Xu Hướng 11/2022 # Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Từ Ứng Dụng Công Nghệ / 2023 # Top 18 View | Nhatngukohi.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Từ Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Từ Ứng Dụng Công Nghệ / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu của du khách

Trong “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, du lịch được định hướng là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Sự tăng trưởng nhanh chóng của cả khối lượng và yêu cầu về chất lượng của du khách đương đại, đòi hỏi công nghệ thông tin (CNTT) mạnh mẽ để quản lý các thông tin mở rộng.

Các điểm đến và ngành Du lịch cần các phương pháp mới để phục vụ các loại nhu cầu mới. Việc sử dụng CNTT trong Ngành được thúc đẩy bởi cả sự phát triển của quy mô và sự phức tạp của nhu cầu du lịch cũng như sự mở rộng nhanh chóng và sự tinh tế của các sản phẩm du lịch mới nhằm giải quyết các phân đoạn thị trường nhỏ.

Người tiêu dùng hiện nay “ít khi sẵn lòng chờ đợi hoặc chịu đựng những sự chậm trễ, đến mức độ kiên nhẫn là một phẩm chất biến mất nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch và tồn tại lâu dài thì không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc kết hợp công nghệ và nâng cao tính tương tác với thị trường ngày càng phát triển.

Du lịch để truy cập thông tin đáng tin cậy và chính xác cũng như để thực hiện việc đặt chỗ trong một phần thời gian, chi phí và sự bất tiện yêu cầu bởi các phương pháp thông thường.

CNTT cải thiện dịch vụ chất lượng và góp phần nâng cao sự hài lòng của du khách. Sự hài lòng của khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào tính chính xác và toàn diện của thông tin cụ thể về khả năng tiếp cận của điểm đến, cơ sở vật chất, thu hút du khách và các hoạt động khác. Vì vậy, CNTT tạo điều kiện cho các yếu tố thúc đẩy sự hài lòng của người tiêu dùng.

Cụ thể: người tiêu dùng có nhiều thông tin hơn và được lựa chọn nhiều hơn; Giảm quan liêu và công việc giấy đã giải phóng thời gian cho dịch vụ khách hàng một cách hiệu quả; Đa dạng sản phẩm và thiết lập tiếp thị bằng cách sử dụng thông tin thu thập được bởi các chương trình khách hàng quen thuộc; Cung cấp các dịch vụ mới; Tạo điều kiện cho các nhiệm vụ hoạt động…

Kỹ thuật tái sản xuất và phân phối trong du lịch

Các tác động của CNTT thể hiện rõ nét trong hoạt động sản xuất, tiếp thị, phân phối và vận hành du lịch của cả khu vực tư nhân và nhà nước. CNTT cũng có thể tăng tinh thần nhân viên, hiệu quả quản lý, năng suất và cuối cùng là lợi nhuận của các tổ chức du lịch, cho môi trường kinh doanh mới và tận dụng các cơ hội đang nổi lên.

Đặc biệt, nó có ý nghĩa then chốt đối với kênh phân phối, khi họ đưa ra các phương pháp sáng tạo và chưa từng có. Phân phối là một trong số ít các yếu tố. Tiếp thị hỗn hợp, mà vẫn có thể cho phép các doanh nghiệp du lịch để nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu suất của họ. Phân phối hỗn hợp tiếp thị phù hợp, phân đoạn đúng, thông qua các trung gian phù hợp, sẽ là công cụ để thành công lâu dài của ngành Du lịch.

Nó không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân phối, mà còn tạo ra sự khác biệt hoặc lợi thế về chi phí cũng như tăng cường trao đổi thông tin giữa các lĩnh vực và các thị trường mục tiêu. Điều này được thực hiện bằng cách tái cấu trúc toàn bộ quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm, để tối ưu hóa hiệu suất và năng suất, và tối đa hoá giá trị gia tăng cung cấp cho người tiêu dùng.

Hệ thống công nghệ thông tin trong ngành Du lịch

Nói đến hệ thống GDS nổi lên như là “hệ thống lưu thông” hoặc “xương sống” của ngành công nghiệp bằng cách thiết lập một tiêu chuẩn truyền thông toàn cầu và một kênh phân phối điện tử du lịch.

GDS đã trở thành lựa chọn cho ngành Du lịch, vì hệ thống có thể thay đổi các yêu cầu của khách du lịch về các hãng hàng không và các công ty du lịch lữ hành, nhà ở, đến các siêu thị du lịch điện tử và các đơn vị kinh doanh chiến lược…

Hiện nay, bốn hệ thống là Galileo, Amadeus, Saber và Worldspan, chiếm lĩnh thị trường toàn cầu về ứng dụng, quảng bá cho ngành du lịch thế giới nói chung. Ví dụ, vào tháng 6/1996, Amadeus đã trưng bày sẵn 432 hãng hàng không, 29.000 khách sạn và 55 công ty cho thuê xe hơi thông qua 162.329 đầu cuối tại 106.394 đại lý du lịch trên toàn thế giới.

GDS ngày càng cung cấp cả sản phẩm giải trí và kinh doanh, bằng cách cung cấp thông tin và cho phép đặt chỗ cho vé xem hát, gói du lịch và các điểm du lịch. Cuối cùng lõi GDS dự kiến dựa trên mạng lưới các hệ thống máy tính nhỏ hơn, khu vực và chuyên dụng cho các sản phẩm giải trí của du khách.

Hiệu suất và độ tin cậy của CNTT cho phép phân phối và quản lý các đặt chỗ của họ trên toàn cầu bằng cách bắc cầu nhu cầu tiêu dùng với nguồn cung cấp du lịch. Do đó, sự hợp lực tuyệt vời đã đạt được, khi các trình điều khiển toàn cầu hoá thúc đẩy sự phát triển của GDS và ngược lại.

Lợi ích của công nghệ thông tin trong quản lý du lịch

Ứng dụng CNTT mang lại nhiều tiện ích đối với phát triển kinh tế du lịch là không thể phủ nhận, đặc biệt trong công tác quản lý, nó mang lại nhiều lợi ích cụ thể: Chi phí phân phối thấp; Chi phí truyền thông thấp; Chi phí lao động thấp; Giảm thiểu chất thải; Người hỗ trợ tính giá linh hoạt.

Bên cạnh đó là những tiện ích cho du khách như: Đáp ứng nhu cầu rất tốt; Linh hoạt trong thời gian hoạt động; Hỗ trợ chuyên môn hóa và sự khác biệt; Cung cấp các giao dịch phút chót; Thông tin chính xác; Hỗ trợ tiếp thị mối quan hệ; Phản ứng nhanh với nhu cầu dao động; Nhiều sản phẩm/tích hợp; Nghiên cứu thị trường

Nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành Du lịch

Việc ứng dụng CNTT vào ngành Du lịch là yêu cầu tất yếu trong quá trình hội nhập, phát triển, không chỉ gia tăng các tiện ích cho du khách vànhà quản lý mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh với các nước. Điều này thể hiện qua các chức năng sau:

Thứ nhất, liên tổ chức. Mạng hỗ trợ truyền thông và tạo điều kiện cho sự liên kết giữa các tổ chức cá nhân. Do đó, một số hệ thống và ứng dụng xuất hiện để hỗ trợ truyền thông giữa các doanh nghiệp du lịch. Trao đổi dữ liệu điện tử cho phép truyền dữ liệu có cấu trúc từ máy tính sang máy tính (thường được tổ chức bởi các tổ chức khác nhau và từ xa) sử dụng các tiêu chuẩn truyền thông đã được thỏa thuận.

Ngoài ra, hệ thống quản lý điểm đến và hệ thống Quản lý đặt phòng cần phải có thông tin Máy tính Tích hợp nhiều các nhu cầu của khách, cố gắng để tích hợp việc quản lý và tiếp thị các doanh nghiệp du lịch độc lập tại khu vực điểm đích đến và do đó tạo thuận lợi cho sự liên kết trong các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ sẽ được lợi từ mạng lưới hỗ trợ CNTT vì họ sẽ có thể tập hợp nguồn lực của họ và cạnh tranh với các đối tác lớn hơn của họ.

Thư điện tử, website… là một trong những ứng dụng phổ biến nhất của Internet, nó cho phép kết nối và liên lạc giữa các tổ chức và cá nhân.

Người tiêu dùng liên lạc trực tiếp với các tổ chức du lịch để yêu cầu thông tin và mua sản phẩm, cũng như tương tác với người hướng dẫn, ban quản lý du lịch. Người tiêu dùng được trao quyền bằng máy tính nên gia đình có thể truy cập thông tin về các sản phẩm và tổ chức du lịch ngay lập tức, không tốn kém, tương tác, gần như không phụ thuộc vào các tác động khác có ảnh hưởng xấu nhiều.

Các tổ chức du lịch có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của mình thông qua việc tăng cường các nỗ lực quản lý tiếp thị và quản lý chiến lược thông qua việc thực hiện tất cả các chức năng của họ bằng các CNTT tiên tiến. Điều này sẽ giúp họ cải thiện mạng lưới của họ và cuối cùng để cải thiện tính “ảo” của họ.

Thứ hai, liên tổ chức – Tổ chức nội bộ. Một số ứng dụng hữu ích có sẵn trong ngành du lịch, hỗ trợ cả các chức năng liên quốc gia và nội bộ. Chúng thường hỗ trợ các nỗ lực tiếp thị chung cũng như hội nhập theo chiều ngang, dọc hoặc chéo.

Các doanh nghiệp du lịch có thể trao đổi thông tin khách hàng hoặc để tạo điều kiện cho việc hình thành tổng sản phẩm du lịch hoặc thực hiện các chiến dịch tiếp thị chung. Ví dụ hãng hàng không hợp tác với các chuỗi khách sạn và các công ty cho thuê xe tại phát hành thường xuyên dặm tờ hoặc Cung cấp các phần thưởng và đặc quyền cho người tiêu dùng.

Các hãng hàng không cũng xây dựng các liên minh (ví dụ như Star Alliance) để tăng cường toàn cầu hóa và tận dụng thỏa thuận chia sẻ mã. Điều này cho phép cung cấp các sản phẩm liền mạch và phát triển các chiến dịch tiếp thị toàn diện.

Thứ ba, tổ chức nội bộ – người tiêu dùng. Các doanh nghiệp sử dụng CNTT để giải quyết các nhu cầu cá nhân và mong muốn của người tiêu dùng. Quan hệ đối tác hoặc tiếp thị mối quan hệ cố gắng tối đa hóa lòng trung thành của khách hàng bằng cách xây dựng mối quan hệ giữa người tiêu dùng và các tổ chức.

Lợi ích lẫn nhau có thể đạt được theo cách này, vì người tiêu dùng có thêm lợi ích, đãi ngộ đặc biệt hoặc giảm giá trong khi các doanh nghiệp làm tăng sự hài lòng và trung thành của họ thường xuyên. Người tiêu dùng họ cũng thu được rất nhiều thông tin tiếp thị về nhu cầu và thói quen chi tiêu của họ, mà không phải trả tiền cho nghiên cứu tiếp thị đắt tiền. Tiếp thị trực tiếp và cơ sở dữ liệu, các chương trình thông tin thường xuyên và lịch sử của khách thường được sử dụng theo nghĩa này.

Người tiêu dùng có kinh nghiệm cũng có thể truy cập vào một số cơ sở điện tử, cho phép họ đạt được độ linh hoạt và tương tác cao hơn với tổ chức. Cuối cùng, sự phát triển tiếp thị “một-một”, trong đó gói du lịch sẽ được đóng gói theo nhu cầu cá nhân của người tiêu dùng chỉ có thể được tạo điều kiện bởi CNTT

Thứ tư, tổ chức liên doanh – người tiêu dùng. Người tiêu dùng ngày càng sử dụng các chức năng liên tổ chức để xác định và mua các sản phẩm và dịch vụ thích hợp cho nhu cầu của họ.

Vì phần lớn các sản phẩm du lịch được cung cấp bởi các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ, người tiêu dùng thường cần có thông tin, chương trình, lịch trình, thuế quan và sự sẵn có của một loạt các nhà cung cấp dịch vụ du lịch để có thể hợp nhất du lịch của họ các sản phẩm.

Do đó, hệ thống đặt phòng máy tính, hệ thống quản lý điểm đến và website được sử dụng để truy cập dữ liệu từ các doanh nghiệp khác nhau, hoặc do người tiêu dùng cá nhân hoặc bởi các cơ quan du lịch làm môi giới thay mặt cho họ. Xu hướng sắp xếp các chuyến đi một cách độc lập cho thấy nhiều khách hàng hơn sẽ dựa vào công nghệ để lựa chọn, hợp nhất và mua các sản phẩm du lịch

Khung chiến lược đa chiều cho CNTT trong du lịch không chỉ chứng minh sự phụ thuộc của cả nhu cầu và cung cấp vào CNTT nhưng nó cũng minh hoạ rằng mạng lưới và tính tương tác sẽ ngày càng chiếm ưu thế trong các chức năng sản xuất và tiêu thụ.

Ứng dụng CNTT trong ngành Du lịch nhăm nâng cao năng lực cạnh tranh là yêu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Cùng với sự phát triển của ngành Du lịch, thì những đóng góp của ngành CNTT vào lĩnh vực này trong tương lai cũng sẽ không ngày càng sâu rộng hơn và có ý nghĩa quyết định đưa đến việc đảm bảo cạnh tranh thành công.

CNTT ảnh hưởng đến việc quản lý và tiếp thị chiến lược của các tổ chức hiện đại, như là một sự thay đổi mô hình, có thể chuyển đổi thực tiễn kinh doanh “tốt nhất” trên toàn cầu. CNTT biến đổi vị trí chiến lược của các tổ chức bằng cách thay đổi hiệu quả, sự khác biệt, chi phí hoạt động và thời gian phản ứng.

Đặc biệt CNTT đã kích thích những thay đổi cơ bản trong hoạt động và phân phối của ngành du lịch. Ví dụ rõ ràng nhất trong du lịch là quá trình đặt chỗ, dần dần trở nên hợp lý và cho phép cả người tiêu dùng và ngành công nghiệp tiết kiệm thời gian đáng kể trong việc xác định, hợp nhất, đặt và mua các sản phẩm du lịch.

Khi việc ứng dụng CNTT được triển khai mạnh mẽ, khách du lịch có thể duyệt qua Internet và xác định một loạt các đề nghị phong phú để đưa ra lựa chọn đi du lịch phù hợp với yêu cầu cá nhân của họ. Do đó, trọng tâm chuyển hướng sang các chuyến du lịch riêng lẻ và các gói năng động.

Điều này sẽ cải thiện dịch vụ và cung cấp trải nghiệm du lịch liền mạch, trong khi nó sẽ cho phép các tổ chức du lịch quản lý khả năng cạnh tranh trong môi trường phát triển hiện đại, CNTT cung cấp một cơ hội chưa từng có cho hội nhập theo chiều ngang, dọc và chéo, cũng như cho sự phát triển của các doanh nghiệp. CNTT sẽ cho phép ngành công nghiệp phát triển sự hiểu biết về sự phát triển hiện đại và một Tầm nhìn cho tương lai.

Lợi Ích Từ Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng / 2023

Lợi ích từ phát triển du lịch cộng đồng

(ANTĐ) – Hiện nay, xu thế phát triển du lịch (DL) trên thế giới là hướng tới những khu vực có tiềm năng đặc sắc về mặt thiên nhiên và văn hóa.

Chính vì thế, những tuor DL đến những nơi mang đậm nét đặc sắc văn hóa dân tộc, vùng, miền được khách du lịch quốc tế ưa chuộng. Do vậy, điều mà DL Việt Nam cần hướng tới là bảo tồn những nền văn hóa, kết hợp giữa Nhà nước, nhân dân và các nhà kinh doanh DL một cách có hiệu quả. Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là phát triển DL cộng đồng (DLCĐ).

DLCĐ đem lại lợi ích thiết thực đối với người dân thể hiện ở chỗ: người dân có được nguồn thu trực tiếp từ các dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Một khu DL phát triển sẽ thu hút sự quan tâm của các cấp chính quyền, thu hút các nhà đầu tư phát triển hệ thống đường sá, điện, nước, mạng lưới thông tin y tế… Ngoài ra còn những lợi ích thiết thực khác như công ăn, việc làm, giao lưu văn hóa và đặc biệt là ý thức xã hội về bảo tồn văn hóa được nâng cao.

Như vậy, đối với những vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, việc phát triển DLCĐ hay DL dựa vào cộng đồng hoàn toàn có cơ sở để thực hiện và chắc chắn đem lại hiệu quả kinh tế cao. Đây cũng là phương thức hữu hiệu để phát triển kinh tế – xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân các dân tộc vùng cao, bảo tồn được môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa. Để phát triển DLCĐ, các doanh nghiệp nên tăng cường nghiên cứu thị trường, định hình sản phẩm và cùng với cộng đồng nghiên cứu tổ chức đầu tư phát triển sản phẩm, tổ chức quản lý khai thác và quảng bá xúc tiến sản phẩm. Nếu tất cả đều nhận thức vấn đề này một cách sâu rộng thì đây sẽ là cơ sở cho phát triển DL Việt Nam trong tương lai trở nên bền vững.

Trần Trung Anh

Những Điểm Lợi Và Hại Khi Công Nghệ Thông Tin Phát Triển / 2023

Với tốc độ nhanh chóng và động lực phi thường, ngày nay công nghệ thông tin tiến bộ đã kéo theo rất nhiều sự tiện lợi cho con người, việc làm của họ nhẹ nhàng hơn, sự tính toàn cũng đỡ đau đầu hơn vì các hệ thống máy tính siêu nhanh ngày nay đã giúp chúng ta có thể tính toán được mọi số liệu một cách nhanh chóng mà không mất quá nhiều thời gian kể từ đó chúng ta luôn cảm nhận được sự phát triển này mang cho con người rất nhiều lợi ích.

Lợi ích lớn nhất cho các ngành kinh doanh có lẽ là máy chủ, máy chủ ngày nay đã đảm nhận hầu như mọi công việc xử lý số liệu, lưu trữ thông tin và quản lý tập trung từ đó mà các dịch vụ về máy chủ như thuê máy chủ cũng được phát triển mạnh mẽ hơn, nhưng đi kèm theo những tiện ích đó thì lúc nào cũng có những mặt trái mà chúng ta cần phải đương đầu và đó chính là vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập đến cho các bạn trong bài viết hôm nay.

Những mặt lợi và hại của sự phát triển công nghệ

, về lọi ích về làm việc thì trong mục trên chúng tôi đã đề cập đến cho các bạn nó cung cấp cho chúng ta rất nhiều tiện nghi khi làm việc.Như chúng ta đã đề cập sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay có rất nhiều điểm lợi và hại

Tuy nhiên chúng cũng có mặt hại quá nhiều khi chúng ta quá ỷ y về sự chính xác và khả năng an toàn của máy tính hay máy chủ vì với công nghệ hiện nay các hacker cũng có thể dễ dàng xử lý gọn nhẹ đống dữ liệu của chúng ta một cách nhanh chóng và từ đó thì các doanh nghiệp có thể bị mất rất nhiều dữ liệu và chúng ta cần phải chịu rất nhiều hậu quả nặng nề mà các tình huống hacker xâm nhập thì trong chuyên mục kiến thức server chúng tôi cũng thường hay đề cập đến cho các bạn.

Công nghệ thông tin ngày càng phát triển

Và một trong những điểm nữa đó chính là các mặt hàng điện tử tinh vi cũng rất hay xảy ra các tình trạng lỗi hay hư hỏng nếu như chúng ta không quan tâm và bảo trì thường xuyên vì thế cho nên dù ngày nay, công nghệ thông tin có được những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng đến cỡ nào đi nữa thì có lẽ vấn đề bạn cần phải có những đối sách dự phòng sao lưu dữ liệu luôn cần thiết để cho chúng ta quan tâm và thực hiện nhằm có thể nhanh chóng tiết kiệm được thời gian ứng phó khi mà chúng phát sinh lỗi.

Khoa Học Địa Lí &Amp; Phát Triển Du Lịch / 2023

1. Khái niệm, đối tượng nghiên cứu và vai trò của Khoa học Địa lí 1.1. Khái niệm           Khoa học địa lí là một trong những khoa học cổ xưa nhất thế giới gắn liền với nhận thức, hiểu biết không gian lãnh thổ của loài người [3]. Những phát kiến khoa học vĩ đại đầu tiên của nhân loại là về đất nước và các châu lục.           Tên gọi Địa lí xuất phát từ tiếng Hy Lạp là Geography. Người xưa có những nhận biết sơ khai về địa lí thông qua việc mô tả các hiện tượng như sự thay đổi thời tiết, khí hậu, tìm phương hướng…Khi có chữ viết, các kiến thức địa lí được ghi chép lại tạo nền móng cho sự phát triển của Khoa học địa lí ngày nay. Chính vì vậy, Địa lí học là khoa học “mô tả Trái đất”, hay nói cách khác, Địa lí học giống như một kiểu từ điển bách khoa về tự nhiên, dân cư, kinh tế – xã hội của các khu vực, các quốc gia lãnh thổ trên thế giới.           Theo Bách khoa toàn thư Xô Viết: “Địa lí học là một hệ thống các khoa học tự nhiên và xã hội, nghiên cứu thể tổng hợp tự nhiên, thể tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ và các thành phần của chúng” [2].           Như vậy, Địa lí học thực chất là một hệ thống các hoa học khác nhau, nghiên cứu các quy luật khác nhau. Hệ thống khoa học là sự kết hợp của nhiều bộ môn khoa học khác nhau với các chức năng riêng nhưng đồng thời lại được thống nhất bởi một chức năng chung. Hay nói cách khác, tất các các khoa học thuộc một hệ thống đều có đối tượng nghiên cứu chung, mặc dù mỗi khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng. Các khoa học bộ phận đều sử dụng một phương pháp luận chung, một hệ thống khái niệm chung và có thể cùng sử dụng một số phương pháp chung.

          Giữa các khoa học bộ phận tồn tại những nhiệm vụ chung phải giải quyết: Trên cơ sở nhận thức được các quy luật phát sinh, phát triển của môi trường địa lí để xác định cho đúng đắn đặc tính của mối quan hệ giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống KT – XH. 

 1.2. Đối tượng nghiên cứu           Địa lí được chia thành hai nhánh chính: Địa lí tự nhiên và Địa lí nhân văn, một đặc điểm khác của địa lí là các thông số rất dễ thay đổi theo thời gian và không gian. Chính vì vậy, mỗi nhánh lại có những đặc điểm riêng, đối tượng nghiên cứu riêng. Tuy nhiên, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và luôn bổ sung cho nhau. * Địa lí tự nhiên           Địa lí tự nhiên là một phân ngành của địa lí chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu hệ thống hóa các mô hình và quá trình diễn ra trong thủy quyển, sinh quyển, khí quyển và thạch quyển. Nó có ý định giúp người ta hiểu sự sắp xếp tự nhiên của Trái Đất, khí hậu và các kiểu mẫu hệ thực vật và động vật của nó. Nhiều lĩnh vực của địa lí tự nhiên sử dụng các kiến thức và kết quả của các ngành khoa học bộ phận như địa chất học, khí hậu học, sinh học v.v…           Đối tượng nghiên cứu của Địa lí tự nhiên là lớp vở Địa lí, thể tổng hợp lãnh thổ, cảnh quan và môi trường địa lí.           Địa lí tự nhiên trong vai trò của một ngành khoa học thông thường tương phản và bổ sung cho ngành khoa học chị em của nó là Địa lí nhân văn.           * Địa lí nhân văn           Địa lí nhân văn là một trong 2 phân ngành của địa lí. Địa lí nhân văn là một nhánh của khoa học xã hội nghiên cứu về thế giới, con người, cộng đồng và văn hóa có sự nhấn mạnh mối liên hệ của không gian và vị trí địa lí. Địa lí nhân văn khác với địa lí tự nhiên chủ yếu tập trung nhiều vào nghiên cứu các hoạt động của con người và dễ tiếp thu các phương pháp nghiên cứu định lượng hơn. 1.3. Vai trò của Khoa học Địa lí           Nhiệm vụ của địa lí là định vị, xác định vị trí và vị thế của các hiện tượng và sự vật, là đánh giá các tổng hợp thể không gian như các điểm, các đường, các vùng, các trường, các mạng lưới và đưa ra các mô hình để tổ chức không gian lãnh thổ, sao cho các hoạt động kinh tế – xã hội của con người diễn ra trên đó đạt được hiệu quả tốt nhất. Chính vì vậy, Địa lí học có vai trò quan trọng trong thực tiễn như hoạt động nghiên cứu, hoạt động đời sống hằng ngày, hoạt động đào tạo v.v…           – Địa lí học đề cập đến nhiều vấn đề rộng, phức tạp cả về tự nhiên lẫn KT – XH nên cung cấp cho người học nhiều khái niệm cần thiết trong cuộc sống.           – Người học hiểu biết được đời sống của các dân tộc trên thế giới, mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với môi trường tự nhiên.           – Địa lí trong nhà trường có khả năng giáo dục cho người học lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, bảo vệ và cải tạo tự nhiên, xã hội. Đồng thời, địa lí rèn luyện cho người học những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống hằng ngày, cho sản xuất, chiến đấu như kĩ năng quan sát, kĩ năng đọc và vẽ bản đồ, xác định phương hướng…           – Địa lí là khoa học tiếp cận hệ thống không gian, có thể giúp các nhà lãnh đạo hay quản lí điều hành tốt sự phát triển bền vững một lãnh thổ hay lãnh hải nào đó. Trong hệ thống tự nhiên thì cơ chế giữ cân bằng là cơ chế tự điều chỉnh. Khi đó tiếp cận hệ thống là quá trình tìm ra các cơ sở, các giải pháp, các phương án khai thác hợp lí, giúp lãnh đạo hay quản lí ra quyết định sáng suốt. Lúc này khoa học địa lí trở thành một khoa học hành động.           – Tạo hiệu quả cao trong quản lí và sử dụng tài nguyên để đảm bảo duy trì sự phát triển KT – XH. Không gian địa lí thống nhất là sản phẩm của con người, của xã hội, là công cụ và môi trường để xã hội tự tái sản xuất. Như vậy, địa lí có vai trò tích cực trong việc tổ chức không gian nhân sinh; trong việc bảo vệ, cải tạo và chống ô nhiễm môi trường.           – Sự phân vùng tự nhiên, phân vùng KT – XH là cơ sở khoa học tổng hợp để đẩy mạnh công cuộc đổi mới, quản lí hiệu quả về tự nhiên và KT – XH. 2. Du lịch và đối tượng nghiên cứu của du lịch 2.1. Khái niệm           Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ.  2.2. Đối tượng nghiên cứu           Đối tượng nghiên cứu của du lịch là các hợp phần và mối quan hệ của chúng tạo nên hệ thống du lịch bao gồm phân hệ tài nguyên du lịch, khách, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch, các dịch vụ du lịch v.v… 3. Địa lí du lịch và đối tượng nghiên cứu           Ngay từ đầu thế kỷ XX đã có các tài liệu mô tả về địa lí của các quốc gia và các vùng trong đó có những thông tin về du lịch. Có thể coi đây là tiền đề cho sự ra đời chuyên ngành địa lí du lịch trong địa lí học.           Địa lí du lịch được coi là một trong những môn cơ sở để hình thành một khoa học mới, khoa học du lịch. Trong lĩnh vực khoa học du lịch, địa lí du lịch là một hướng chuyên ngành quan trọng. Do vậy, Địa lí du lịch là một chuyên ngành của du lịch học chuyên nghiên cứu về hệ thống du lịch theo lãnh thổ phục vụ cho việc khai thác và xây dựng chiến lược khai thác không gian du lịch một cách bền vững.           Đối tượng nghiên cứu của địa lí du lịch ngày càng phong phú và đa dạng. nghiên cứu toàn bộ các hợp thành của hiện tượng du lịch trong hệ thống du lịch; Nghiên cứu đánh giá tài nguyên du lịch; Nghiên cứu, đánh giá các hợp phần của hệ thống du lịch hay toàn bộ hệ thống du lịch 4. Vai trò của Khoa học địa lí trong phát triển du lịch 4.1. Quản lí tài nguyên du lịch           Quản lí tài nguyên du lịch là việc quản lí các nguồn tài nguyên tự nhiên (địa hình, khí hậu, sinh vật nước …) và tài nguyên nhân văn trong khai thác nhằm đẳm bảo tính bền vững. Quản lí tài nguyên du lịch là đưa ra các kế hoạch, các phương hướng chiến lược, các biện pháp quy hoạch và cùng với đó là các chế tài phù hợp nhằm giúp cho công việc khai thác, sử dụng và tái tạo, bảo tồn tài nguyên một cách hợp lí, đúng đắn để mang lại lợi ích tối ưu và hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên.           Du lịch là ngành kinh tế có tính định hướng tài nguyên rõ rệt, chính vì vậy việc quản lí tài nguyên có vai trò quan trọng. Quản lí dưới góc độ địa lí, công tác quản lí tài nguyên du lịch dựa trên cơ sở kết quả phân tích đặc điểm tài nguyên, sự phân bố, sự hình thành và phát triển của chúng, các quy luật của tự nhiên. Từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác quản lí tài nguyên du lịch. 4.2. Sử dụng hợp lí tài nguyên và Bảo vệ môi trường           Sử dụng hợp lí tài nguyên là việc sử dụng tài nguyên theo đúng quy luật tự nhiên. Địa lí làm rõ bản chất các hiện tượng tự nhiên, năm rõ các quy luật tự nhiên, kinh tế – xã hội để cùng tồn tại, khai thác chúng một cách khoa học, hợp lí, đúng quy luật.           Khoa học Địa lí là khoa học không gian và lãnh thổ [1]. Bởi vậy nghiên cứu khai thác hợp lí tài nguyên và quản lí bền vững các dạng tài nguyên là trách nhiệm của đia lí học. 4.3. Quy hoạch sử dụng hợp lí lãnh thổ           Trên cơ sở nghiên cứu địa lí thành phần, phân vùng địa lí tự nhiên, phân vùng kinh tế – xã hội là cơ sở để khoa học giúp các nhà quản lí hoạch định những chiến lược, quy hoạch và tổ chức lãnh không gian trong khai thác lãnh thổ về mặt không gian. 5. Địa lí trong đào tạo hướng dân viên du lịch 5.1. Hướng dẫn viên du lịch           – Những yêu cầu của HDV           Hướng dẫn du lịch là hoạt động hướng dẫn cho khách du lịch theo chương trình du lịch. Người thực hiện hoạt động hướng dẫn được gọi là hướng dẫn viên và được thanh toán cho dịch vụ hướng dẫn du lịch [6].           Hướng dẫn viên du lịch bao gồm hướng dẫn viên quốc tế, hướng dẫn viên nội địa. Hướng dẫn viên quốc tế được hướng dẫn cho khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa; hướng dẫn viên nội địa được hướng dẫn cho khách du lịch nội địa và không được hướng dẫn cho khách du lịch là người nước ngoài.           Những yêu cầu thứ yếu, vô cùng quan trọng của nghề hướng dẫn viên du lịch là người hành nghề HDV Du lịch ngoài những kiến thức và kỹ năng đã qua đào tạo, HDV Du lịch phải tự trang bị cho mình một nền tảng văn hóa, kiến thức và ngoại ngữ vô cùng vững chắc; một bản lĩnh nghề nghiệp kiên định để có thể sẵn sàng đương đầu và giải quyết bất kì một tình huống phát sinh nào trong suốt quá trình dẫn tour.           Có thể nói, hướng dẫn viên du lịch là người đại diện, là đại sứ của một đất nước để giới thiệu với du khách về văn hóa, lịch sử, địa lí… của đất nước mà du khách đến tham quan. Chính vì vậy, yêu cầu đầu tiên của người hướng dẫn viên nhất định phải có là một nền tảng kiến thức tốt, ít nhất là phải có kiến thức về những địa danh mình sẽ đưa du khách đến tham quan. Hướng dẫn viên cũng cần phải có sự hiểu biết về những nét văn hóa đặc sắc ở những vùng đất mình sẽ đưa du khách đến.           Do vậy, về kiến thức địa lí, hướng dẫn viên phải có khả năng nhận biết và vận dụng tổng hợp tài nguyên du lịch; khả năng vận dụng những hiểu biết về địa lí học vào việc thực hiện các yêu cầu của các lĩnh vực hoạt động du lịch; khả năng thực hiện độc lập những nội dung nghiên cứu và nghiệp vụ du lịch thích hợp với các môi trường, đặc biệt là công tác quy hoạch du lịch; Tự thiết kế và triển khai, quản trị được chương trình, nội dung trong hoạt động hướng dẫn tại các địa điểm du lịch, khu vui chơi, giải trí; Có khả năng khai thác và sử dụng một số phương tiện kĩ thuật hiện đại nhằm hỗ trợ hoạt động nghiệp vụ du lịch.            – Những vị trí việc làm của HDV sau khi tốt nghiệp           Sau khi tốt nghiệp sinh viên có thể làm việc tại các vị trí: Hướng dẫn viên du lịch cho các tổ chức, đơn vị lữ hành; nhân viên văn phòng giao dịch của các đơn vị kinh doanh du lịch, các phòng, ban của các cơ quan văn hoá địa phương hoặc làm hướng dẫn viên tại các điểm du lịch [5]. 5.2. Nâng cao trình độ, rèn luyện kỹ nghề HDV theo hướng tiếp cận địa lí học           * Rèn luyện các kỹ năng cho sinh viên           – Kỹ năng sử dụng bản đồ           Trong các loại kỹ năng địa lí, kĩ năng làm việc với bản đồ là cần thiết và quan trọng bởi sử dụng bản đồ giúp người xem có thể khai thác được các kiến thức trên bản đồ làm cho nó trở thành nguồn tri thức địa lí quan trọng. Những tri thức về tự nhiên, kinh tế – xã hội được khái quát hóa dựa trên cơ sở toán học và được thể hiện trên bản đồ bằng màu sắc, ký hiệu.           Kỹ năng làm việc bản đồ trong đó có các kỹ năng định hướng trên bản đồ, đo đạc trên bản đồ, đọc bản đồ, sử dụng bản đồ, lược đồ…Để sử dụng bản đồ hiệu quả, hướng dẫn viên cần rèn luyện các kỹ năng sử dụng bàn đồ. Khi nghiên cứu, tìm hiểu các nội dung trên bản đồ và so sánh chúng với nhau, sinh viên sẽ phát triển được tư duy logic, biết thiết lập các mối liên hệ giữa các đối tượng địa lí. Khi có kỹ năng sử dụng bản đồ, sinh viên có thể tái tạo lại hình ảnh các lãnh thổ nghiên cứu với những đặc điểm cơ bản của chúng, mà không cần tìm hiểu ngoài thực địa.            – Kỹ năng xây dựng các điểm, tuyến du lịch           Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường. Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không [6].           Đối với đào tạo hướng dẫn viên, trong kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, ngoài các kỹ năng hướng dẫn khách, người hướng dẫn phải biết xây dựng chương trình du lịch.           Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi. Việc xây dựng chương trình du lịch dựa trên nhu cầu của khách, đặc biệt, dựa trên hệ thống các tuyến điểm du lịch đã được xây dựng trên các cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học. Một trong những yêu cầu khi xây dựng chương trình du lịch là phải tính đến sự phù hợp giữa đặc điểm tài nguyên và nhu cầu của du khách, khoảng cách tiếp cận và tính hợp lí về thời gian, không gian giữa các điểm đến.           Do vậy, việc xây dựng các tuyến điểm, chương trình du lịch theo hướng tiếp cận địa lí giúp người xây dựng có cách nhìn tổng hợp, lựa chọn những phương án tối ưu nhất dựa trên kết quả tư duy về không gian lãnh thổ (phân bố các điểm du lịch, các sơ sở dịch vụ du lịch, mạng lưới giao thông v.v…), sự phát triển theo thời gian của các yếu tố địa lí (tính mùa vụ của các yếu tố địa lí).           – Ứng dụng và rèn luyện các kỹ năng GIS (Google eath, Google map …)           Sử dụng công nghệ GIS đối với hướng dẫn viên du lịch đây là một kỹ năng bổ sung, cần thiết để nâng cao hiệu quả công việc. Ngày nay, một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp ngoài việc dẫn đoàn, dẫn tour tốt, có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm nhiều, ngoại ngữ giỏi,…thì còn cần tự trang bị những kỹ năng trong việc sử dụng thành thạo công nghệ thông tin, trong đó có việc sử dụng công nghệ GIS trong việc tìm kiểm thông tin, xác định vị trí, phân bố không gian của các đối tượng tham quan … góp phần rất lớn vào sự thành công của chuyến đi.           GIS hiện nay đã được tích hợp trên internet, trên các thiết bị thông minh như điện thoại, ipad v.v…Vì vậy, việc tìm kiếm thông tin một địa điểm muốn đến như một điểm du lịch, một thành phố, một vùng nông thôn hay thậm chí cả 1 đất nước v.v… đã trở lên đơn giản và dễ dàng hơn. Đặc biệt, những địa điểm mà hướng dẫn viên chưa từng đặt chân tới, GIS sẽ giúp hướng dẫn viên lựa chọn tuyến đường, thời gian đi dự kiến, độ dài tiếp cận điểm đến và lưu giữ những địa chỉ cho những lần sau.           * Tìm hiểu, nghiên cứu địa phương           Tìm hiểu thông tin điểm đến thông qua cách tiếp cận địa lí. Một trong những tư duy đặc trù và quan trọng nhất của địa lí là tư duy theo lãnh thổ. Tư duy lãnh thổ là tư duy về tính đặc thù của đặc điểm tự nhiên và kinh tế – xã hội của mỗi lãnh thổ. Tính đặc thù này dẫn đến các đặc trưng về cư trú, sản xuất, sinh hoạt, lối sống, phong tục tập quán …Ngoài ra, tư duy lãnh thổ còn là tư duy so sánh về tính tương đồng và dị biệt giữa các lãnh thổ, đây là một trong những yêu cầu trong cung cấp thông tin về các điểm cho khách của hướng dẫn viên.           Địa lí là ngành học vừa thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, vừa thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, thực hiện chức năng nghiên cứu các hợp phần tự nhiên, các quy luật và hiện tượng tự nhiên diễn ra trên bề mặt trái đất, mối quan hệ và tương tác giữa xã hội loài người với môi trường tự nhiên.           + Thông tin về tự nhiên           + Thông tin về KT-XH           Đối với các thông tin về kinh tế – xã hội, việc tìm hiểu dưới góc độ địa lý cũng sẽ mang lại kiến thức tổng hợp, có hệ thống. Các yếu tố về kinh tế – xã hội, nhân văn đều có mối quan hệ với nhau và chịu ảnh hưởng của các yếu tố địa lý tự nhiên. Chính vì vậy, các kiến thức địa lý sẽ cho biết những đặc trưng, sự khác biệt theo các vùng miền. Cụ thể, đối với Việt Nam, các công trình địa lí đồ sộ như “Atlat quốc gia Việt Nam”, “Thiên nhiên Việt Nam”, “Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lí”, “Địa lí tự nhiên Việt Nam”,… của các nhà địa lí Việt Nam sẽ mãi mãi đóng góp vào bản sắc văn hoá Việt Nam. Dưới góc độ văn hoá, các công trình địa lí đã “vẽ được những đường nét của văn hoá Việt Nam ở các vùng miền khác nhau và chỉ ra được sự vận động của văn hoá trong không gian” [4].           * Quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường: Khai thác hợp lí, khai thác dựa trên các quy luật tự nhiên.   Tài liệu tham khảo [1]. Vũ Tự Lập (2004), Sự phát triển của khoa học địa lí trong thế kỷ 20, NXB Giáo dục. [2]. Nguyễn Đình Kỳ, Nguyễn Trần Cầu (), Địa lí Việt Nam – Cơ hội và thách thức trong nửa đầu thế kỷ 21. [3]. Nguyễn Trọng Hiếu, Phùng Ngọc Đĩnh (2006), Địa lí tự nhiên đại cương 1. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. [4]. Trần Quốc Vượng (1998), Việt Nam – Cái nhìn địa văn hóa, NXB Văn hóa Dân tộc. [5]. Chương trình đào tạo chuyên ngành Hướng dẫn du lịch, Đại học Sao Đỏ (Tài liệu lưu hành nội bộ). [6]. Luật Du lịch Việt Nam (2005), NXB Chính trị quốc gia. [7]. Nguyễn Minh Tuệ và nnk (1997), Địa lí du lịch, NXB Tp Hồ Chí Minh.

Giữa các khoa học bộ phận tồn tại những nhiệm vụ chung phải giải quyết: Trên cơ sở nhận thức được các quy luật phát sinh, phát triển của môi trường địa lí để xác định cho đúng đắn đặc tính của mối quan hệ giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống KT – XH.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Từ Ứng Dụng Công Nghệ / 2023 trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!