Cấu Trúc Nơron Thần Kinh / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Cấu Tạo Của Nơron Thần Kinh, Các Loại Nơron Thần Kinh Trong Cơ Thể

Nơron là những tế bào thần kinh chính thức có chức năng cảm ứng và truyền dẫn xung điện. Nó là đơn vị cơ bản cấu tạo nên hệ thống thần kinh và là phần quan trọng nhất của não bộ.

Nơ ron thần kinh đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể. Khi chúng bị tổn thương, con người có thể bị rối loạn vận động và cảm giác, dẫn đến hiện tượng run rẩy chân tay hoặc tê liệt một phần hoặc toàn bộ cơ thể.

Trình bày cấu tạo của nơron thần kinh

Nơron là đơn vị cấu tạo của hệ thần kinh, trong hệ thần kinh có khoảng 1.000 tỉ nơron. Mô tả cấu tạo của một nơron điển hình gồm các bộ phận: thân, đuôi gai và sợi trục. Trình bày cấu tạo của nơron thần kinh với các phần cụ thể như sau

Trình bày cấu tạo của nơron thần kinh – thân nơron

Cấu tạo: trong cấu tạo của nơron thần kinh thân nơron là chỗ phình to của nơron chứa bào tương, nhân và các bào quan: ribosom, lysosom, thể nissl màu xám, bộ máy golgi, các sắc tố, ty thể, tơ thần kinh, ống siêu vi. Vì vậy, nơi nào có nhiều thân của nơron thì nơi đó có màu xám.

Chức năng: thân nơron có chức năng dinh dưỡng cho nơron, đồng thời có thể là nơi phát sinh xung động thần kinh và là nơi tiếp nhận xung đột thần kinh từ tuyến khác đến nơron.

Trình bày cấu tạo của nơron thần kinh – đuôi gai

Đôi gai là một phần quan trọng trong cấu tạo của nơron. Một nơron thì chứa nhiều đuôi gai, mỗi đuôi gai được chia làm nhiều nhánh. Chức năng chính của đuôi gai là tiếp nhận xung động thần kinh truyền đến nơron và cùng với sợi trục tạo nên chất trắng cho hệ thần kinh.

Trình bày cấu tạo của nơron thần kinh – sợi trục

Sợi trục thường có đường kính khoảng 0,5 μm – 22 μm. Ở bên ngoài sợi trục, có thể có lớp các tế bào Schwann bao bọc. Ở đoạn cuối của sợi trục được chia thành nhiều nhánh, ở cuối nhánh có một chỗ phình to được gọi là cúc tận cùng có vai trò cấu tạo nên xinap dẫn truyền xung thần kinh

Chức năng: dẫn truyền xung thần kinh ra khỏi nơron và cùng với đuôi gai tạo nên chất trắng của hệ thần kinh.

Phân loại nơron thần kinh

Có rất nhiều tiêu chí để phân loại nơron thần kinh, trong đó có hai tiêu chí chính là phân loại theo hướng dẫn truyền xung điện và phân loại theo chức năng của nơron thần kinh

Dựa vào hướng dẫn truyền xung thần kinh, nơron có thể chia thành 3 loại:

Nơron hướng tâm: có vị trí nằm bên ngoài trung ương thần kinh và thực hiện chức năng dẫn truyền xung thần kinh về trung ương.

Nơron trung gian: vị trí nằm trong trung ương thần kinh, thực hiện chức năng liên lạc.

Nơron li tâm: nằm ở giữa trung ương thần kinh, thực hiện chức năng dẫn các xung li tâm từ tủy sống và não đến các cơ quan phản ứng.

Phân loại theo chức năng của nơron thần kinh, có thể chia thành 3 loại cụ thể như sau:

Nơron Thần Kinh – Cấu Tạo Và Phân Loại Các Chức Năng Cơ Bản

1. Nơron thần kinh là gì

Nơron là những tế bào thần kinh chính thức có chức năng truyền dẫn xung điện. Nơron thần kinh là đơn vị cơ bản cấu tạo nên hệ thần kinh và cũng là phần quan trọng nhất của não bộ.

Toàn bộ hệ thần kinh có số lượng nơron thần kinh khoảng 100 tỉ nơron, 75% thành phần của tế bào não là nước. Một phần mô não, kích thước bằng một hạt cát, chứa tới 1 tỉ khớp thần kinh và 100.000 tế bào thần kinh, chúng đều có quan hệ mật thiết với nhau. Tìm hiểu rõ hơn về cấu tạo nơron thần kinh ở người và phân loại chức năng cơ bản của chúng.

1. Phân tích đặc điểm – cấu tạo nơron thần kinh.

Cấu tạo nơron thần kinh

Cấu tạo nơron thần kinh ở người bao gồm:

– Thân nơron : là chỗ phình to của nơron chứa nhân, bào tương và các bào quan, ribosom, thể Nissl có màu xám, lysosom, bộ máy Golgi, các sắc tố, tơ thần kinh, ty thể, ống siêu vi. Do đó, nơi nào tập trung nhiều thân nơron là tổ chức thần kinh có màu xám. Thân nơron có vai trò dinh dưỡng cho nơron, có thể phát sinh xung động thần kinh và có thể tiếp nhận xung động thần kinh từ nơi khác truyền đến nơron.

– Đuôi gai: Mỗi nơron thông thường đều có nhiều đuôi gai, mỗi đuôi gai được chia làm nhiều nhánh, có chức năng tiếp nhận xung động thần kinh để truyền đến nơron.

– Sợi trục: Sợi trục cùng với đuôi gai tạo nên dây thần kinh và chất trắng của hệ thần kinh, theo đó mỗi nơron chỉ có duy nhất mỗi sợi trục. Có vai trò dẫn truyền xung động thần kinh đi ra khỏi nơron. Đường kính của các sợi trục thường có kích thích khác nhau, giao động từ từ 0,5 μm – 22 μm. Vỏ của sợi trục có ở tất cả các sợi trục không myelin và myelin.

Bao myelin được hình thành do các tế bào Schwann gọi là eo Ranvier. Khoảng cách giữ 2 eo Ranvier dài khoảng từ khoảng 1,5 – 2 mm. Màng tại eo Ranvier lại có tính thấm cao đối với các ion, còn bao myelin được xem như là chất cách điện tạo điều kiện thuận lợi cho việc dẫn truyền hưng phấn theo sợi trục được diễn ra nhanh chóng.

Phần cuối sợi trục có chia nhánh, cuối mỗi nhánh có chỗ phình lên đó được gọi là cúc tận cùng – tham gia vào cấu trúc đặc biệt gọi là Xy Náp.

2. Vai trò và các chức năng cơ bản của nơron thần kinh ở người

Vai trò của nơron thần kinh ở người

Nơron thần kinh được biết đến với vai trò là  đơn vị cơ bản cấu tạo nên hệ thần kinh và cũng là phần quan trọng nhất của não bộ. Toàn bộ hệ thần kinh có khoảng 100 tỉ nơron (số lượng nơron thần kinh trung bình mỗi người), 75% thành phần của tế bào não là nước.

Nơron thần kinh có mấy chức năng cơ bản ?

Nơron thần kinh có chức năng gì?

Nơron thần kinh có mấy chức năng có bản thì hiện có 2 chức năng chính là cảm ứng và dẫn truyền xung thần kinh.

Dưới đây là 2 chức năng của nơron thần kinh mà bạn nên biết:

+ Cảm ứng là khả năng tiếp nhận và phản ứng lại các kích thích bằng hình thức phát sinh xung thần kinh.

+ Dẫn truyền là khả năng lan truyền xung thần kinh theo một chiều nhất định từ nơi phát sinh hay tiếp nhận về thân nơron và truyền đi theo dọc sợi trục.

3. Phân loại các nơron thần kinh dựa trên vai trò và chức năng

Dựa vào liên kết nơron thần kinh và vai trò và chức năng của nơron thần kinh người ta chia số nơron thần kinh thành các loại sau:

+ Nơron hướng tâm – Nơron cảm giác: Nơron hướng tâm có thân nằm ngoài trung ương thần kinh, giữ vai trò truyền xung thần kinh về trung ương thần kinh. + Nơron trung gian- Nơron liên lạc: Có vị trí nằm trong trung thần kinh, đảm bảo liên hệ giữa các nơron. + Nơron li tâm – Nơron vận động: Nơron có thân nằm trong trung ương thần, sợi trục hướng ra cơ quan phản ứng, truyền xung thần kinh tới các cơ quan phản ứng.

Nơron thần kinh được biết đến là thành phần quan trọng nhất trong bộ não, đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn truyền và cảm ứng của não bộ. Vì thế những xung đột, tổn thương đến loại nơron này là rất nguy hiểm.

Nguồn:  chúng tôi

Các tìm kiếm tương tự: nơron thần kinh, cấu tạo nơron thần kinh, số lượng nơron thần kinh, nơron thần kinh có mấy chức năng cơ bản, nơron thần kinh ở người, nơron thần kinh là gì, chức năng của nơron thần kinh, số nơron thần kinh, liên kết nơron thần kinh, nơron thần kinh có chức năng gì, …

Dây Thần Kinh Sọ: Cấu Trúc Và Chức Năng

Hệ thần kinh con người gồm hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên. Hệ thần kinh trung ương gồm não bộ và tủy gai. Trong khi đó, hệ thần kinh ngoại biên gồm 31 đôi thần kinh gai sống, cách hạch thần kinh ngoại biên và 12 đôi thần kinh sọ não. Trong bài viết này, chúng ta cùng tìm hiểu về 12 đôi dây thần kinh sọ não.

Các dây thần kinh sọ đa số đều thuộc hệ thần kinh ngoại biên. 12 dây thần kinh sọ não là các dây thần kinh xuất phát từ não. Sợi trục của các đôi thần kinh này kéo dài khỏi não bộ, chi phối nhiều bộ phận khác nhau trong cơ thể.

1. Phân loại dây thần kinh sọ

Tên 12 đôi dây thần kinh sọ não gồm:

Dây thần kinh khứu giác (I).

Dây thần kinh thị giác (II).

Thần kinh vận nhãn (III).

Dây thần kinh ròng rọc (IV).

Dây thần kinh sinh ba (V).

Thần kinh vận nhãn ngoài (VI).

Dây thần kinh mặt (VII).

Dây thần kinh tiền đình – ốc tai (VIII).

Thần kinh thiệt hầu (IX).

Dây thần kinh lang thang (X).

Dây thần kinh phụ (XI).

Thần kinh hạ thiệt (XII).

12 dây thần kinh sọ não phân ra làm 3 loại:

Các dây thần kinh số V, VII, IX, X là các dây thần kinh hỗn hợp.

Dây I, II, VIII là các dây thần kinh cảm giác.

Các dây III, IV, VI, XI, XII là các dây thần kinh vận động.

Các dây thần kinh sọ đa số đều thuộc hệ thần kinh ngoại biên, ngoại trừ dây sọ II. Dây thần kinh thị giác thật ra không phải là một dây thần kinh thật sự mà là một đường thần kinh của gian não dẫn đến võng mạc. Cả dây thần kinh thị giác và võng mạc đều là một phần của hệ thần kinh trung ương. Sợi trục của 12 dây thần kinh còn lại kéo dài ra khỏi não bộ và do đó được coi là thuộc hệ thần kinh ngoại biên.

2. Cấu tạo của dây thần kinh sọ

Cấu tạo chung của một dây thần kinh sọ

Một nhân trung ương ở trong não bộ. Nơi này là nguyên ủy (nơi bắt đầu) thật của nhánh vận động. Và nó cũng là tận cùng của nhánh cảm giác trong các dây thần kinh sọ.

Nguyên ủy hư. Một chỗ đi ra khỏi bề mặt của não bộ, vị trí này gọi là nguyên ủy hư của dây thần kinh sọ. Đây là các lỗ trên nền xương sọ, nơi các dây thần kinh sọ từ não đi xuống phía dưới.

Hạch ngoại biên. Dây thần kinh tiền đình – ốc tai (VIII) và các nhánh cảm giác của dây thần kinh hỗn hợp có hạch ngoại biên là nơi tập trung nhân của các tế bào cảm giác ở bên ngoài não bộ. Vị trí này là nguyên ủy thật của phần cảm giác.

Dây thần kinh khứu giác (I) và dây thần kinh thị giác (II) thật ra là phần phát triển dài ra của não bộ nên không có hạch thần kinh ngoại biên như các dây thần kinh cảm giác và hỗn hợp khác.

Cấu tạo 12 dây thần kinh sọ não

Dây thần kinh khứu giác (I)

Dây thần kinh khứu giác gồm những sợi trục của tế bào khứu giác nằm ở niêm mạc mũi. Các sợi này tập hợp lại đi qua lỗ sàng của xương bướm vào hành khướu của não. Tới đây, nó tiếp nối với các tế bào thần kinh của hành khửu.

Dây thần kinh thị giác (II)

Dây thần kinh thị giác là tập hợp sợi trục của các tế bào nằm ở tầng tế bào hạch của võng mạc. Các sợi hội tụ ở gần cực sau của nhãn cầu. Từ đây, dây thần kinh đi ra sau nhãn cầu, qua ống thị giác để vào hố sọ giữa. Điểm tận cùng là trung tâm thị giác ở vỏ não.

Dây thần kinh vận nhãn (III)

Dây thần kinh vận nhãn xuất phát từ trung não, chạy ra phía trước, nằm ở thành ngoài của xoang tĩnh mạch hang. Nó tiếp tục đi đến khe ổ mắt trên và chạy vào ổ mắt. Ở ổ mắt chia thành hai nhánh: nhánh trên và nhánh dưới.

Dây thần kinh ròng rọc (IV)

Có nguyên ủy thật nằm ở trung não, nguyên ủy hư ở mặt sau trung não. Dây thần kinh vòng qua cuống đại não để đi ra trước, vào thành ngoài xoang tĩnh mạch hang. Từ đó qua khe ổ mắt trên vào ổ mắt.

Dây thần kinh sinh ba (V)

Phần cảm giác dây thần kinh sinh ba có nguyên ủy thật nằm ở mặt trước phần đá xương thái dương. Nó đi qua mặt trước bên của cầu não vào trong thân não. Các đuôi gai tạo nên ba nhánh là nhánh thần kinh mắt, nhánh thần kinh hàm trên và hàm dưới. Nguyên ủy thật phần vận động nằm ở cầu não. Các sợi trục khi ra khỏi cầu não tạo nên rễ vận động của dây thần kinh sinh ba.

Dây thần kinh vận nhãn ngoài (VI)

Có nguyên ủy thật ở cầu não, nguyên ủy hư ở rãnh hành cầu. Từ rãnh hành cầu, dây thần kinh chạy ra trước qua xoang tĩnh mạch hang, vào ổ mắt.

Dây thần kinh mặt (VII)

Có nguyên ủy thật ở cầu não, các sợi thần kinh mặt chạy vòng lấy dây thần kinh số VI. Sau đó chạy ra rãnh hành cầu, chạy qua ốc tai trong rồi chia ra nhiều nhánh thần kinh nhỏ: dây thần kinh đá lớn, dây thần kinh thừng nhĩ…

Dây thần kinh tiền đình – ốc tai (VIII)

Được cấu tạo bởi hai phần riêng biệt là phần tiền đình và phần ốc tai. Cả hai phần đều có hạch thần kinh nằm ở tai trong là hạch tiền đình và hạch xoắn ốc tai. Sợi hướng tâm của hai hạch này chạy bên nhau trong ống tai trong. Nó vào xoang sọ hướng về rãnh hành cầu, để vào cầu não là nơi chứa các nhân của nó. Từ các nhân này, sợi thần kinh truyền thính giác đi đến vùng trung khu thính giác ở vỏ não.

Dây thần kinh thiệt hầu (IX)

Dây thần kinh qua lỗ cảnh để ra khỏi sọ, phình to ra tạo thành hạch trên và hạch dưới. Nó vòng ra phía trước và tận cùng ở rễ lưỡi. Trên đường đi, dây thần kinh chia thành nhiều nhánh nhỏ để đến lưỡi, niêm mạc hầu, hòm nhĩ, tuyến nước bọt, xoang cảnh, tiểu thể cảnh.

Dây thần kinh lang thang (X)

Là dây thần kinh lớn nhất trong 12 dây thần kinh sọ. Nó ra khỏi sọ qua lỗ tĩnh mạch cảnh, sau đó chạy trong bao cảnh cùng động mạch cảnh trong, động mạch cảnh chung và tĩnh mạch cảnh trong đến nền cổ. Từ nền cổ đi đến trung thất vào trung thất sau. Ở đây, hai dây thần kinh lang thang phải và trái tập hợp thành đám rối thực quản. Từ đám rối này chia ra hai thân thần kinh để xuống bụng.

Dây thần kinh phụ (XI)

Có nguyên ủy thật gồm hai phần, một phần ở hành não, một phần ở tủy gai. Các sợi thần kinh xuất phát từ hai nguyên ủy này hợp với nhau thành dây thần kinh phụ.

Dây thần kinh hạ thiệt (XII)

Có nguyên ủy thật ở hành não, nguyên ủy hư ở rãnh bên trước hành não. Khi ra khỏi sọ, dây thần kinh hạ thiệt vòng ra trước để điều khiển vận động cho cơ lưỡi.

3. Chức năng của các đôi dây thần kinh sọ

Các dây thần kinh sọ não có chức năng như sau:

Dây thần kinh khứu giác (I): nhận nhiệm vụ về các mùi khi ngửi.

Thần kinh thị giác (II) có nhiệm vụ truyền hình ảnh, cảm giác đồ vật, ánh sáng về não.

Dây thần kinh vận nhãn (III) vận động một số cơ mặt đưa nhãn cầu vào trong và lên xuống tạo cử động mắt, mở mí mắt.

Dây thần kinh ròng rọc (IV) chi phối cử động mắt xuống dưới, ra ngoài.

Thần kinh sinh ba (V) dẫn truyền cảm giác sờ, đau ở vùng mặt, răng, quanh miệng đến não. Điều khiển cơ nhai, chi phối việc tạo nước bọt, nước mắt.

Dây thần kinh vận nhãn ngoài (VI) đưa nhãn cầu liếc ra ngoài.

Dây thần kinh mặt (VII) chi phối vận động khép mi mắt, biểu hiện trên khuôn mặt. Ngoài ra còn cảm giác mùi vị, nhận cảm giác cho tuyến nước mắt, nước bọt.

Thần kinh tiền đình – ốc tai (VIII): phần tiền đình giúp giữ thăng bằng, giữ vững tư thế. Phần ốc tai phụ trách khả năng nghe.

Thần kinh thiệt hầu (IX) có nhiệm vụ vận động cơ vùng hầu, vận động cảm giác 1/3 sau lưỡi.

Dây thần kinh lang thang (X) chi phối cảm giác, vận động phủ tạng ở ổ bụng và ngực (tim, phổi, cơ quan hệ tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục).

Dây thần kinh phụ (XI) giúp vận động thanh quản, cơ than, cơ ức đòn chũm.

Thần kinh hạ thiệt (XII) chi phối vận động cơ lưỡi.

4. Các dấu hiệu thường gặp khi dây thần kinh sọ bị tổn thương

Khi các dây thần kinh sọ bị tổn thương do viêm, chèn ép do khối u, đứt do chấn thương sẽ gây nên nhiều tác động đến cơ thể. Dây thần kinh chịu trách nhiệm chi phối về vận động, cảm giác các cơ quan nào thì khi tổn thương sẽ gây ra bệnh ở cơ quan tương ứng. Các triệu chứng thường gặp là:

Dây thần kinh khứu giác (I) tổn thương gây rối loạn mùi vị và viêm niêm mạc mũi.

Dây thần thị giác (II) tổn thương thường gây rối loạn thị giác, viêm dây thần kinh thị giác, teo dây thần kinh thị giác, bệnh bán manh…

Tổn thương dây thần kinh vận nhãn (III) thường gây lác mắt ra ngoài.

Tổn thương dây thần kinh ròng rọc (IV) thường gây triệu chứng mắt sẽ không đưa được xuống thấp được.

Dây thần kinh sinh ba (V) bị tổn thương thường gây đau dây thần kinh sinh ba. Tức là đau theo vùng chi phối cảm giác của dây thần kinh này.

Dây thần kinh vận nhãn ngoài (VI) bị tổn thương gây lác mắt vào trong.

Tổn thương dây thần kinh mặt (VII) thường gây liệt mặt (liệt dây thần kinh 7 ngoại biên).

Tổn thương dây thần kinh tiền đình – ốc tai (VIII) thường gây viêm dây thần kinh tiền đình và rối loạn tiền đình.

Dây thần kinh lang thang (X) bị tổn thương gây triệu chứng dễ bị nghẹn, sặc thức ăn lỏng.

Dây thần kinh hạ thiệt (XII) tổn thương gây triệu chứng lưỡi bị đẩy sang một bên khi thè lưỡi.

Các đôi dây thần kinh sọ là đường liên kết nối dài từ não bộ tới các cơ quan khác trên cơ thể. Dây thần kinh sọ có vai trò quan trọng trong hoạt động của các cơ quan vùng đầu. Do đó, tổn thương đầu, tai biến mạch máu não rất hay gây triệu chứng của dây thần kinh sọ. Bạn nên nắm rõ cấu trúc, chức năng và triệu chứng của tổn thương thần kinh sọ để có thể đến khám và được điều trị kịp thời.

Hệ Thần Kinh Giao Cảm: Cấu Trúc Và Chức Năng

1. Khái quát về hệ thần kinh giao cảm – SNS

Hệ thần kinh giao cảm (SNS) là một trong hai bộ phận chính của hệ thần kinh tự chủ, bộ phận còn lại là hệ thần kinh phó giao cảm. Hệ thống thần kinh tự chủ có chức năng điều chỉnh các hành động vô thức của cơ thể. Quá trình chính của hệ thần kinh giao cảm là kích thích cơ thể chiến đấu hoặc phản ứng lại.

Tuy nhiên, nó liên tục hoạt động ở mức cơ bản để duy trì cân bằng nội động lực nội môi. Hệ thần kinh SNS được mô tả là đối lập với hệ thần kinh phó giao cảm. Đây là hệ thần kinh kích thích cơ thể “kiếm ăn và sinh sản”. Sau đó là nghỉ ngơi và tiêu hóa.

2. Cấu trúc của hệ thần kinh giao cảm

2.1. Cấu trúc chung

2.2. Một số ngoại lệ

Các tế bào thần kinh hậu hạch của tuyến mồ hôi giải phóng Acetylcholine để kích hoạt các thụ thể muscarinic. Ngoại trừ các vùng da dày, lòng bàn tay và bề mặt bàn chân. Đây là những nơi mà Norepinephrine được giải phóng và hoạt động trên các thụ thể Adrenergic.

Tế bào ưa Crom của tủy thượng thận tương tự như tế bào thần kinh hậu hạch. Tuỷ thượng thận phát triển song song với hệ thần kinh giao cảm và hoạt động như một hạch giao cảm biến đổi. Trong tuyến nội tiết này, tế bào thần kinh tiền hạch tiếp hợp với tế bào ưa Crom. Từ đó kích hoạt giải phóng hai chất dẫn truyền: Về cơ bản là Epinephrine một tỷ lệ nhỏ norepinephrine.

Các dây thần kinh giao cảm sau khi kết thúc trong thận giải phóng Dopamine. Chất này hoạt động trên các thụ thể dopamine D1 của mạch máu để kiểm soát lượng máu mà thận lọc. Dopamine là tiền chất chuyển hóa tức thì của Norepinephrine, nhưng vẫn là một phân tử tín hiệu riêng biệt.

3. Chức năng của hệ thần kinh giao cảm

3.1. Tại mắt

Sự kích hoạt giao cảm làm cho cơ hướng tâm của mống mắt (α1) co lại, dẫn đến giãn đồng tử, cho phép nhiều ánh sáng đi vào hơn. Hơn nữa, cơ thể mi (β2) giãn ra, cho phép cải thiện tầm nhìn xa.

3.2. Tại tim

Hoạt hóa của hệ giao cảm làm tăng nhịp tim, tăng lực co bóp và tốc độ dẫn truyền. Từ đó cho phép tăng cung lượng tim để cung cấp máu có oxy cho cơ thể.

3.3. Tại phổi

Kích hoạt hệ thần kinh SNS sẽ xảy ra hiện tượng giãn phế quản (thông qua thụ thể β2) và giảm tiết dịch phổi (α1, β2). Từ đó cho phép nhiều luồng không khí qua phổi hơn.

3.4. Dạ dày và ruột

Kích hoạt hệ giao cảm sẽ làm giảm nhu động (α1, β2) và co thắt cơ vòng (α1). Cũng như co bóp túi mật (β2) xảy ra. Từ đó làm chậm quá trình tiêu hóa để chuyển năng lượng đến các bộ phận khác của cơ thể.

3.5. Tuyến tụy nội tiết và ngoại tiết

Hệ thần kinh giao cảm tác động đến tuyến tụy nội tiết và ngoại tiết thông qua 2 thụ thể α1 và α2. Từ đó có tác dụng giảm tiết cả enzym và hormon insulin.

3.6. Bàng quang

Kích hoạt hệ giao cảm có sự giãn của cơ mu bàng quang và sự co thắt của cơ vòng niệu đạo (β2). Từ đó dẫn đến tác dụng giảm bài xuất nước tiểu. Hoạt hóa mạnh hệ giao cảm sẽ gây ứ nước tiểu ở bàng quang và bí tiểu.

3.7. Những tác động của hệ thần kinh giao cảm không đối lập với hệ phó giao cảm

Có sự co thắt mạnh thông qua thụ thể α1 trong các tiểu động mạch của da, nội tạng bụng và thận. Đồng thời co thắt yếu qua thụ thể α1 và β2 trong cơ vân.

Ở gan, tăng phân hủy Glycogen và tăng tân tạo đường (α1 và β2) xảy ra để cho phép glucose có sẵn để cung cấp năng lượng cho cơ thể.

Tại lá lách, có một sự co lại (α1).

Tuyến mồ hôi và cơ dựng lông (muscarinic) có tác dụng tăng tiết mồ hôi và dựng đứng lông giúp hạ nhiệt cơ thể.

Tủy thượng thận (thụ thể nicotinic) tăng giải phóng epinephrine và norepinephrine để hoạt động ở những nơi khác trong cơ thể.

4. Phôi học hệ thần kinh giao cảm

Các tế bào thần kinh của hệ thần kinh tự chủ ngoại vi bao gồm cả hệ thần kinh giao cảm và hệ thần kinh phó giao cảm. Tất cả phát sinh từ các tế bào mào thần kinh bắt nguồn từ giữa ngoại bì thần kinh và không thần kinh. Chúng tạo thành các nếp gấp lưng thần kinh khi chính các nếp gấp tạo thành ống thần kinh.

5. Những thay đổi sinh lý của hệ thần kinh giao cảm

Lão hóa có nhiều tác động khác nhau đến hệ thần kinh giao cảm. Nghiên cứu đã chứng minh rằng khi tuổi càng cao thì các chất áp cảm thụ quan của tim giảm và trở nên kém nhạy hơn. Có sự gia tăng bù trừ trong hoạt động của hệ SNS lên tim mạch và giảm hoạt động của hệ phó giao cảm.

Tuy nhiên, cả hoạt động thần kinh giao cảm và phó giao cảm đối với mống mắt đều giảm khi lão hóa. Điều này phù hợp với sự suy giảm chung của chức năng thần kinh soma ngoại vi.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức cơ bản của nồng độ noradrenaline tăng lên theo tuổi tác dẫn đến hoạt hóa SNS cơ bản cao. Trong khi khả năng phản ứng trở nên giảm khi lão hóa. Sự gia tăng hoạt hóa này đóng một vai trò nào đó, trong số các quá trình bệnh khác, trong cả tăng huyết áp do tuổi tác và suy tim.

6. Ý nghĩa lâm sàng của hệ thần kinh giao cảm

Ý nghĩa lâm sàng của hệ thần kinh giao cảm là rất lớn vì nó ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan.

6.1. U tế bào thần kinh nội tiết

Đây là những khối u phát sinh từ các tế bào ưa Crom có trong tủy thượng thận. Hoặc tế bào cận hạch thần kinh tiết ra một lượng dư thừa Catecholamine (norepinephrine, epinephrine). Do sự giải phóng Catecholamine dư thừa này, các triệu chứng phần lớn là do hoạt hóa giao cảm. Chẳng hạn như tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, tăng đường huyết và tăng tiết mồ hôi.

6.2. Rối loạn cương dương

Cương cứng là kết quả của hệ thần kinh phó giao cảm. Ở trạng thái nghỉ ngơi, hệ giao cảm chiếm ưu thế nên dương vật vẫn mềm. Tuy nhiên, nếu các sợi giao cảm của dương vật bị tổn thương thì khả năng cương cứng kéo dài hơn 4 giờ. Được gọi là chứng cương cứng kéo dài. Nó có thể xảy ra và dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho dương vật.

Tình trạng này có thể là hậu quả của tổn thương tủy sống hoặc dây thần kinh cột sống khi đầu vào giao cảm bị tổn thương. Và tác động phó giao cảm chiếm ưu thế. Mặt khác, thần kinh giao cảm cũng góp phần vào chức năng tình dục bình thường của một người đàn ông. Sự kích thích giao cảm của bộ phận sinh dục nam gây ra sự phóng tinh.

6.3. Bệnh thần kinh do đái tháo đường

Bệnh thần kinh tự chủ do đái tháo đường là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh thần kinh giao cảm. Sự suy giảm giao cảm này có thể dẫn đến suy giảm lưu lượng máu ở mạch vành cơ tim và giảm sức co bóp của cơ tim.

Bệnh thần kinh do đái tháo đường đóng một vai trò quan trọng trong tỷ lệ mắc và tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường týp 1 và týp 2. Đồng thời, nó gây ra rối loạn chức năng của nhiều hệ thống. Bao gồm tim, hệ tiêu hóa, hệ thống sinh dục và chức năng tình dục.

6.4. Các bệnh lý tâm thần

Rối loạn chức năng giao cảm cũng là nguyên nhân dẫn đến các tình trạng sức khỏe tâm thần. Chẳng hạn như lo lắng, trầm cảm và căng thẳng mãn tính. Trong thời gian ngắn, phản ứng căng thẳng về thể chất của cơ thể có thể hữu ích và giúp tăng cường tập trung tinh thần.

Tuy nhiên, nếu tình trạng căng thẳng kéo dài, các tín hiệu căng thẳng lan tỏa khắp cơ thể sẽ gây hại đến cơ thể. Bên cạnh việc duy trì cảm giác căng thẳng liên tục về tinh thần, Epinephrine và Cortisol tăng cao còn làm hỏng mạch máu, tăng huyết áp và thúc đẩy sự tích tụ chất béo.

6.5. Hội chứng đau vùng phức hợp

Mặc dù có nhiều dạng lâm sàng khác nhau, CRPS thường biểu hiện như một biến chứng của chấn thương đối với dây thần kinh và / hoặc cơ. Xảy ra sau phẫu thuật (ví dụ như phẫu thuật giải phóng ống cổ tay). Hoặc do vận động quá mức.

6.6. Thủ thuật cắt dây thần kinh giao cảm

Thủ thuật cắt dây thần kinh giao cảm có tên tiếng Anh là Sympathectomy. Sâu bên trong lồng ngực của bạn, một cấu trúc được gọi là chuỗi thần kinh giao cảm chạy lên và xuống dọc theo cột sống của bạn. Nó là một phần của hệ thống thần kinh chịu trách nhiệm về phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy. Trong khi phẫu thuật cắt bỏ giao cảm, bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt hoặc kẹp chuỗi dây thần kinh này.

Quy trình này được sử dụng để điều trị một tình trạng gọi là chứng tăng tiết mồ hôi hoặc đổ mồ hôi nhiều bất thường. Xảy ở lòng bàn tay, mặt, nách và đôi khi ở bàn chân. Nó cũng được sử dụng để điều trị chứng đỏ mặt, một số tình trạng đau mãn tính và hội chứng Raynaud.

Nói chung, hệ thần kinh giao cảm và hệ thần kinh phó giao cảm là hai phần chính của hệ thần kinh tự chủ. Chúng tác động lên rất nhiều cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể. Bất kỳ một rối loạn hoặc tổn thương nào của một trong hai hệ này đều gây ra những bệnh lý nhất định và cần phải được điều trị.

Bác sĩ Nguyễn Lâm Giang