Xu Hướng 11/2022 # Thể Thao Và Sức Khỏe Hô Hấp / 2023 # Top 12 View | Nhatngukohi.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Thể Thao Và Sức Khỏe Hô Hấp / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Thể Thao Và Sức Khỏe Hô Hấp / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Khó thở là tình trạng thường gặp khi tập thể dục. Tuy nhiên, có những trường hợp trong đó luồng khí bị cản trở do tập thể dục hoặc trong quá trình làm các công việc gắng sức. Thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng này là hen suyễn do tập thể dục hoặc co thắt phế quản do tập thể dục.

Các triệu chứng của hen suyễn do tập thể dục có xu hướng xuất hiện ngay sau khi tập và có thể diễn biến trầm trọng hơn khi ngừng hoạt động. Các dấu hiệu cảnh báo của tình trạng này bao gồm:

– Ho – Thở khò khè – Khó thở – Tức ngực – Mệt mỏi trong khi tập thể dục

Nguyên nhân gây hen suyễn do tập thể dục là gì?

Những người dễ mắc chứng hen suyễn do tập thể dục có xu hướng nhạy cảm với cả không khí khô và nhiệt độ thấp. Trong quá trình thở, không khí được làm ấm và làm ẩm khi đi qua mũi. Tuy nhiên, khi tập thể dục, nhu cầu tăng cao của cơ thể dẫn đến thở nhanh và sâu hơn, và thậm chí là phải thở bằng miệng. Điều này dẫn đến việc không khí khô, lạnh đi vào đường hô hấp dưới và phổi. Đây thường là nguyên nhân chính làm khởi phát tình trạng hẹp đường thở (co thắt phế quản), dẫn đến chứng hen suyễn do tập thể dục. Các nguyên nhân khác làm khởi phát tình trạng này bao gồm:

– Ô nhiễm không khí – Tiếp xúc với các chất gây kích ứng như khói hóa chất hoặc khói thuốc

Chẩn đoán

Triệu chứng thở khò khè hoặc tức ngực có thể gây nguy hiểm. Nếu bạn gặp phải các triệu chứng trên và nghi ngờ mình bị mắc chứng hen suyễn do tập thể dục, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ. Việc thực hiện đánh giá y khoa có thể giúp loại trừ các tình trạng khác như dị ứng và các rối loạn tim mạch hoặc hô hấp. Để chẩn đoán chính xác tình trạng mắc phải, bạn có thể được đề nghị thực hiện các kiểm tra như chạy trên máy chạy bộ và đo phế dung (kiểm tra chức năng phổi).

Nếu được chẩn đoán mắc chứng hen suyễn do tập thể dục thì tôi có cần tránh tập thể dục không?

Việc mắc chứng hen suyễn do tập thể dục không có nghĩa là bạn phải ngừng tập thể dục. Thay vào đó, bạn nên cân nhắc áp dụng các phương pháp sau để giúp ngăn ngừa triệu chứng xảy ra:

– Dành ra ít nhất 10 phút để khởi động đúng cách trước khi thực hiện các bài tập gắng sức – Tập thở bằng mũi để giúp làm ấm và làm ẩm không khí đi vào phổi – Tránh tập thể dục khi bị cảm lạnh, cúm hoặc viêm xoang

Phương pháp điều trị

Dựa trên kết quả chẩn đoán về chứng hen suyễn do tập thể dục, bác sĩ có thể lập phác đồ điều trị phù hợp với nhu cầu sinh hoạt của bạn. Bạn cũng có thể được phát các loại thuốc, ví dụ như thuốc trị hen suyễn dạng hít. Hãy trao đổi với bác sĩ để nắm được các phương pháp điều trị hiện có.

Tổng Quan Về Hệ Hô Hấp Ở Cơ Thể Người / 2023

Hô hấp là gì ? Sự hô hấp là một đặc trưng cơ bản của sinh vật. Ở động vật cao cấp như động vật có xương sống thì sự hô hấp là hai động tác hít vào và thở ra. Không khí từ bên ngoài vào phổi khi hít vào và ngược lại khi thở ra. Quá trình trao đổi khí giữa không khí và tế bào được thực hiện gián tiếp qua sự trao đổi khí và máu.Hệ hô hấp ở người Hệ thống dẫn khí:Khoang mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản. Hệ thống trao đổi khí giữa máu và không khí : Là phổi chứa các phế nang là nơi trao đổi khí giữa máu và không khí. Chức năng của hệ hô hấp: Chức năng của hệ hô hấp chủ yếu là trao đổi khí, hấp thụ oxi và thải khí cacbonic.

I. Khoang mũi Cấu tạo của mũi được chia làm 3 phần: Mũi ngoài, hốc mũi và các xoang mũi.1. Đặc điểm của hốc mũi: Mũi gồm hai hốc mũi, ngăn cách nhau bởi một vách đứng dọc ở giữa. Hốc mũi gồm 4 thành: trên, dưới, trong và ngoài.

Thành ngoài của hốc mũi có ba xương xoăn nhô ra như những mái hiên. Các xương xoăn mũi chia hốc mũi làm 3 ngách: – Ngách mũi dưới nằm dưới xương xoăn mũi dưới. – Ngách mũi giữa nằm dưới xương xoăn mũi dưới và giữa. – Ngách mũi trên nằm giữa xương xoăn mũi giữa và trên.

Ba ngách này thông với nhau bởi ngách mũi chung nằm ở vách ngăn chung của mũi và thông với các xoang ở xung quanh mặt (xoang trán, xoang hàm trên, xoang bướm, xoang sàng) và lớp niêm mạc của những xoang này cũng liên tiếp với niêm mạc mũi.

Tác dụng của những ngách mũi là làm tăng sự tiếp xúc của không khí với các mao mạch dày đặc của niêm m ạc mũi.2. Cấu tạo của lớp niêm mạc mũi: Niêm mạc hốc mũi được chia làm hai tầng: * Tầng trên: Phía trên xương xoăn mũi giữa. Tầng này có nhiều tế bào khứu giác để phân biệt mùi vị. * Tầng dưới: Niêm mạc tầng này gọi là tầng hô hấp, nó có đặc điểm – Được lát bởi biểu mô rung hình trụ nhiều tầng . – Có màu hồng vì có nhiểu mạch máu sưởi ấm không khí khi đi qua mũi – Không khí còn được làm ẩm khi đi qua các ngách ,vì ngách dưới thông với ống lệ tỵ – Khoang mũi còn có nhiều lông mũi và dịch nhầy làm sạch không khí.

II- HẦU.(xem: Hệ tiêu hoá)

III- THANH QUẢN. – Thanh quản vừa là một phần của đường hô hấp , vừa là cơ quan phát âm chính – Thanh quản được cấu tạo bởi các sụn, dây chằng và cơ. – Khung sụn của thanh quản khá phát triển, cơ có nhiệm vụ chuyển động khung sụn. Mặt trong khung sụn có niêm mạc che phủ. – Thanh quản nằm phía trước cổ, ngang các đốt sống cổ 4,5,6. ngay dưới xương móng.

1. Các sụn của thanh quản: có 9 sụn: 3 sụn lẻ và 3 đôi sụn:a. Sụn giáp: – Gồm hai mảnh sụn hình tứ giác tiếp với nhau phía trước theo một góc 90độ, chỗ tiếp ráp có thể sờ thấy dưới da – Bốn góc sụn có bốn sừng: hai sừng trên to tiếp với xương móng; hai sừng dưới nhỏ tiếp với sụn nhẫn.b. Sụn nhẫn: Có hình giống một cái nhẫn. – Phần dày của sụn hướng về sau gọi là mặt nhẫn – Phần hẹp (cung) hướng về phía trước – Ở bờ trên của bản sụn có hai diện khớp với hai sụn phễuc. Sụn phễu: Tương tự hình tháp ba mặt, một đáy, một đỉnh – Nền của sụn tiếp với diện khớp của bờ trên sụn nhẫn , ở đáy có hai mỏm nhô ra: một mỏm hướng ra trước gọi là mỏm thanh âm ; một mỏm hướng ra ngoài hơi ra sau gọi là mỏm cơ. – Ở đỉnh sụn có sụn sừng đính vàod. Sụn sừng: Ngồi trên đỉnh sụn phễu và có hình nón.e. Sụn vừng: Nằm ở phía trong của dây chằng, căng từ sụn phễu tới sụn nắp thanh quản.f. Sụn thanh thiệt( nắp thanh quản) Có hình dáng giống một cái lá , phần trên rộng , phần dưới hẹp đính vào góc trong sụn giáp. Sụn có hai mặt: Mặt trước hướng về phía lưỡi , mặt sau hướng vào lòng thanh quản.

2. Cấu tạo bên trong của thanh quản:

– Mặt trong của thanh quản có lớp niêm mạc che phủ – Dưới lớp niêm mạc có một lớp tổ chức chun chạy theo hướng dọc từ góc sụn giáp tới mỏm thanh âm của sụn phễu , tham gia cấu tạo nên dây thanh âm , gồm hai đôi dây : đôi dây thanh âm trên ( còn gọi là dây chằng tiền đình) và đôi dây thanh âm dưới (đôi này mới trực tiếp phát âm nên gọi là đôi dây thanh âm thật) – Các dây thanh âm đều có niêm mạc che phủ tạo thành các nếp thanh âm: + Nếp trên là nếp tiền đình (nếp thanh thất) do niêm mạc phủ lên dây thanh âm trên + Nếp dưới là nếp thanh âm do niêm mạc phủ lên dây thanh âm dưới – Hai nếp này chia thanh quản làm 3 khoang: + Khoang trên là khoang tiền đình, ở giữa hai nếp tiền đình, loe như miệng phễu , trước là sụn thanh thiệt, sau thông với hầu + Khoang thanh môn (buồng thanh quản): Nằm ở giữa nếp thanh âm và nếp tiền đình, giữ vai trò như một bộ máy cộng hưởng. + Khoang dưới là khoang dưới thanh môn: nằm ở phía dưới hai nếp thanh âm , thông với khí quản – Giữa hai nếp tiền đình là khe tiền đình – Giữa hai nếp thanh âm (phải và trái) có khe thanh môn. Khi không khí trong cơ thể đi qua khe thanh môn làm cho dây thanh âm chấn động từ đó phát ra âm thanh.

3. Các cơ thanh quản:

Là tổ chức cơ vân, gồm hai nhóm: nhóm ngoài và nhóm trong.a. Nhóm ngoài: – Các cơ : ức-giáp; giáp-móng , có tác dụng nâng và hạ thanh quản – Cơ nhẫn giáp : Từ bờ trên cung sụn nhẫn tới bờ dưới mảnh bên sụn giáp có tác dụng làm nghiêng sụn giáp và kéo căng dây thanh âm

b. Nhóm trong: – Cơ nhẫn phễu sau: Từ mặt sau sụn nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu: làm mở thanh môn – Cơ nhẫn phễu bên: Từ bờ cung trên sụn nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu: làm khép thanh môn – Cơ giáp -phễu: Từ sụn giáp đến sụn phễu: làm khép thanh môn – Các cơ liên phễu ngang, liên phễu chéo làm khép thanh môn

IV- KHÍ QUẢN

* Vị trí: – Khí quản nằm trước thực quản – Đầu trên khí quản nối với sụn nhẫn bởi dây chằng ở đoạn đốt sống cổ 6,7 – Phía dưới ngang mức đốt ngực 4,5 .

* Cấu tạo:

– Khí quản là một ống sụn dài từ 11-13cm , được cấu tạo bởi 16-20 vòng sụn trong, hình móng ngựa hở ở phía sau và được che kín bởi một màng tổ chức liên kết. Các sụn của khí quản được nối với nhau bởi một loại dây chằng vòng , tạo nên sự liên kết đàn hồi. Sụn khí quản có tácdụng chống đỡ duy trì đường hô hấp luôn trong trạng thái mở để quá trình hô hấp được tiến hành bình thường. Tổ chức liên kết phía sau khí quản là cơ trơn và các mô liên kết tạo thành Vì khí quản nằm ở cả đoạn cổ và đoạn ngực nên người ta chia làm hai đoạn : đoạn cổ và đoạn ngực.

– Mặt trong khí quản có niêm mạc che phủ. Lớp này có chứa các hạch tổ chức limphô riêng rẽ và được lợp bởi một lớp biểu mô rung có khả năng chuyển động từ trong ra ngoài.

V- PHẾ QUẢN: – Gồm phế quản gốc phải và phế quản gốc trái , được tách ra từ khí quản ở ngang mức đốt sống ngực 4, 5; Hai phế quản tạo với nhau một góc 70độ: phế quản gốc phải ngắn và to hơn phế quản gốc trái – Phế quản gốc phải và trái gọi là phế quản cấp I đi đến vùng rốn phổi thì phân thành phế quản cấp II chui vào trong các thuỳ phổi. Sau đó phế quản cấp II lại tiếp tục phân chia thành các phế quản nhỏ hơn, đường kính giảm dần theo mức độ phân chia. Trải qua khoảng 23 lần phân chia theo cấp số nhân thì tạo thành phế quản nhỏ nhất có đường kính khoảng 1mm gọi là tiểu phế quản (hay phế quản tiểu thuỳ). Toàn bộ phế quản gốc và sự phân chia của nó gọi là cây phế quản – Cấu tạo của thành phế quản cũng giống như khí quản. Chúng gồm những nửa vòng sụn trong nhưng khác ở chỗ là các phế quản càng nhỏ thì phần sụn càng ít đi và khi thành các phế quản nhỏ nhất thì không còn vết tích của sụn nữa. – Mặt trong của các phế quản được phủ một lớp niêm mạc. Niêm mạc này cũng được lợp bởi biểu mô rung nhiều tầng.

VI- PHỔI:

1- Vị trí: Gồm hai lá phổi phải và trái nằm hai bên trung thất

2- Cấu tạo đại thể của phổi: Phổi có hình nón cụt có 3 mặt, 3 bờ và một đỉnh. Phổi phải và phổi trái không giống nhau về hình thể và kích thước: phổi phải ngắn và rộng hơn; phổi trái dài và hẹp hơn. a. Các mặt của phổi: * Mặt ngoài (mặt sườn): Có các ấn sườn * Mặt trong (mặt trung thất): Có rốn phổi, phế quản, mạch máu, bạch huyết, thần kinh. Các phần này họp lại thành cuống phổi. Mặt trung thất có các vết lõm tương ứng với tim, gọi là hố tim (hố trái sâu hơn vì tim lệch sang trái) * Mặt hoành: Hướng về phía cơ hoành, có các vết lõm tương ứng với vòm hoành phải và trái. b. Các bờ của phổi: * Bờ trước: Nằm ở phía trước, ngăn cách mặt sườn với mặt trung thất * Bờ sau: Chạy dọc theo cột sống ngăn cách mặt sườn với mặt trung thất ở phía sau * Bờ dưới: Nằm giữa một bên là mặt sườn với mặt hoành, và mặt hoành với mặt trung thất. c. Các thuỳ của phổi: Trên mặt phổi có các rãnh ăn sâu chia phổi ra thành các thuỳ + Phổi trái có một rãnh(khe) chếch từ trên xuống dưới ,từ sau ra trước chia nó ra làm hai thuỳ: trên và dưới + Phổi phải cũng có một khe chạy giống như phổi trái và một khe chạy ngang từ giữa của khe này ,ra trước dọc bờ sụn sườn VI, chia phổi phải ra 3 thuỳ: trên, giữa và dưới d. Đỉnh phổi: Là phần phổi thò lên lỗ trên của lồng ngực 3-4cm trên xương sườn I3. Cấu tạo vi thể của phổi:

– Mỗi thuỳ phổi lại phân thành các tiểu thuỳ phổi, mỗi tiểu thuỳ là một đơn vị phổi, giữa các tiểu thuỳ đều có mạch máu , thần kinh, mạch bạch huyết – Các tiểu thuỳ nằm sát mặt phổi có hình tháp, đỉnh hướng vào trong, nếu ở sâu thì có hình đa giác. Đi vào trong tiểu thuỳ phổi là các tiểu phế quản, khi vào trong các tiểu thuỳ, các tiểu phế quản phân đôi 5-6 lần thành 12-18 nhánh nhỏ hơn gọi là tiểu phế quản tận cùng ( có đường kính 0,5mm). Thành của các tiểu phế quản tận cùng có các nang túi, ở trong mỗi nang túi các tiểu phế quản tận cùng phân ra thành các tiểu phế quản phế nang (hay tiểu phế quản hô hấp). Các tiểu phế quản phế nang lại phân thành các ống phế nang. Mỗi ống phế nang lại gồm hai túi phế nang. Thành của ống và túi phế nang rỗng có hình như tổ ong gọi là phế nang. – Từ tiểu phế quản hô hấp đến phế nang đều có thể tiến hành trao đổi khí, đây được gọi là phần hô hấp.

Trong phần hô hấp thì phế nang là nơi trao đổi khí chủ yếu – Đường kính của mỗi phế nang khoảng 0,2 mm – Diện tích của mỗi phế nang khoảng 0,125 mm2 Ở người có chừng 500- 700 triệu phế nang với tổng diện tích lên tới 72-100 m2.* Cấu tạo của phế nang: – Thành của phế nang là một màng rất mỏng có các sợi chun, làm cho phế nang có tính đàn hồi – Mặt trong có biểu mô một tầng lát kín. – Bao quanh và sát thành phế nang là một lưới mao mạch dầy và mau.

4. Sự trao đổi khí ở phế nang: -Giữa mao mạch và phế nang có một màng mỏng ngăn cách được gọi là màng hô hấp.Tại màng hô hấp sẽ xảy ra quá trình trao đổi khí O2 và CO2 giữa phế nang và máu – O2 của không khí thấm qua thành phế nang,màng hô hấp và thành mao mạch vào máu còn CO2 thì từ máu thấm qua thành mao mạch, màng hô hấp và thành phế nang vào phế nang5. Màng phổi (phế mạc): Gồm hai lá: * Lá tạng: Bọc sát phổi trừ rốn phổi,ở rốn lá tạng quặt lại liên tiếp với lá thành * Lá thành: Dán vào mặt trong lồng ngực Giữa hai lá một khoang có áp suất âm,trong khoang có dịch thanh mạc làm giảm ma sát giữa hai lá khi thở

6.Mạch máu và thần kinh của phổi:a. Mạch máu của phổi – Đi vào mỗi phổi là một nhánh của động mạch phổi. Động mạch này mang máu từ tâm thất phải tới phổi, máu này là máu tĩnh mạch có nhiệm vụ trao đổi khí. Động mạch phổi đi vào rốn phổi phân nhánh cuối cùng tạo thành mạng mao mạch bao quanh các phế nang tiến hành trao đổi khí, thải CO2 và nhận O2 làm cho máu tĩnh mạch thành máu động mạch rồi qua tĩnh mạch phổi đổ vào tâm nhĩ trái.Từ mỗi phổi đi ra có hai tĩnh mạch phổi, cả bốn tĩnh mạch phổi của hai lá cùng đổ về tâm nhĩ trái của tim – Đi vào mỗi phổi còn có nhánh của động mạch phế quản. Động mạch này đi vào phổi phân nhánh đi tới mạng mao mạch để cung cấp chất dinh dưỡng cho phổi rồi chuyển thành tĩnh mạch phế nang đổ vào tâm nhĩ phải – Như vậy mạch máu phổi có khác so với các mạch máu khác là: Động mạch phổi mang máu tĩnh mạch còn tĩnh mạch phổi mang máu động mạch

b.Thần kinh của phổi: – Phổi được chi phối bởi các nhánh của thần kinh phế vị và thần kinh giao cảm.

VII- TRUNG THẤT

Là một khoang nằm giữa hai lá phổi , giới hạn bởi: – Trước là xương ức – Sau là cột sống – Trên là lỗ ngực trên – Hai bên là màng phổi mặt trung thất – Dưới là cơ hoành Trong trung thất có chứa nhiều bộ phận như tim, tuyến ức , các mạch máu lớn, khí quản, phế quản, thực quản, thần kinh

VIII. ẢNH HƯỞNG CỦA LUYỆN TẬP THỂ THAO ĐỐI VỚI HỆ HÔ HẤP.

Ảnh hưởng của luyện tập thể thao đối với hệ hô hấp chủ yếu biểu hiện đối với phổi. Qua thí nghiệm của động vật cho thấy: 1. Khi cường độ vận động tăng dần, hình dạng phế nang thay đổi từ bình thường đến to dần cho tới khi bị phá vỡ và cuối cùng mất đi. Sự thay đổi này làm giảm chức năng trao đổi khí và lọc khí. 2. Khi cường độ vận động tăng lên, màng hô hấp dày lên sau đó lại mỏng đi và bị phá vỡ. Sự thay đổi này làm giảm khả năng hô hấp của màng hô hấp. 3. Khi cường độ vận động tăng lên, phế nang xuất hiện nhiều lỗ và to ra điều này chứng tỏ đường hô hấp bị viêm nhiễm và màng hô hấp bị phù lên khi phế nang đón khí vào. 4. Khi cường độ vận động tăng lên, tế bào hình cầu và tế bào diệt khuẩn trong phế nang tăng lên. Như vậy luyện tập thể thao có tác dụng tốt đối với hệ hô hấp, nhất là đối với phổi chỉ khi với liều lượng và cường độ phù hợp

Vai Trò Của Thể Dục Thể Thao Đối Với Sức Khỏe / 2023

Rèn luyện thân thể và thể dục thể thao (TDTT) là cơ sở để bảo vệ và phát triển sức khỏe toàn diện cho con người. Để học tập, nghiên cứu, kinh doanh buôn bán hay để sản xuất và bảo vệ sản xuất con người đều phải cần đến sức khỏe. Không có sức khỏe con người không làm được gì cho mình và cho xã hội.

Nên ai ai cũng cần có một sức khỏe toàn diện, một thân hình cường tráng trong một cơ thể lành mạnh, vô bệnh tật. Đó là một sự mong muốn chính đáng nhất của con người. Để có đủ sức khỏe làm bất cứ việc gì, kể những công việc rất nặng nhọc, cần phải có sức khỏe dẻo dai để làm việc lâu dài mà vẫn nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo, kiên cường, dũng cảm để giành lấy những kết quả và hiệu suất lao động lớn nhất trong mỗi quá trình làm việc của mình mà không biết mệt mỏi.

1- Tăng cường sự lành mạnh của cơ thể

Muốn đạt được tiêu chuẩn hãy rèn luyện thân thể TDTT. Muốn cho con người được khỏe mạnh, không ốm đau bệnh tật con người phải tham gia lao động phải tham gia TDTT, phải rèn luyện thân thể. Trước tiên là phải tham gia bài tập thể dục vệ sinh buổi sáng thường xuyên liên tục, coi nó như một bữa cơm điểm tâm không thể thiếu được.

2- Không ngừng nâng cao sức lực và sức đề kháng cho con người

Con người có sức lực là con người có bắp thịt nở nang, có thân hình cường tráng với xương cốt cứng cáp, luôn luôn đảm đương được những công việc hàng ngày kể cả những công việc nặng nhọc. Con người có sức đề kháng là con người có đủ khả năng chống đỡ lại được tất cả những loại bệnh tật đã và đang có ở xung quanh.

Muốn thế chúng ta phải thường xuyên tìm đến TDTT và tham gia chơi các môn: ném tạ, leo dây, xà đơn, xà kép, bơi lội hoặc thể dục nhịp điệu, và dưỡng sinh… Đó là những hình thức và biện pháp rèn luyện thân thể hữu hiệu nhất, nhằm tăng cường sức lực và sức đề kháng cho con người.

Vì chỉ có rèn luyện thân thể và chơi thể dục thể thao bắp thịt mới được nở nang, bộ xương mới được vững chắc, thân hình mới đẹp mới hấp dẫn, cùng với một sức khỏe dồi dào nên làm bất cứ một việc gì cũng có hiệu suất cao, chất lượng tốt.

3- Tăng cường sự nhanh nhẹn tháo vát

Nhanh nhẹn là sự biểu hiện ngay những phản ứng kịp thời của cơ thể đối với mọi kích thích từ bên ngoài.

Cơ sở sinh lý của nhanh nhẹn là sự chuyển hướng mau chóng từ hưng phấn sang ức chế và ngược lại từ ức chế sang hưng phấn của các hệ thống thần kinh.

Muốn đạt được mục đích đó con người phải tự rèn luyện để tạo ra cho mình những phản xạ luôn luôn nhạy bén với mọi tình huống xảy ra trong việc chuyển hướng từ hưng phấn sang ức chế hoặc tự ức chế sang hưng phấn.

Đó là những biện pháp tập luyện để thần kinh được linh hoạt nhạy bén nhằm đáp ứng nhanh chóng với mọi kích thích từ bên ngoài.

4- Tăng cường sự bền bỉ dẻo dai

Sức bền bỉ dẻo dai thường được biểu hiện ở những người có sức khỏe tốt, thể lực tốt với các cơ quan nội tạng hoạt động thường xuyên không biết mệt mỏi. Cùng với tính kiên trì nhẫn nại, không vội vàng hấp tấp và càng không được nóng vội khi có những sự việc xảy ra.

Nên ngoài việc rèn luyện về thể lực trong vui chơi thể dục thể thao ra, chúng ta cần tham gia chơi các loại cờ để rèn luyện ý chí, rèn luyện tính kiên trì nhẫn nại.

Cấu Tạo Và Nhiệm Vụ Cơ Quan Hô Hấp / 2023

Thở là điều kiện kiên quyết để duy trì sự sống. Nó sẽ luôn diễn ra cho dù chúng ta muốn hay không. Mỗi ngày chúng ta thở khoảng 25,000 lần và cho đến lúc 70 tuổi, chúng ta có thể thở đến 600 triệu lần.

Hệ hô hấp bao gồm mũi, hầu họng, thanh quản, khí quản & hai buồng phổi. Một chu kỳ thở bao gồm thì hít vào, trao đổi khí & thì thở ra. Mỗi khi hít vào, không khí có chứa oxy theo mũi (và miệng) đi vào trong buồng phổi theo các khí quản & làm phồng các túi khí bên trong phổi. Trước khi vào đến phổi, các màng nhày ở mũi, họng đã làm cho không khí ấm hơn & ẩm hơn để hạn chế tình trạng nhiễm lạnh cho phổi.

Hầu họng giống như một ngã tư giao nhau giữa một bên là mũi & khí quản, bên còn lại là miệng & thực quản. Điều này có nghĩa là lượng không khí hít vào có thể mang theo bụi bậm chứa mầm bệnh gây ra viêm nhiễm cho hệ hô hấp lẫn hệ tiêu hóa trên, mà cụ thể là vùng hầu họng. Một hệ thống lông mao có ở khắp nơi trong hệ thống dẫn khí làm nhiệm vụ lọc, ngăn chặn & quét ngược các bụi bậm trở ra khỏi hệ hô hấp.

Thanh quản là đoạn đầu tiên của ống dẫn khí vào cơ thể. Thanh quản có chứa hai dây thanh có chức năng chính trong việc phát ra các âm tiết khác nhau trong ngôn ngữ & những âm thanh khác phát ra từ mũi miệng.

Khí quản là một ống có cấu tạo chủ yếu là sụn, bắt nguồn từ thanh quản rồi chạy song song với thực quản bên trong lồng ngực. Đầu còn lại của khí quản được chia là hai nhánh lớn để dẫn khí vào từng phổi qua vô số các nhánh dẫn khí được phân chia tiếp theo (gọi là tiểu phế quản) đến từng vị trí trong mô phổi. Các tiểu phế quản dẫn khí đến phổi làm thổi phồng các túi khí bên trong phổi (gọi là phế nang), nơi diễn ra quá trình trao đổi khí với hồng cầu. Từ hai nhánh phế quản vào hai phổi, sự phân chia thành các tiểu phế quản & tiểu tiểu phế quản cần thiết để dẫn khí cho cả 300-400 phế nang cho mỗi buồng phổi.

Quá trình trao đổi khí xảy ra do việc tiếp xúc giữa hồng cầu với không khí giàu oxy trong phế nang. Các hemoglobin có trong hồng cầu bắt giữ lấy các phân tử oxy & nhả ra các phân tử CO2 vào phế nang. Đây là chức năng cơ bản và thiết yếu nhất của hệ hô hấp. Hiển nhiên CO2 sẽ bị thải ra ngoài trong thì thở ra, còn O2 được đem đến cung cấp cho tế bào để đốt cháy nhiên liệu tạo ra năng lượng cho mọi hoạt động của cơ thể. Quá trình này cứ tiếp diễn từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây để duy trì chức năng cơ bản của sự sống.

Cơ hoành đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hít thở. Một khi cơ hoành đẩy lên trên, tạo ra một sức nén làm nhỏ lồng ngực lại và có tác dụng đẩy khí ra ngoài, gọi là thì thở ra. Tương tự, để hít vào, cơ hoành sẽ hạ xuống làm gia tăng thể tích bên trong lồng ngực, kéo theo sự giãn nở của hai buồng phổi làm cho không khí tuồn đầy vào bên trong, gọi là thì hít vào. Nín thở là một động tác cố gắng làm bất động cơ hoành và thể tích lồng ngực được giữ nguyên, khí sẽ không lưu chuyển ra vào.

* Tác dụng có thể khác nhau tuỳ cơ địa của người dùng

Cập nhật thông tin chi tiết về Thể Thao Và Sức Khỏe Hô Hấp / 2023 trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!