Cấu Tạo Từ Là Gì Lớp 4 / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Nhatngukohi.edu.vn

Cấu Tạo Khẩu Trang Y Tế 2 Lớp, 3 Lớp, 4 Lớp, 5 Lớp Khác Nhau Thế Nào?

Lợi ích khi đeo khẩu trang y tế

Tình trạng ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn có đông dân cư không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới đường hô hấp mà còn khiến làn da và sức khỏe của bạn bị giảm sút. Bên cạnh đó, những dịch bệnh hô hấp diễn biến phức tạp như dịch COVID-19 khiến nhiều người lo lắng và tìm cách chủ động phòng chống, trong đó, việc đeo khẩu trang là một trong những hành động tuy đơn giản nhưng hiệu quả phòng bệnh lại rất cao.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại khẩu trang khác nhau để bạn có thể lựa chọn sử dụng nhưng khẩu trang y tế vẫn là sản phẩm bán chạy nhất bởi sự tiện dụng và an toàn của nó. Khẩu trang y tế gồm nhiều lớp có nhiều công dụng khác nhau như: Chống nước, ngăn cản giọt bắn từ cơ thể phát tán ra ngoài môi trường, kháng khuẩn, lọc bụi mịn… được cho là có nhiều hiệu quả hơn so với khẩu trang vải bình thường. Hơn nữa, khẩu trang y tế thiết kế rất tiện dụng và gọn nhẹ, bạn có thể dễ dàng mang theo bên người, sau khi sử dụng người dùng chỉ cần vứt vào sọt rác, không cần giặt phơi mất nhiều thời gian.

Cấu tạo khẩu trang y tế

Với thiết kế khác hoàn toàn so với các loại khẩu trang vải thông thường, khẩu trang y tế thường có từ 2 – 5 lớp khác nhau.

Khẩu trang y tế 2 lớp

y tế 2 lớp là loại khẩu trang y tế mỏng nhất, ít lớp nhất cũng như có ít công dụng nhất. Cấu tạo khẩu trang y tế này thường chỉ có 2 lớp là lớp vải không dệt chống thấm nước bên ngoài và một lớp vải không dệt hút ẩm bên trong. Vì vậy, khẩu trang y tế 2 lớp chỉ có tác dụng chống lại các loại bụi hạt lớn như đất, cát chứ không có tác dụng trong việc chống virus, vi khuẩn hay bụi mịn. Loại khẩu trang này thường có thiết kế khá mỏng, một số có thể nhìn xuyên thấu qua lớp vải khẩu trang nên mức giá cũng rẻ nhất trong số các loại khẩu trang y tế.

Khẩu trang y tế 3 lớp

Khẩu trang y tế 3 lớp là loại khẩu trang y tế phổ biến và được dùng nhiều nhất hiện nay. Cấu tạo khẩu trang y tế 3 lớp thuộc dạng phòng hộ cơ bản với:

Lớp ngoài cùng là vải không dệt chống thấm nước giúp ngăn không cho nước thấm vào bên trong cũng như chặn lại hầu hết bụi bẩn kích thước lớn, lớp này thường là lớp có màu để phân biệt với lớp hút ẩm trong cùng.

Tiếp theo đó là một lớp vải lọc kháng khuẩn làm bằng sợi Polymer, có khả năng hạn chế tối đa các loại vi khuẩn có hại và bụi bẩn kích thước nhỏ hơn 10 micromet.

Lớp cuối cùng là một lớp vải không dệt có khả năng hút ẩm mạnh, giúp ngăn chặn giọt bắn từ mũi, miệng của người sử dụng khi nói, ho, hắt hơi… phát tán ra xung quanh.

Khẩu trang y tế 3 lớp là loại được sử dụng nhiều trong các bệnh viện, trung tâm y tế cộng đồng, khu cách ly y tế tập trung… bởi có giá thành rẻ lại vừa đủ đáp ứng các biện pháp phòng bệnh cơ bản nhất.

Khẩu trang y tế 4 lớp

Nhằm tăng cường khả năng lọc bụi cho khẩu trang y tế, các nhà sản xuất đã cho ra đời dòng khẩu trang y tế 4 lớp, cụ thể gồm: Lớp vải không dệt chống thấm nước ở ngoài cùng, sau đó là một lớp vải lọc bụi, kháng khuẩn, sau nữa là một lớp than hoạt tính và kết thúc bằng một lớp hút ẩm chống mốc.

Nhìn chung, khẩu trang y tế 4 lớp không có nhiều khác biệt so với khẩu trang y tế 3 lớp, khác biệt lớn nhất nằm ở lớp vải lọc bằng than hoạt tính. Than hoạt tính từ lâu đã được sử dụng trong việc xử lý các tạp chất trong nước, không khí… Vì vậy, nó cũng được ứng dụng trong sản xuất khẩu trang để gia tăng thêm tác dụng lọc bụi mịn và ngăn một số loại hóa chất, khí độc như: CO 2 , SO 2 , H 2 S… thông qua đó giảm thiểu tối đa các tác nhân gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người.

Khẩu trang than hoạt tính hiện nay thường được chia làm 2 loại chính bao gồm: Loại có tấm ép than hoạt tính được đặt vào giữa 2 lớp vải và loại có lớp vải dệt từ sợi hoạt tính, được may liền với nhau.

Khẩu trang y tế 5 lớp

So với các loại khẩu trang y tế có 2, 3 hoặc 4 lớp thì khẩu trang y tế 5 lớp là một bước tiến đem lại nhiều tác dụng ưu việt hơn. Cấu tạo khẩu trang y tế 5 lớp phổ biến nhất hiện nay bao gồm các lớp: Lớp thoáng, lớp than hoạt tính, lớp lọc bụi tĩnh điện (bụi mịn PM2.5), lớp lọc bụi nhỏ, lớp vải không dệt chống thấm nước.

Điểm nổi bật của khẩu trang 5 lớp là ở lớp lọc bụi tĩnh điện có thể loại bỏ bụi mịn PM2.5, loại bụi có kích thước siêu nhỏ, khi đi vào cơ thể và xâm nhập vào tế bào theo đường máu sẽ phá hủy cơ chế tự miễn dịch của cơ thể, gây nhiều bệnh cấp tính và tổn thương vĩnh viễn đến các cơ quan quan trọng như phổi, tim, não…

Mặc dù là một sản phẩm không thể thiếu trong thời gian dịch bệnh hô hấp bùng phát nhưng nếu bạn sử dụng khẩu trang y tế không đúng cách, rất có thể sẽ làm phản tác dụng và đẩy nguy cơ nhiễm bệnh cho bản thân và cộng đồng lên cao hơn. Vì vậy, khi sử dụng khẩu trang, bạn nên lưu ý những vấn đề sau:

Lựa chọn khẩu trang của những đơn vị sản xuất uy tín, có bao bì nhãn mác đầy đủ, rõ ràng về mặt thông tin, không nên mua các loại khẩu trang trôi nổi không rõ nguồn gốc.

Chỉ sử dụng khẩu trang y tế một lần, không tái sử dụng nhiều lần.

Đeo khẩu trang y tế đúng cách, che kín mũi miệng để ngăn chặn virus, vi khuẩn xâm nhập qua các khe hở, không kéo khẩu trang xuống dưới cằm khi nói chuyện, ăn uống.

Khi đeo khẩu trang phải để mặt xanh ra ngoài do mặt màu xanh có tính chống nước, các giọt nước bọt lớn bắn vào sẽ không thấm vào trong, có thể rơi xuống. Mặt màu trắng có tính hút ẩm nên quay vào trong, để hơi thở thoát ra thấm vào khẩu trang. Khẩu trang phải che kín cả mũi lẫn miệng.

Tuyệt đối không dùng tay chạm vào bề mặt khẩu trang y tế khi đang đeo, kể cả việc chỉnh sửa lại vị trí, bởi đây rất có thể là nơi tồn tại của vi khuẩn, virus có hại. Bàn tay của bạn rất có thể sẽ vô tình lây nhiễm virus và các tác nhân gây bệnh khác, sau đó truyền bệnh lại cho chính mình và những người xung quanh. Nếu muốn tháo khẩu trang, bạn nên tháo bằng cách cầm vào hai bên quai đeo của khẩu trang rồi kéo ra khỏi tai.

Sau khi tháo khẩu trang, bạn nên vứt vào thùng rác theo đúng quy định rồi rửa tay thật sạch bằng xà phòng trong ít nhất 20 giây.

Có thể thấy, dù cấu tạo có nhiều lớp khác nhau nhưng công dụng chủ yếu của các loại khẩu trang y tế vẫn là kháng bụi, kháng các loại vi khuẩn, virus xâm nhập vào cơ thể theo đường hô hấp.

Mặc dù chúng đem lại khá nhiều lợi ích cho người sử dụng nhưng trên cơ bản, đây không phải là biện pháp triệt để nhất để ngăn chặn virus trong thời điểm diễn ra dịch bệnh mà chỉ là một trong số những biện pháp phòng ngừa. Vì vậy, người sử dụng không nên chủ quan, phụ thuộc vào khẩu trang y tế mà bỏ qua những biện pháp vệ sinh khác như rửa tay bằng xà phòng, ăn chín uống sôi…

Hơn nữa, trong mùa dịch bệnh, các loại vật tư y tế thường được ưu tiên huy động tối đa cho lực lượng y bác sĩ và nhân viên y tế, vì vậy chúng ta càng không nên sử dụng khẩu trang y tế một cách bừa bãi, gây ra tình trạng khan hiếm vật tư y tế cũng như thải ra ngoài môi trường một lượng lớn rác thải y tế độc hại, gây gánh nặng cho việc tiêu hủy các sản phẩm này.

Thay vào đó, chúng ta có thể sử dụng các loại khẩu trang vải kháng khuẩn có thể tái sử dụng nhiều lần. Các loại khẩu trang vải hiện nay cũng được nghiên cứu và sản xuất trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết kế với nhiều lớp vải lọc có công dụng tương tự với khẩu trang y tế, vì vậy bạn có thể yên tâm sử dụng.

Giải Hóa Lớp 10 Bài 4: Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử

Giải Hóa lớp 10 bài 4: Cấu tạo vỏ nguyên tử

Bài 1:

Một nguyên tử M có 75 electron và 110 notron. Kí hiệu của nguyên tử M là:

Lời giải:

A đúng. Z = 75, số khối A = 75 + 110 = 185

Bài 2:

Nguyên tử nào trong các nguyên tử sau đây chứa đồng thời 20 notron, 19 proton và 19 electron?

Câu trả lời B đúng. Hạt chứa 20 notron và 19 proton và 19 electron. Suy ra Z = 19, số khối A = 19 + 20 = 39.

Bài 3:

Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử flo là 9. Trong nguyên tử flo, số electron ở mức năng lượng cao nhất là:

A. 2.

B. 5.

C. 9.

D. 11.

Lời giải:

B đúng.

Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử flo là 9, suy ra flo có 9 electron phân bố vào các phân lớp như sau: 1s 22s 22p 5. Vậy flo có 5 electron ở mức năng lượng cao nhất.

Bài 4:

Các electron của nguyên tử nguyên tố X được phân bố trên 3 lớp, lớp thứ ba có 6 electron. Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử X là:

A. 6

B. 8

C. 14

D. 16

Hãy chọn đáp số đúng.

Lời giải: D đúng.

Các electron của nguyên tử nguyên tố X được phân bố trên 3 mức năng lượng, lớp thứ 3 có 6 electron, như vậy có sự phân bố như sau 1s 22s 22p 63s 23p 4.

Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử X là 16+.

Bài 5:

a) Thế nào là lớp và phân lớp electron ? Sự khác nhau giữa lớp và phân lớp electron?

b) Tại sao lớp N chứa tối đa 32 electron.

Lời giải:

a) Lớp: Cho biết số nguyên tố trong cùng chu kì.

Phân lớp: Cho biết số obitan và số electron tối đa trong một phân lớp. 

Lớp và phân lớp khác nhau ở điểm: Lớp cho biết số nguyên tố trong chu kì, còn phân lớp cho biết số obitan và số electron tối đa.

Bài 6:

– Hãy xác định số proton, số proton trong hạt nhân và số electron ở vỏ electron của nguyên tử.

– Hãy xác định sự phân bố electron trên các lớp.

Lời giải:

Z= 18 suy ra trong hạt nhân Ar có 18p và 22n (40 – 18), lớp vỏ electron của nguyên tử có 18e được phân bố như sau: 1s 22s 22p 63s 23p 6.

Chuyên mục: Giải bài tập Hóa học lớp 10

Luyện Từ Và Câu Lớp 4: Từ Đơn Và Từ Phức

Giải bài tập SGK Tiếng Việt 4 trang 28

Luyện từ và câu: Từ đơn và từ phức

Soạn bài Luyện từ và câu lớp 4: Từ đơn từ phức là lời giải phần Luyện từ và câu SGK Tiếng Việt 4 trang 28 được VnDoc biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4. Lời giải bài tập tiếng Việt 4 này sẽ giúp các em học sinh ôn tập, củng cố các dạng bài tập môn Tiếng Việt lớp 4. Mời các em cùng tham khảo.

Từ đơn từ phức là gì?

1. Từ đơn là gì?

Từ đơn là từ có một âm tiết/một tiếng tạo thành. Thành phần cấu tạo ra từ đơn có nghĩa cụ thể.

Ví dụ về từ đơn: xa, nhớ, yêu, đường, xe, nhà…

Cấu tạo đơn giản dẫn đến nghĩa của từ đơn cũng đơn giản.

2. Từ phức là gì?

Từ đơn là từ do một tiếng có nghĩa tạo nên. Từ phức là từ do hai hoặc nhiều tiếng tạo nên. Hiểu một cách đơn giản, từ phức chính là từ ghép. Ghép từ các tiếng giống nhau hoặc khác nhau tạo thành một từ có nghĩa. Khái niệm từ phức là gì chỉ đơn giản như trên.

Đặc điểm của từ phức:

– Từ phức chính là từ ghép

– Từ phức là từ do nhiều tiếng tạo thành.

Ví dụ về từ phức: Vui vẻ, xinh xắn, câu lạc bộ, vô tuyến truyền hình…

Có thể thấy từ phức được chia thành 2 loại từ mà chúng ta hiểu rõ hơn đó là từ ghép và từ láy.

Từ đơn từ phức Lời giải Luyện từ và câu phần Nhận xét

Câu sau đây có 14 từ, mỗi từ được phân cách bằng một dấu gạch chéo:

Nhờ / bạn / giúp đỡ /, lại / có / chí / học hành /, nhiều / năm / liền /, Hạnh / là / học sinh / tiên tiến /

Theo Mười năm cõng bạn đi học  

Câu 1. Hãy chia các từ trên thành hai loại:

– Từ chỉ gồm một tiếng (từ đơn). M: nhờ

– Từ gồm nhiều tiếng (từ phức). M: giúp đỡ

Câu 2. Theo em:

– Tiếng dùng để làm gì?

– Từ dùng để làm gì?

Câu 1. Hai loại từ:

– Từ chỉ gồm một tiếng (từ đơn): nhờ, bạn, lại, có, chí, nhiều, năm, liền, Hạnh, là.

– Từ gồm nhiều tiếng (từ phức): giúp đỡ. học hành, học sinh, tiên tiến.

Câu 2. Theo em:

– Tiếng dùng (để cấu tạo từ: Có thể dùng một tiếng để tạo nên một từ. Đó là từ đơn. Cũng có thể phải dùng từ 2 tiếng trở lên để tạo nên một từ. Đó là từ phức.

Từ được dùng để cấu tạo câu. Từ nào cũng có nghĩa.

Từ đơn từ phức Lời giải Luyện từ và câu phần Luyện tập

Câu 1 (trang 28 sgk Tiếng Việt 4)

Chép vào vở đoạn thơ và dùng dấu gạch chéo để phân cách các từ trong hai câu thơ cuối đoạn. Ghi lại các từ đơn, từ phức trong đoạn thơ:

Chỉ/còn/truyện cổ/thiết tha/

Cho/tôi/nhận mặt/ông cha/của/mình

Rất công bằng rất thông minh

Vừa độ lượng lại đa tình đa mang

Gợi ý:

– Từ gồm một tiếng gọi là từ đơn.

– Từ gồm hai hay nhiều tiếng gọi là từ phức.

Chỉ/còn/truyện cổ/thiết tha/

Cho/tôi/nhận mặt/ông cha/của/mình

Rất/công bằng/ rất/thông minh/

Vừa/độ lượng/lại/đa tình/ đa mạng/

– Từ đơn: rất, vừa, lại

– Từ phức: công bằng, thông minh, độ lượng, đa tình, đa mạng

Câu 2 (trang 28 sgk Tiếng Việt 4)

Hãy tìm trong từ điển và ghi lại

– 3 từ đơn; 3 từ phức

+ 3 từ đơn: ăn, học, ngủ

+ 3 từ phức: kinh nghiệm, sạch sẽ, nhà cửa

Câu 3 (trang 28 sgk Tiếng Việt 4)

Đặt câu với một từ đơn hoặc với một từ phức tìm được ở trên

Đặt câu như sau

– Từ đơn: “học”

Chị em đang theo học năm thứ ba Đại học Luật ở thành phố Hồ Chí Minh

– Từ phức: “nhà cửa”

Ở xóm em, nhà cửa rất khang trang.

Luyện từ và câu lớp 4: Từ đơn và từ phức được VnDoc sưu tầm, tổng hợp hướng dẫn giải các dạng bài tập về Từ loại cho các em học sinh tham khảo củng cố kỹ năng làm bài Luyện từ và câu lớp 4 chuẩn bị cho các bài kiểm tra trong năm học đạt kết quả cao.

Ngoài ra, các bạn luyện giải bài tập SGK Tiếng Việt 4 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc. Đồng thời các dạng đề thi học kì 1 lớp 4, đề thi học kì 2 lớp 4 các môn Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử, Địa Lý, Tin học mới nhất được cập nhật. Mời các em học sinh, các thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham khảo đề thi, bài tập lớp 4 mới nhất.

Chuyên Đề Luyện Từ Và Câu Lớp 4

LUYỆN TỪ VÀ CÂU

DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU

I/ Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu 1/ Vị trí : 2. Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu : 2.1. Làm giàu vốn từ và phát triển năng lực dùng từ đặt câu cho học sinh. Nhiệm vụ này bao gồm các công việc sau : 2.1.1. Dạy nghĩa từ : 2.1.2. Hệ thống hóa vốn từ : 2.1.3. Tích cực hóa vốn từ : 2.1.4. Dạy cho học sinh biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu, phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp.

I/ Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu :

2.2. Cung cấp một số kiến thức về từ và câu : Phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh một số kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em. Cụ thể đó là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại; các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp. Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho HS.

II. Nội dung dạy học Luyện từ và câu :

1. Chương trình dạy học Luyện từ và câu : Ở lớp 1 chưa có tiết Luyện từ và câu, ở lớp 2 và lớp 3 mỗi tuần có 1 tiết, ở lớp 4 và lớp 5 có 2 tiết mỗi tuần (chưa kể các tuần ôn tập). Phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho HS và trang bị cho các em một số kiến thức về từ, câu. Ở lớp 2 và lớp 3 chỉ trình bày các kiến thức học sinh cần làm quen và nhận biết chúng thông qua các bài tập thực hành. Ở lớp 4 và lớp 5, các kiến thức lí thuyết được học thành tiết riêng. Đó là các nội dung như từ và cấu tạo từ, các lớp từ (đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, nhiều nghĩa), từ loại, câu, các kiểu câu, thành phần câu, dấu câu, biện pháp liên kết câu. Ngoài ra, chương trình còn cung cấp cho HS một số kiến thức ngữ âm – chính tả như tiếng, cấu tạo tiếng. II. Nội dung dạy học Luyện từ và câu (từ) :

II. Tổ chức dạy học luyện từ và câu :1. Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ, câu :

Phân môn LT&C mang tính chất thực hành nên các kiến thức lí thuyết ở đây chỉ được đưa đến cho HS ở mức sơ giản và tập trung chú trọng đến các quy tắc sử dụng từ, câu. Giáo viên phải có biện pháp dạy học để HS không phải học thuộc lòng mà ghi nhớ trên cơ sở những hiểu biết chắc chắn. Ngay cả dạy phần này, giáo viên cũng không nên đi sâu vào giảng giải lí thuyết. Phần Luyện tập là trọng tâm của giờ dạy. Phần này giúp HS củng cố và vận dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào những bài tập cụ thể. 1. Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ, câu :

a/ Các bài tập này có hai nhiệm vụ ứng với hai dạng bài tập : BT nhận diện và BT vận dụng. – Bài tập nhận diện giúp HS nhận ra hiện tượng về từ và câu cần nghiên cứu ở mức yêu cầu thấp, những hiện tượng này được nêu sẵn trong các ngữ liệu khác. Ví dụ “Tìm các danh từ chung và danh từ riêng trong đoạn văn sau : ….” (TV 4 – t1 – tr 58) Mức yêu cầu cao hơn, HS phải tự tìm các hiện tượng về từ vừa học trong vốn tiếng Việt của mình (không tìm trong đoạn văn). Ví dụ “Tìm các từ chỉ trạng thái của các sự vật : dòng thác, lá cờ”. Đây cũng chính là kiểu bài tập hệ thống hóa vốn từ trong các bài tập làm giàu vốn từ. Dựa vào các nội dung lí thuyết về từ có thể chia các bài tập nhận diện thành các bài tập về cấu tạo từ, bài tập về từ loại.1. Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ, câu :

– Bài tập vận dụng tạo điều kiện cho HS sử dụng những đơn vị từ ngữ, ngữ pháp đã học vào hoạt động nói năng của mình. Ví dụ “Hãy viết một câu có dùng tính từ nói về một người bạn hoặc người thân của em. (TV4 – t1 – tr 112) Để chuẩn bị dạy một kiến thức lí thuyết về từ và câu, chúng ta cần đặt khái niệm cần dạy trong hệ thống chương trình để thấy rõ vị trí của nó, đồng thời phải nắm chắc nội dung khái niệm, nghĩa là những dấu hiệu bản chất của nó. Đây cũng chính là nội dung dạy học mà chúng ta cần đưa đến cho học sinh. Chúng ta cần hiểu rằng trước một hiện tượng ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học có thể có những cách lí giải, những giải pháp khác nhau. Dựa vào mục tiêu dạy học của mình, các tác giả SGK đã chọn giải pháp phù hợp.1. Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ, câu :

Đặc biệt, do tính chất thực hành cũng như để phù hợp với đối tượng học sinh nhỏ, nhiều khi nội dung khái niệm ngữ pháp ở tiểu học không hoàn toàn trùng với cách trình bày khái niệm của khoa học tương ứng – Ngôn ngữ học. Chúng ta phải thấy rõ tính “mức độ” này khi tìm hiểu nội dung khái niệm. Mỗi giáo viên cần lập một bảng thứ tự các kiến thức lí thuyết về từ và câu được dạy ở tiểu học, nội dung của chúng để có một cái nhìn tổng quát, chính xác và có “mức độ”. Sau khi đã xác định vị trí nội dung kiến thức và kĩ năng cần cung cấp cho học sinh, GV cần nắm được các bước lên lớp. Chúng ta cùng làm rõ cách dạy bài lí thuyết về từ qua ví dụ sau :1. Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ, câu :

Để phân loại các kiểu từ phức, SGK nhấn mạnh vào cách thức cấu tạo chứ không miêu tả kết quả phân loại: “Có hai cách chính để tạo từ phức là : 1/ Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau. Đó là các từ ghép. M : tình thương, thương mến… 2/ Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau. Đó là các từ láy. M : săn sóc, khéo léo, luôn luôn”. (Tiếng Việt 4 – Tập 1 – trang 39) Cách trình bày như trên mang tính hành dụng, phù hợp hơn với yêu cầu rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh, bởi nó đã chỉ dẫn cách thức tạo từ để từ những tiếng (hình vị) cho sẵn, học sinh dễ dàng tạo ra những từ ghép, từ láy.1. Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ, câu :

Bước đầu tiên của giờ học là bước Nhận xét, thực chất là phân tích ngữ liệu với mục đích làm rõ những dấu hiệu của khái niệm từ ghép, từ láy. Tuỳ vào các nét dấu hiệu được đưa ra, giáo viên cần chọn thao tác phân tích cho phù hợp. Để giúp học sinh nhận diện được từ ghép và từ láy, GV yêu cầu các em xác định mỗi tiếng trong từ có nghĩa hay không có nghĩa. Nếu cả hai tiếng đều có nghĩa thì đó là từ ghép. Nếu có ít nhất một tiếng không có nghĩa và các tiếng trong từ có sự phối âm (chúng giống nhau hoặc là phụ âm đầu, hoặc là vần, hoặc là cả phụ âm đầu và vần) thì đó là từ láy. Phần Ghi nhớ không trình bày như một kết quả có sẵn mà GV chỉ đưa ra thuật ngữ và bằng phương pháp đàm thoại, gợi mở, tiếp tục hướng dẫn HS chuyển những kết quả phân tích ở phần Nhận xét thành những dấu hiệu cần ghi nhớ về từ ghép và từ láy.2. Tổ chức dạy bài thực hành – Bài tập làm giàu vốn từ :

Trong thực tế, những bài tập làm giàu vốn từ không tách rời với các mạch kiến thức về các lớp từ, cấu tạo và từ loại của từ. Đó là các bài tập mở rộng vốn từ theo lớp đồng nghĩa, trái nghĩa, kiểu cấu tạo và từ loại; dạy sử dụng từ không thể tách rời với việc đặt câu. Trong các bài tập theo các mạch kiến thức, dạng bài tập thuần tuý về từ hay câu ít được sử dụng. Ví dụ kiểu bài tập khá phổ biến như : + Đặt câu với một từ cùng nghĩa với từ trung thực hoặc một từ trái nghĩa với từ trung thực (TV4 – tập 1- trang 48). + Viết một đoạn văn khoảng 5 câu về một loại trái cây mà em thích, trong đoạn văn có dùng một số câu kể “Ai thế nào?” (TV4 – t2 – tr 37) Vừa là bài tập về từ, vừa là bài tập về câu. Và cũng không hiếm những bài tập có cả đặc tính phân tích và tổng hợp.2. Tổ chức dạy bài thực hành – Bài tập làm giàu vốn từ :

2.1. Tổ chức dạy bài thực hành – Bài tập làm giàu vốn từ : Làm giàu vốn từ còn được gọi là mở rộng vốn từ, là nhiệm vụ của các bài học có tên gọi “Mở rộng vốn từ”. Nhiệm vụ làm giàu vốn từ bao gồm các công việc dạy nghĩa từ, hệ thống hoá vốn từ và tích cực hoá vốn từ. Đó cũng chính là căn cứ để chia các bài tập làm giàu vốn từ thành ba nhóm lớn : Bài tập dạy nghĩa từ, Bài tập hệ thống hoá vốn từ, Bài tập sử dụng từ (tích cực hoá vốn từ) 2. Tổ chức dạy bài thực hành – Bài tập làm giàu vốn từ :

a. Bài tập dạy nghĩa từ : Để tăng vốn từ cho HS phải cung cấp những từ mới, do đó công việc đầu tiên của dạy từ là làm cho HS hiểu nghĩa từ. Việc dạy nghĩa từ được tiến hành trong tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có dạy nghĩa từ. Ví dụ : Các bài tập đọc thường có mục ghi chú, giải nghĩa các từ ngữ cho HS. Các bài tập dạy nghĩa cũng nhằm mục đích này. Bài tập giải nghĩa từ xuất hiện trong phân môn LT&C không nhiều nhưng việc giải nghĩa từ lại thường xuyên phải thực hiện không chỉ trong giờ LT&C mà trong rất nhiều giờ học khác của môn học Tiếng Việt và các môn học khác.a. Bài tập dạy nghĩa từ :

Để dạy nghĩa từ, trước hết GV phải hiểu nghĩa từ và biết giải nghĩa phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng HS. Ở Tiểu học, người ta thường nêu một số biện pháp giải nghĩa như sau: a.1. Giải nghĩa bằng trực quan : Giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa ra các vật thật, tranh ảnh, sơ đồ… để giải nghĩa từ. Lúc này, vật thật, tranh vẽ, biểu bảng, sơ đồ được dùng để đại diện cho nghĩa của từ. Ví dụ : – GV đưa lá tía tô cho HS xem và nói “Đây là lá tía tô” khi học bài học vần “ia”. – Khi học bài “Rừng thảo quả” cô giáo cho HS xem tranh (hoặc ảnh chụp) rừng thảo quả.a. Bài tập dạy nghĩa từ :

a. Bài tập dạy nghĩa từ :

a.4. Giải nghĩa bằng cách phân tích từ thành các thành tố (tiếng) và giải nghĩa từng thành tố này. Ví dụ : Tổ quốc là từ ghép gốc Hán. Tổ là ông cha ta từ xa xưa, quốc là nước, đất nước. Cách giải nghĩa này có ưu thế đặc biệt khi giải nghĩa từ Hán Việt. Sách giáo khoa không có những bài tập yêu cầu giải nghĩa theo cách phân tích từng thành tố nhưng ý thức được việc nắm nghĩa của các tiếng sẽ làm tăng nhanh chóng vốn từ hơn là nắm nghĩa của từng từ nên trong SGK có rất nhiều bài tập yêu cầu nêu nghĩa của tiếng trong từ và dùng nghĩa của tiếng có trong từ để làm căn cứ phân loại các từ đó. Chúng ta xếp những bài tập này vào nhóm bài tập hệ thống hoá vốn từ và sẽ trình bày sau.a. Bài tập dạy nghĩa từ :

a.5. Giải nghĩa bằng định nghĩa : Giải nghĩa bằng định nghĩa là biện pháp giải nghĩa phổ biến nhất trong SGK. Đây là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung nghĩa (tập hợp các nét nghĩa) bằng một định nghĩa. Ví dụ : “Tự trọng là coi trọng và gìn giữ phẩm giá của mình” (Tiếng Việt 4 – tập 1 – tr 49) Giải nghĩa bằng tập hợp các nét nghĩa là cách dạy nghĩa đầy đủ nhất nhưng là một yêu cầu khó đối với học sinh tiểu học. Vì vậy, các dạng bài tập giải nghĩa bằng định nghĩa trong sách giáo khoa thường xây dựng dưới dạng cho sẵn từ và nghĩa của từ, các định nghĩa về từ, yêu cầu học sinh xác lập sự tương ứng.a. Bài tập dạy nghĩa từ :

Ví dụ 4 : Mỗi câu tục ngữ sau đây khuyên người ta điều gì? a. Lửa thử vàng, gian nan thử sức. b. Nước lã mà vã nên hồ Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan. c. Có vất vả mới thanh nhàn Không dưng ai dễ cầm tàn che cho. (Tiếng Việt 4 – tập 1 – tr 118 – 119) Đây là dạng bài tập khó đối với học sinh tiểu học. Để thực hiện loại bài tập này, HS phải có kĩ năng định nghĩa. Giải nghĩa bằng định nghĩa sẽ làm cho ngôn ngữ và tư duy của HS trở nên rõ ràng và sâu sắc hơn. Càng bắt đầu dạy cho HS định nghĩa từ sớm bao nhiêu thì các em càng biết tư duy chính xác và nói năng đúng đắn sớm bấy nhiêu. Khi định nghĩa từ, cần bảo đảm các yêu cầu sau : nghĩa của từ được định nghĩa cần được rút ra trên những nghĩa đơn giản hơn để tránh sự luẩn quẩn trong định nghĩa. Các thành tố nghĩa của từ được định nghĩa cần đầy đủ nhưng tổ hợp các thành tố nghĩa không quá lớn.a. Bài tập dạy nghĩa từ :

– Bài tập tìm từ cùng lớp từ vựng : Nhóm bài tập hệ thống hoá vốn từ theo các lớp từ vựng có số lượng nhiều, chúng không chỉ có mặt trong các bài học có tên gọi Mở rộng vốn từ mà còn chiếm số lượng lớn trong các bài học theo các mạch kiến thức về từ như các bài Từ đồng nghĩa, Từ trái nghĩa, Từ đồng âm. Ngay từ lớp 2 đã xuất hiện nhiều bài tập kiểu như “Tìm từ cùng nghĩa (gần nghĩa hoặc trái nghĩa) với từ cho sẵn”. Ví dụ : Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau : tốt, ngoan, nhanh, trắng, cao, khoẻ. M : tốt – xấu (Tiếng Việt 2 – tập 1- tr 123) Ở dạng bài tập này bao giờ cũng có từ cho sẵn để làm chỗ dựa cho hoạt động liên tưởng tìm từ của HS. Với những từ cho sẵn có nghĩa trừu tượng, giáo viên cần giải thích nghĩa của từ cho sẵn và nêu các ngữ cảnh sử dụng của từ cho sẵn này. HS chỉ có thể tìm từ đúng yêu cầu khi nắm được nghĩa của từ cho sẵn.b.1. Nhóm bài tập tìm từ :

– Bài tập tìm từ có cùng đặc điểm cấu tạo : Đây là nhóm bài tập mở rộng vốn từ theo đặc điểm cấu tạo. Những bài tập này có số lượng lớn trong SGK Tiếng Việt, đó là các bài tập yêu cầu tìm các từ có tiếng đã cho hoặc dựa vào nghĩa của tiếng để phân loại các nhóm từ. Ý thức được vai trò của đơn vị tiếng (hình vị) trong cấu tạo từ và trong ngữ pháp tiếng Việt nói chung, SGK Tiếng Việt đã sử dụng tối đa việc dạy học sinh nắm nghĩa của từ, tăng vốn từ bằng cách nắm các yếu tố cấu tạo từ nên đã đưa ra rất nhiều bài tập giải nghĩa từ và hệ thống hoá vốn từ theo yếu tố cấu tạo, đặc biệt là với các từ Hán Việt. Ngay từ lớp 2 đã có những bài tập hệ thống hoá vốn từ theo cấu tạo từ yêu cầu HS dựa vào một tiếng cho sẵn để tìm những từ có tiếng đó. Bài tập hệ thống hoá vốn từ theo đặc điểm cấu tạo từ có tác dụng lớn giúp HS mở rộng, phát triển vốn từ. Đó là các bài tập như : Tìm từ : Ví dụ 1 : Tìm các từ – Có tiếng học M : học hành – Có tiếng tập M : tập đọc (TV2 – tập 1 – trang 17) Ví dụ 2 : Ghép các tiếng sau thành những từ có hai tiếng : yêu, thương, quý, mến, kính. M : yêu mến, quý mến. (TV2 – tập 1 – trang 99)b.1. Nhóm bài tập tìm từ :

– Không cho trước các từ mà để HS tự tìm trong vốn từ của mình để điền vào : Ví dụ 1 : Em chọn từ ngữ nào điền vào chỗ trống để tạo thành câu hoàn chỉnh ? a) Cháu … ông bà. b) Con … cha mẹ. c) Em … anh chị. (TV2 – tập 1 – trang 99) Ví dụ 2 : Tìm từ ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống để hoàn chỉnh các thành ngữ sau : a) Khoẻ như …… M : khoẻ như voi b) Nhanh như …. M : nhanh như cắt (TV 4 t2) Bài tập điền từ là kiểu bài tập tích cực hoá vốn từ yêu cầu tính độc lập và tính sáng tạo của HS ở mức độ thấp, vừa sức với tuổi nhỏ. Khi tiến hành giải bài tập, giáo viên hướng dẫn HS nắm nghĩa của các từ đã cho (với bài tập cho sẵn các từ cần điền) và xem xét kĩ đoạn văn có những chỗ trống (đã được giáo viên chép sẵn lên bảng phụ). Giáo viên cho HS đọc lần lượt từng câu của đoạn văn cho sẵn, đến những chỗ có chỗ trống thì dừng lại, cân nhắc xem có thể điền từ nào trong các từ đã cho để câu văn đúng nghĩa, phù hợp với toàn đoạn. Khi đọc lại thấy nghĩa của câu văn, nghĩa của đoạn văn đều thích hợp nghĩa là bài tập đã được giải đúng.c.2. Bài tập thay thế từ :

Bài tập thay thế từ là những bài tập yêu cầu HS thay thế một từ (ngữ) bằng một từ (ngữ) khác cho đúng hoặc hay hơn. Các từ cần thay cũng có thể được cho sẵn hoặc không cho sẵn như bài tập điền từ. Nhiều khi những bài tập thay thế từ được sử dụng kết hợp để dạy các mạch kiến thức về từ, câu. Những bài tập này được sử dụng nhiều để dạy từ đồng nghĩa như: Ví dụ 1 : Tìm từ ngữ trong ngoặc đơn có thể thay thế cho từ quê hương ở đoạn văn sau : Tây Nguyên là quê hương của tôi. Nơi đây, tôi đã lớn lên trong địu vải thân thương của má, trong tiếng ngân vang của dòng thác, trong hương thơm ngào ngạt của núi rừng. (quê quán, quê cha đất tổ, đất nước, giang sơn, nơi chôn rau cắt rốn) (TV3 – tập 1 – trang 89) Ví dụ 2 : Thay từ bảo vệ trong câu sau bằng một từ đồng nghĩa với nó: Chúng em bảo vệ môi trường sạch đẹp. (TV5 – tập 1) Có khi bài tập còn yêu cầu giải thích vì sao từ nào đó có thể hoặc không thể thay thế từ đã cho.

c.3. Bài tập tạo ngữ :

Đây là những bài tập yêu cầu HS tự đặt câu với một từ hoặc một số từ cho trước. Để làm được những bài tập này, HS cần có sự hiểu biết về nghĩa của từ, cách thức kết hợp từ với nhau. Ví dụ : Đặt câu với mỗi danh từ chỉ khái niệm em vừa tìm được. (TV4 – tập 1 – trang 53) Kiểu bài tập này cũng được dùng để dạy các mạch kiến thức về từ và câu, chúng không chỉ có mục đích làm giàu vốn từ mà còn có mục đích dạy mô hình câu. Để làm những bài tập này, trước hết giáo viên cần hướng dẫn HS hiểu nghĩa của những từ đã cho, xét xem từ đó đã được dùng như thế nào trong hoạt động nói năng hàng ngày. Sau đó HS phải đặt được câu với những từ này. Câu phải đúng nghĩa, đúng ngữ pháp. Để đặt được những câu khác nhau, giáo viên cần hướng dẫn HS tự đặt câu hỏi hoặc giáo viên nêu câu hỏi để các em trả lời thành câu. Ví dụ : – “Ngày khai giảng đông vui như thế nào ?”; “Trường em khai giảng vào ngày nào ?”; “Cái gì vàng tươi ?”; “Cái gì xanh ngắt ?”… – Cây này do ai trồng ?; Cây được trồng ở đâu ?; Khi chín quả màu gì ?; Quả còn sống ăn vị như thế nào ? …c.5. Bài tập viết đoạn văn :

Ngoài những yêu cầu như bài tập dùng từ đặt câu, bài tập viết đoạn văn còn yêu cầu HS viết các câu có liên kết với nhau để thành đoạn. Ví dụ : Viết một đoạn văn nói về hoạt động du lịch hay thám hiểm, trong đó có một số từ ngữ em vừa tìm được ở bài tập 1 hoặc bài tập 2. (TV 4 – t2 – tr 117) Đây là một kiểu bài tập khó đối với HS Tiểu học vì nó đồng thời đề ra hai yêu cầu : dùng được các từ ngữ đã nêu và viết một đoạn văn có nội dung chấp nhận được chứ không phải là những câu rời rạc. HS nhiều khi không thể tự xác định được đoạn văn cần viết về đề tài gì nên giáo viên phải cụ thể hoá ra thành từng nhiệm vụ rõ ràng hơn. c.6. Bài tập chữa lỗi dùng từ :

Bài tập chữa lỗi dùng từ là bài tập đưa ra những câu dùng từ sai, yêu cầu HS nhận ra và sửa chữa. Trong các tài liệu dạy học, số lượng bài tập thuộc kiểu này không nhiều nhưng trên thực tế có thể sử dụng bài tập này bất kì lúc nào thấy cần thiết. Những lỗi dùng từ cần lấy trong chính thực tế hoạt động nói, viết của HS. Giáo viên cũng có thể đưa ra những lỗi dự tính HS dễ mắc phải, nhiệm vụ của HS là phát hiện và tự chữa những lỗi này. Bài tập sử dụng từ là bài tập có tính chất từ vựng – ngữ pháp. Để làm được những bài tập này, HS không những phải hiểu nghĩa của từ mà còn phải biết cách kết hợp các từ, biết viết câu đúng ngữ pháp.2.2. Một số điểm lưu ý khi dạy thực hành Luyện từ và câu – Tổ chức thực hiện các bài tập LT&C :

2.2.1. Giáo viên cần nêu đề bài một cách rõ ràng, nên yêu cầu học sinh nhắc lại đề bài, khi cần, phải giải thích để em nào cũng nắm được yêu cầu của bài tập. Có nhiều hình thức nêu bài tập : dùng lời, viết lê