức, nhất là đối với điều trị co giật cơ bắp.

Quả đu đủ chín có vỏ màu vàng, vị đặc biệt thanh ngọt. Không nên chọn những quả có vỏ hiện những đốm đen, vì lúc này dinh dưỡng bên trong đã biến chất, hương vị và dinh dưỡng đã không còn được bảo toàn.

Gia Chánh Cẩm Tuyết

Công Dụng Chữa Bệnh Của Cây Đu Đủ

Hỏi: Đu đủ là loại cây quen thuộc và được nhiều bài báo nhắc tới. Tuy nhiên, tôi vẫu muốn được biết thêm công dụng của nó.

(Lê Văn Thành – Tiền Giang)

Trả lời: Đu đủ còn có tên là phan qua thụ, lô hong, phlê (Campuchia), mắc hung (Lào), cà lào, phiên mộc.

Tên khoa học Carica papaya L.

Thuộc họ Đu đủ Papayaceae.

Cây đu đủ cung cấp các bộ phận sau đây dùng làm thuốc. Quả đu đủ xanh và chín, hạt đu đủ, hoa đu đủ, nhựa đu đủ, papain, chất ancaioit: cacpain.

Công dụng của đu đủ ngày càng phát triển, nhiều nước chú ý trồng để dùng trong nước và xuất khẩu.

Mô tả cây

Cây đu đủ cao từ 3 – 7m, thân thẳng, đôi khi có phân nhánh. Vỏ mang rất nhiều sẹo của cuống lá. Lá mọc so le ở ngọn cây, phiến lá to rộng chia làm 6 – 9 thùy, thùy hình trứng nhọn, mép có răng cưa không đều, cuống lá rỗng và dài 30 – 50cm. Hoa trắng nhạt hay xanh nhạt, khác gốc. Hoa đực mọc ở kẽ lá thành chùy có cuống rất dài. Hoa áci có tràng dài hơn tràng của hoa đực, mọc thành chùy ở kẽ lá. Quả thịt hình trứng to, dài 20 – 30cm, đường kính 15 – 20cm. Thịt quả dày, lúc đầu có màu xanh lục sau ngả màu vàng cam. Trong ruột quả có rất nhiều hạt đen to bằng hạt tiêu. Xung quanh có lớp nhầy.

Phân bố thu hái và chế biến

Nguồn gốc cây đu đủ là vùng nhiệt đới châu Mỹ, sau được phổ biến đi khắp nơi. Tại Việt Nam cây đu đủ được trồng ở khắp nơi, nhưng việc trồng trên quy mô công nghiệp chưa được đặt ra.

Trồng bằng hạt: có thể gieo rồi đánh cây con sang chỗ khác hoặc trồng ngay tại chỗ bằng cách đào lỗ, mỗi lỗ gieo 3 – 4 hạt. Vấn đề khó trong việc trồng đu đủ là phân biệt đựơc cây đực, cây cái. Có người nói hạt đu đủ cái đen hơn và cây đu đủ cái con có rễ cong queo nhưng chưa có cơ sở chính xác.

Sau khi trồng được 8 – 10 tháng đã bắt đầu thu hoạch, nhưng thu hoạch cao nhất từ năm thứ 3 trở đi.

Công dụng và liều dùng

Đu đủ chín được coi là món ăn bồi bổ và giúp sự tiêu hóa các chất thịt, các chất lòng trắng trứng.

Đu đủ xanh nấu kỹ với thịt gà gần đây được một số đơn vị quân y dùng điều trị loét dạ dày có kết quả. Tuy nhiên có một số trường hợp xuống cân.

Nhân dân còn dùng nấu với một số thịt cứng, cho chóng chín nhừ. Quả đu đủ xanh nghiền với nước còn dùng bôi mặt hoặc tay chữa các vết tàn hương ở mặt và tay.

Nhựa đu đủ dùng làm thuốc giun nhưng cần chú ý tránh nguy hiểm đối với trẻ em và người loét dạ dày.

Lá đu đủ dùng gói những thịt gà cứng để khi nấu chóng mềm nhừ. Nước sắc lá đu đủ dùng giặt những vết máu trên vải và quần áo hoặc để rửa các vết thương, vết lở loét.

Hoa đu đủ đực tươi hoặc khô hấp với đường hoặc đường phèn dùng chữa bệnh ho, viêm ống phổi, mất tiếng.

Đơn thuốc có đu đủ: Rễ đu đủ chữa cá đuối cắn.

Rễ đu đủ tươi 30g.

Muối ăn 4g.

Hai thứ giã nhỏ. Vắt lấy nước uống, bã đắp lên chỗ sưng đau. Sau chừng nửa giờ thấy giảm đau và vài ngay sau khỏi hẳn (kinh nghiệm nhân dân miền Nam).

(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

của GS. ĐỖ TẤT LỢI