Xu Hướng 2/2023 # Nguồn Gốc Và Cấu Tạo Của Đá Hoa Cương # Top 6 View | Nhatngukohi.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Nguồn Gốc Và Cấu Tạo Của Đá Hoa Cương # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Nguồn Gốc Và Cấu Tạo Của Đá Hoa Cương được cập nhật mới nhất trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngoài ra, khi cần thiết, bạn có thể thấm một ít dung dịch chuyên dụng để loại bỏ vết bẩn hiệu quả. Đá hoa cương, mang nét tinh tế, thuần khiết của thiên nhiên, dưới sự tác động của địa chất nên những đường vân và màu sắc vô cùng ấn tượng. tím Mông Cổ, Dùng đá hoa cương cho công trình sẽ giúp tạo cảm giác sạch sẽ, thông thoáng. Ngoài ra, khi cần thiết, bạn có thể thấm một ít dung dịch chuyên dụng để loại bỏ vết bẩn hiệu quả. Đá hoa cương, mang nét tinh tế, thuần khiết của thiên nhiên, dưới sự tác động của địa chất nên những đường vân và màu sắc vô cùng ấn tượng. Đồng thời, việc vệ sinh, lau chùi cho đá cũng rất nhanh chóng. Ngoài ra, khi cần thiết, bạn có thể thấm một ít dung dịch chuyên dụng để loại bỏ vết bẩn hiệu quả.

Các mẫu đá hoa cương với màu sắc trắng, vàng tươi, xám, tím, xanh. Là những mẫu đá hoa cương được sử dụng nhiều trong thiết kế các công trình lớn như nhà hàng, khách sạn, bảo tàng, di tíc. Tùy vào từng nhu cầu lắp đặt cũng như từng gu thẩm mĩ mà khách hàng có thể lựa chọn cho riêng mình dòng sản phẩm đá hoa cương phù hợp nhất. Ngoài các sản phẩm có giá cả tầm trung thì còn có loại đá hoa cương với giá cả đắt hơn nhiều. Lựa chọn mẫu đá hoa cương đẹp gia chủ cần lưu ý một điều khá quan trọng đó chính là phong thủy. Đây là một yếu tố chi phối đến đường tài vận, sức khỏe, tình yêu và hạnh phúc của gia chủ.

Đá hoa cương là vật liệu xây dựng ứng dụng trong thiết kế các công trình, hạng mục kiến trúc nhờ khả năng bền, chịu nhiệt, sang trọng và dễ dàng trong lau chùi, vệ sinh. Tuy nhiên, giá cả của dòng sản phẩm này hiện nay ở mức giá khá cao so với các loại đá thông thường và cả với các vật liệu xây dựng truyền thống như gỗ, bê tông. Bắt được tâm lí này của khách hàng, nhiều công ty đã cho ra đời các dòng sản phẩm Đá hoa cương nhân tạo. Bạn đang phân vân không biết nên lựa chọn địa chỉ nào cung cấp Đá hoa cương chất lượng tốt nhất, với một mức giá hải chăng. Đá hoa cương là vật liệu xây dựng ứng dụng trong thiết kế các công trình, hạng mục kiến trúc nhờ khả năng bền, chịu nhiệt, sang trọng và dễ dàng trong lau chùi, vệ sinh. Tuy nhiên, giá cả của dòng sản phẩm này hiện nay ở mức giá khá cao so với các loại đá thông thường và cả với các vật liệu xây dựng truyền thống như gỗ, bê tông.

Tuy nhiên bạn hoàn toàn yên tâm cũng như không phải lo lắng về vấn đề vệ sinh, Khi bạn được ngắm nhìn các ngôi nhà biệt thự sử dụng đá hao cương carara bạn sẽ trầm trồ, cũng như bị cuốn hút bởi vẻ đẹp sang trọng, tinh tế. tại những địa điểm quan trọng thường xuyên đón tiếp khách như các khách sạn cao cấp, trung tâm thương mại, các ngôi nhà mặt phố. Việc vệ sinh lau chùi Đá hoa cương rất thuận lợi nhanh chóng dễ dàng, bởi vì màu sắc chủ đạo của đá hoa cương chính là tông màu trắng cho nên bạn phải thường xuyên vệ sinh thì mới giữ được màu sắc láng bóng và tươi trẻ. Tuy nhiên bạn hoàn toàn yên tâm cũng như không phải lo lắng về vấn đề vệ sinh, Ngoài ra Đá hoa cương với màu sắc trắng tươi trẻ, sang trọng, cá tính được sử dụng rất nhiều trong việc trang trí như lát nền nhà, cầu thang, ốp tường, nhưng đơn giá trên chưa bao gồm thi công vận chuyển và các vật liệu phụ chờ phơi khô thêm một lận rồi tiens hành lắp gép thử nghiệm theo khuôn mẫu hiện thực của công trình trên giả thuyết,

Không chỉ có ưu điểm trên, đá hoa cương còn có khả năng chống thấm, chống ẩm, chống nước khá tốt. Chính vì vậy khi lựa chọn loại đá cho công trình, rất nhiều khách hàng đã lựa chọn Đá hoa cương cho dù mức giá của loại đá này có cao hơn so với các loại đá khác Ngoài ra, loại đá này còn có thể chịu lực, chịu nhiệt độ một cách khá tốt là đặc tính mà dòng đá granite luôn được người tiêu dùng yêu thích. Không chỉ có ưu điểm trên, đá hoa cương còn có khả năng chống thấm, chống ẩm, chống nước khá tốt. tư vấn tốt nhất cho mình giúp bạn thiết kế xây dựng những căn nhà sử dụng đá hoa cương đẹp lộng lẫy như vậy đá hoa cương, Theo các kiến trúc sư thì những sản phẩm đá hoa cương nói chung và dòng

Bởi khi mua hàng tại đơn vị có thương hiệu không những giúp bạn yên tâm về chất lượng mà còn đảm bảo mua hàng với mức giá hợp lý Đá hoa cương cầu thang là loại loại Đá hoa cương với tính năng chịu nước, chịu mài mòn và va đập một cách tốt nhất. Vì vậy mà loại đá này được sử dụng khá rộng rãi và phổ biến trong các công trình cần ốp ở các mặt tiền của không gian sử dụng. Bạn muốn tìm được những nhà thiết kế đá hoa cương, Mang đến một không gian thanh lịch, quý phái nhưng lại vô cùng mộng mơ, tạo ra một nơi nghỉ ngơi lý tưởng Đá hoa cương cầu thang là loại loại Đá hoa cương với tính năng chịu nước, chịu mài mòn và va đập một cách tốt nhất.

Đá Mã Não Là Gì? Nguồn Gốc Và Thành Tạo Đá Mã Não

Đá mã não được nhiều người ưa thích sử dụng làm trang sức vì vẻ đẹp và công dụng của nó trong phong thủy. Tuy nhiên nhiều người vẫn chưa hiểu rõ về loại đá này cũng như tác dụng, ý nghĩa thực sự của nó. Để trả lời cho những băn khoăn này, chúng tôi xin được chia sẻ một vài thông tin sau.

Nguồn gốc và khái niệm đá mã não

Đá mã não có tên tiếng anh là Agat, là một dạng biến thể vi kết tinh của Thạch anh. Loại đá này có cấu tạo hóa học tương tự đá Thạch anh nhưng đặc trưng của đá mã não là được tạo thành từ những vi hạt mịn và màu sáng. Chính vì thế khi sử dụng đá mã não đế chế tác thành đồ trang sức, thủ công đều có vật phẩm đẹp, bóng và mịn màng thu hút khách hàng. Cái tên Agat là do nơi loại đá này được tìm thấy lần đầu tiên tại sống Achates của hy Lạp.

Đá mã não là loại đá thuộc nhóm chalcedony và thành phần hóa học của nó là Sio2. Độ cứng của mã não là từ 6.5-7 MOHS và có tỷ trọng 2.6.

Phân loại đá mã não

Hiện nay theo các chuyên gia nhận định có rất nhiều loại đá mã não khác nhau và không thể kể tên toàn bộ chúng một cách rõ ràng. Đặc biệt sẽ có những loại đá mã não khác biệt và ấn tượng với những vẫn lớn độc đáo. Đá mã não đẹp là loại có các đường vân tròn xoay đều xung quanh tâm của nó.

Đá mã não còn phân loại dựa trên màu sắc của nó. Đây cũng được xem là một loại đá có màu sắc phong phú ngang với sapphire. Đá mã não có rất nhiều màu sắc phổ biến và được yêu thích như trắng sữa, vàng phớt, vàng sậm, cam, xanh lá cây, đỏ. Trong đó đá mã não đỏ, vàng đang rất phổ biến, được nhiều người sử dụng làm trang sức.

Ý nghĩa của đá mã não đỏ

Đá mã não nói chung và đá mã não đỏ nói riêng mang nhiều ý nghĩa với cuộc sống của con người từ nhiều thế kỷ, đặc biệt trong lĩnh vực phong thủy. Chính vì thế hiện nay sử dụng đá mã não đỏ để làm đồ trang sức và đồ đang trí đang trở nên phổ biến. Vậy nó có những tác dụng và ý nghĩa gì?

Ý nghĩa chung của đá mã não

Người Ai Cập xưa cho rằng đá mã não có những quyền năng đặc biệt có thể xua đuổi những điều xui xẻo, bất hạnh cho những người sử dụng. Với người Châu Âu đá mã não có ý nghĩa mang lại nhiều sức khỏe cho người đeo. Và đàn ông ở đây sử dụng đá mã não như một loại trang sức để thể hiện được sự mạnh mẽ và quyến rũ của mình.

Đá mã não đỏ có lợi cho sức khỏe

Đá mã não đỏ có tác dụng rất lớn đến sức khỏe. Nhiều nơi dùng đá mã não đỏ đặt lên trán để giải cảm và hạ sốt. Đeo đá mã não đỏ bên người giúp người đeo cảm thấy thư giãn, thoải mái hơn và cải thiện được sức khỏe hạn chế ốm đau. Với những người hay ra mồ hôi trộm, mồ hôi tay đeo đá mã não thường xuyên sẽ hạn chế và cải thiện được tình trạng này.

CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH

Tác động tích cực đến tin thần

Theo quan niệm của nhiều nơi, đá mã não đỏ có khả năng xua đuổi tà khí, ma quỷ do được hút tinh khí của đất trời khi nằm dưới lòng đất hàng nghìn năm. Đá mã não đỏ cũng giúp người đeo cảm thấy thanh thản về tâm hồn. Nên với những người nóng tính, người hay căng thẳng, áp lực đeo đá mã não bên người sẽ giúp thư giãn, thoải mái. Còn đối với những người thường tự ti về bản thân, yếu đuối và hay sợ hãi thì đá mã não đỏ giúp người đeo trở nên mạnh mẽ và nhiệt huyết, giúp cải thiện được giao tiếp và có cuộc sống, sự nghiệp thuận lợi hơn.

Lời kết về đá mã não đỏ

Ngoài ra, nếu đang tìm kiếm một địa chỉ buôn bán đá quý phong thủy uy tín, các bạn có thể truy cập website chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ. Tại đây, các nhân viên tư vấn giàu kinh nghiệm, am hiểu về phong thủy và các loại đá quý sẽ giúp bạn chọn được những món trang sức đá quý phù hợp, giúp mang lại may mắn cho cuộc sống của bạn trong tương lai.

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Cây Hoa Mai

Vào mùa xuân có rất nhiều loài hoa đua nhau nở rộ đủ màu sắc bên những chồi non ú nụ, với những chiếc lá xanh mướt. Mỗi loài hoa có một hương sắc đẹp riêng, tạo nên một vẻ đẹp rất tiêng của mùa xuân. Mùa xuân cũng là vào dịp tết, những cây tượng trưng cho ngày tết chính là cây hoa mai, hoa đào,… làm không khí thêm ấm áp và nhộn nhịp hơn.

Tổng quan về cây Hoa Mai

Thông tin cơ bản về cây hoa mai

Cây mai thuộc họ Ochnaceae, có tên khoa học Ochna integerima còn được gọi là cây hoàng mai, rất được ưa thích vào ngày Tết Cổ Truyền ở miền Nam Việt Nam.

Tại Việt Nam, loài này phân bố tự nhiên nhiều nhất tại những khu rừng thuộc dãy Trường Sơn và các tỉnh từ Quảng Nam, Đà Nẵng cho tới Khánh Hòa. Loài hoa này cũng có nhiều tại các vùng núi ở đồng bằng sông Cửu Long, và tại cao nguyên cũng có, song số lượng ít hơn.

Là cây đa niên, có thể sống trên một trăm năm, gốc to rễ lồi lõm, thân xù xì, cành nhánh nhiều, lá mọc xen. Ngoài thiên nhiên, cây mai tự rụng lá vào mùa Đông và ra hoa vào mùa Xuân. Do đó, ông cha chúng ta đã lảy hết lá vào tháng chạp âm lịch, để kích thích cho cây mai ra hoa rộ vào dịp tết Nguyên đán.

Đặc điểm của cây hoa mai

Có thân cứng, cành giòn, lá nhỏ, hoa to và phẳng, lâu tàn. Mai có dáng vẻ thanh cao. Thân cây mềm mại, lá xanh biếc dịu dàng, hoa tươi rực rỡ…

Cấu tạo của cây hoa mai

1. Rễ cây mai vàng

Bộ rễ mai vàng có thể đâm sâu 2 – 3 m. Sự phân bố của bộ rễ phụ thuộc vào tính chất đất, mực nước ngầm nơi trồng, hình thức nhân giống như gieo hạt, chiết cành, ghép và điều kiện kỹ thuật chăm sóc.

2. Thân cây mai vàng

Là cây thân gỗ cao lớn nếu để mọc và sinh trưởng tự do, cây mọc từ hạt có thể cao tới 20 – 30 m, tán lá thưa.

3. Lá cây mai vàng

Lá đơn, mọc so le, phiến lá hình trứng thuôn dài, mặt dưới màu hơi ánh vàng.

4. Hoa mai vàng

Hoa lưỡng tính mọc thành chùm. Hoa mai thường mọc ra từ nách lá, mới đầu là một hoa to, gọi là hoa cái, có vỏ lụa (vỏ trấu) bọc bên ngoài.

Khi vỏ lụa bung ra, thì xuất hiện một chùm hoa con, từ một nụ đến mười nụ, tăng trưởng rất nhanh, độ bảy ngày sau là nở.Thường hoa nở 3 ngày thì tàn. Ngày thứ nhất, 5 cánh và chùm nhụy xoè thẳng ra rất đẹp. Ngày thứ hai, 5 cánh vảnh lên và chùm nhụy dụm lại. Qua đến ngày thứ ba, 5 cánh bắt đầu rơi lả tả theo chiều gió, hoa tàn

5. Quả mai vàng

Sau khi tàn, hoa nào đậu thì bầu noãn phình to lên và kết hạt.

Nguồn gốc, ý nghĩa của hoa mai

Nguồn gốc của hoa mai

Cây mai có nguồn gốc từ Trung Quốc. Theo sách “Trân hương bảo ngự” của Phí Cung Ấn, đời Minh chép rằng: ” Đắc Kỷ ái lãm hàn mai, Trụ tằng ngự tuyết đồng lãm chi”. Nghĩa là Đắc Kỷ thích ngắm hoa mai trong giá lạnh. Trụ vương thường đội tuyết cùng ngấm. Như vậy, cách đây đã hơn 3000 năm, cây mai đã có mặt trên đất nước Trung Quốc.Người Trung Quốc vốn nặng tình với mai từ lâu lắm và xem Mai, Tùng, Cúc thuộc nhóm “Tuế tàn tam hữu”. Ý nói chịu được tuyết lạnh chẳng khác bật trượng phu khí tiết vững vàng, chịu được mọi nghịch cảnh và không bao giờ khuất phục bạo quyền.

Người Trung Quốc vốn nặng tình với mai từ lâu lắm và xem Mai, Tùng, Cúc thuộc nhóm “Tuế tàn tam hữu”. Ý nói chịu được tuyết lạnh chẳng khác bật trượng phu khí tiết vững vàng, chịu được mọi nghịch cảnh và không bao giờ khuất phục bạo quyền.

Yêu mai, người Trung Quốc xem hoa mai là quốc hoa, cũng như hoa đào là quốc hoa của người Nhật, có lẽ vì vậy mà họ đặt tên cho mai khá cầu kỳ. theo sách “Mai phổ” thì loại hoa mai có sáu cánh tròn đẹp như hoa thuỷ tiên nên gọi là “Thủy tiên mai”, hoa có từng cặp gọi là “Uyên ương mai”, gọi hoa màu đỏ hồng gọi là “Yên chi mai”, mai có đài hoa màu xanh đậm gọi là “Lục ngạc mai” rồi “Hạc đình mai”…nhưng tựu chung cũng nằm trong 4 loại chính: Bạch mai: Sắc trắng như tuyết; Hồng mai: Sắc hồng như máu; Thanh mai: Sắc vàng tươi hay vàng đậm; còn có Mặc mai: màu đen hay tím đen (loại này không thấy trồng phổ biến).

Mai có xuất xứ từ cây hoang dại, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đặc biệt với khí hậu miền Nam. Cây mai sinh trưởng và phát triển mạnh, có tuổi thọ cao và nếu được chăm sóc chu đáo sẽ cho hoa nhiều và có màu sắc đẹp. Cây mai mỗi năm rụng lá một lần vào cuối mùa Đông (tháng 1 – tháng 2 Dương lịch) và nở hoa vào đầu mùa Xuân, chỉ riêng mai Tứ Qúy là nở hoa quanh năm.

Đã từ lâu hoa mai đã được mọi người chiêm ngưỡng, tượng trưng cho những gì đẹp đẽ thanh tao. Mỗi khi hoa mai nở rộ là mỗi lúc lòng người hớn hở nao nao, là dấu hiệu mùa xuân đang về. Hoa mai và ngày xuân là một biểu tượng không thể thiếu cho phần lớn các sắc dân cư ngụ trong vùng Á Châu. Khi nói đến ngày xuân, người ta liên tưởng đến ngày đầu năm, thật vậy, ngày Tết Nguyên Đán mà thiếu vắng bóng dáng hoa mai là một điều thiếu sót lớn mà mọi người trong chúng ta đều mặc nhiên công nhận. Đã từ lâu hoa mai đã đóng một vai trò quan trọng trong văn học Á Đông, đó là nguồn cảm hứng của biết bao danh nhân.

Ý nghĩa của hoa mai

Miền Bắc có hoà đào thì miền Nam có hoa mai. Màu vàng của hoa mai từ lâu được xem là màu tượng trưng cho sự giàu sang, phú quý. Người ta chưng hoa mai vào dịp Tết với mong muốn một năm mới phát tài, giàu sang. Theo quan niệm của nhiều người, nhà nào có hoa mai nở càng nhiều cánh thì nhà đó càng may mắn và sung túc trong năm mới.

Cây mai có rễ cắm sâu vào lòng đất, không bị gục ngã trước gió bão. Nó cũng có thể chịu đựng được mọi loại thời tiết, kể cả khắc nghiệt. Bởi vậy mà mai còn tượng trưng cho phẩm đức nhẫn nại và đức hy sinh cao cả, sự bền bỉ của người Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, mai còn là biểu tượng cho sự cao thượng, quyền quý.

Những đoá mai vàng nợ rộ trong tiết xuân còn cho thấy niềm vui, niềm hân hoan, hạnh phúc, tình yêu thương, tinh thần đoàn kết và gắn bó mọi người lại với nhau.

Phân loại các loại hoa mai tại Việt Nam

Cách phân loại 1

Trên thế giới có hơn 20 loại mai khác nhau. Riêng tại Việt Nam, có khoảng 8 loại, gồm: Bạch Mai, Hồng Mai, Hoàng Mai, Nhất Chi Mai, Mai Tứ Quý, Mai Chiếu Thủy, Song Mai.

Song mai: Hoa màu trắng muốt, ra hoa và kết trái từng đôi nên được gọi là song mai.

Mai mơ: Còn gọi là Hạnh mai, thông tục gọi là cây mơ. Tên khoa học là Prunes Mume (Armeniaca Mume), xếp vào họ Rosaceae, có khoảng 300 loại. Cây mai mơ cao từ 6 – 9m, lá rộng tròn và dài, đầu nhọn, có răng cưa. Hoa nở vào đầu xuân, sau đó mới nẩy lá, đài hoa đỏ tía hoặc xanh thẫm, hoa thường có 5 cánh với hai sắc: trắng và hồng. Hoa mai mơ sắc trắng còn được gọi là Lục Ngạc Mai. Hoa kết thành quả, quả khi chưa chín có màu xanh, khi quả chín có màu vàng. Trái có vị chua ngọt, mùi thơm phảng phất rất lâu.

Tại miền Nam, vì thuộc khí hậu nhiệt đới và gần đường xích đạo hơn so với miền Bắc, ngày Tết luôn rơi vào lúc thời tiết nóng, nên ta có thể tìm thấy các loại mai như mai Chiếu Thủy, Nhất chi mai, mai Tứ Quý, Bạch mai, Hoàng mai, Nam mai và một loại mới, đó là mai trắng Miến Điện.

Mai chiếu thủy: là cây đa niên, gốc to, cành nhánh nhiều. Cao khoảng 1,5m. Lá dài, nhỏ, mọc thành đôi. Hoa nhỏ 5 cánh, mọc thành chùm nhỏ li ti, màu trắng tuyền, có mùi thơm dịu dàng, dễ chịu. Cuống hoa dưới luôn luôn hướng xuống đất nên được gọi là mai Chiếu Thủy.

Nhất chi mai: hoa màu trắng pha hồng, thường gặp ở miền Nam.

Mai tứ quý: là loại mai có 5 cánh màu vàng tươi, tên khoa học là Ochna Astropurpur. Hoa không nhiều, nhưng tự trổ, không cần trảy lá trước. Loài hoa này được coi là một loại mai kiểng. Vì loài hoa này nở quanh năm, mùa nào cùng có thể trổ hoa nên còn được gọi là mai Tứ Quý. Ngoài ra còn có tên gọi khác là “Mai đỏ”, nguyên do chính là khi hoa tàn 5 cánh hoa vàng rụng hết và 5 đài hoa bên dưới liền biến thành đỏ sẫm. Các đài hoa thay vì xòe ra như trước khi tàn, lại úp vào ôm lấy nhụy, trông như đóa hoa búp vậy. Nhụy hoa bên trong kết hạt, từ màu xanh khi còn non đổi sang màu đen lúc già, to dần, đẩy 5 đài hoa lại nở bung ra lần thứ hai như một đóa hoa mai màu đỏ, chính vì lẽ đó mà mai Tứ Quý còn được gọi là Nhị Độ mai (hoa nở 2 lần, trước vàng, sau đỏ).

Bạch mai: cây cao 15m, hoa có mùi thơm dễ chiu như mai Chiếu Thủy. Hoa bạch mai có dáng như hoa sứ, màu trắng trong tượng trưng cho sự tinh khiết, có từ 6 đến 8 cánh tròn lớn, dày, nhụy vàng, có mùi thơm thoang thoảng hòa lẫn sương đêm, thuộc loại hoa hiếm. Mai trắng rất yếu, khó chăm sóc và nuôi dưỡng. Có nhiều ở vùng núi Bà Đen – Tây Ninh, hay ở Bến Tre, Hà Tiên.

Nam mai: là một loại mai trắng có rất nhiều ở vùng “Nam kỳ lục tỉnh”, đó chính là cây Mù U. Cây mù u có tên khoa học là Ochrocarpus samensis,thuộc họ Guttiferae (măng cụt). Cây mù u thân mộc, lá mù u to bản, dày, kích thước bằng bàn tay người lớn. Trái mù u tròn, to cỡ ngón chân cái, không ăn được. Hột mù u ép làm dầu thắp đèn (nhiều khói, ít sáng). Hoa mù u 5 cánh trắng và to như hoa Bạch mai.

Hoàng mai: mai vàng, còn được gọi là Lạp mai. Lạp là sáp ong, được ví với màu vàng tươi nhuận của hoa mai. Còn hiểu cách khác thì Lạp nguyệt là tháng chạp, vậy Lạp mai là loài hoa mai chỉ nở một lần trong năm vào cuối tháng chạp (tháng 12 âm lịch). Tại Việt Nam, nơi có nhiều mai vàng nhất là trong những khu rừng thuộc dãy Trường Sơn, thuộc các tỉnh từ Quảng Nam, Đà Nẵng đến Khánh Hòa. Rừng ở các tỉnh cao nguyên cũng có, nhưng ít hơn.

Mai vàng mọc trên rừng còn gọi là “Mai núi”. Mai núi do phải chen tìm đất sống với những cây khác ở địa thế khắc nghiệt trong cuộc sinh tồn nên dáng cây có vẻ đẹp đặc biệt. Hoa lại có nhiều cánh. Có hoa có từ 12 đến 18 cánh.

Một loại mai vàng khác mọc ở triền cát, rừng ven biển được gọi là “Mai Động”. Dáng cây mai động suông, tròn, hoa ra chi chít, cánh nhỏ. Các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình, Quảng Trị đổ vào, kéo dài đến tận đồng Nai, Tây Ninh, nơi nào cũng có mai vàng.

Cách phân loại 2

1. Mai năm cánh

Loại mai vàng mọc phổ biến tại miền Trung (Từ Đà Nẵng, Quảng Nam cho đến Khánh Hòa) và trên dãy trường Sơn, trong những khu rừng già. Đây là loại mai năm cánh tự nhiên, hoa nhỏ, thân vừa và nở hoa không nhiều và rậm như một số loài mai khác mà nở thưa thớt. Nhưng nếu lạc vào rừng mai này vào mùa xuân thì chúng ta sẽ thấy sắc hoa vàng rực rỡ cả một khu rừng, cả một triền núi và xác hoa rơi có khi vàng cả một dòng suối. Hương thơm ngập tràn và lan tỏa cả một vùng rộng lớn. Ở một số ngọn núi thuộc đồng bằng sông Cửu Long như tại vùng Thất sơn (bảy núi) cũng có loại mai này nhưng ít hơn và rải rác không tập trung.

2. Mai núi

Cũng là một loại mai rừng nhưng có số lượng cánh nhiều hơn từ 12 cho đến 18 cánh, có khi còn hơn thế nữa. Mai này mọc trên những núi đá khô khốc và sống chủ yếu bằng hơi sương, nước mưa và nước ngầm trong lòng đất cộng với khí hậu ẩm thấp của miền núi. Loài mai này thường xuất hiện nhiều tại các vùng núi thuộc Tây Nguyên và nước bạn Campuchia.

3. Mai chủy

Cũng là một loại mai rừng nhưng thân cây rất to, hoa nhiều, lá rộng, xanh bóng và có hình răng cưa. Loại mai này có hoa mọc thành chùm rất đẹp nên gọi là mai chủy (chủy có nghĩa là chùm, quần thể, quây quần lại, đặc nghẹt).

4. Mai động, mai sẻ

Là một loại mai chuyên mọc ở những vùng cát trắng gần biển. Loại mai này có thân suôn thẳng và tròn và trổ bông thưa thớt. Nếu chúng trổ năm cánh thì gọi là mai sẻ, còn nếu có hơn năm cánh thì đúng là loa mai động. Mai động và mai sẻ mọc rải rác từ các tỉnh từ Quảng Bình, Quàng Trị vào tận các vùng duyên hải thuộc miền trung và có khi thấy chúng ở các vùng đồi cát trắng thuộc miền nam như Tây Ninh, Đồng Nai, Biên Hòa v..v..

5. Mai chùm gửi, mai tỳ bà, mai vương

Là một loại mai sống nhờ trên thân cây khác, nhất là các loại cây cổ thụ to lớn, chúng sống bám vào thân cây, một phần hút chất dinh dưỡng từ đất, một phần hút chất dinh dưỡng từ cây mà chúng bám vào. Không giống các loại chùm gửi khác chỉ bám trên thân cây khác, mai chùm gửi sống phân nửa dựa vào bộ rễ bám vào lòng đất của nó. Mai chùm gửi có thân ghồ ghề, cứng và xù xì cùng với những khối u kì dị. Chồi và tược cũng như hoa đâm ra từ những khối u đó. Hoa trổ khá dày và khít thành từng chùm đặc nghẹt. Có nơi còn gọi nó là mai tỳ bà hay mai vương.

6. Mai hương, mai thơm hay mai ngự

Là một loại mai vàng có mùi hương rất thơm, thơm hơn tất cả các loài mai khác. Mùi hương của nó rất đặc biệt và có lẽ là nồng nàn hơn tất cả các loài mai nên nó được gọi là mai hương cho đúng với tính chất đặc biệt của loài mai vàng năm cánh này. Ở Bến Tre cũng có rất nhiều loại mai này mà người dân ở đây gọi nó bằng một cái tên rất miệt vườn là “Mai thơm” vì nó rất thơm, thơm hơn những loại mai thông thường mà người dân Nam bộ thường gặp. Ở Huế, loại mai này còn được gọi là “Mai ngự” vì nó được trồng trong cung và rất được Hoàng tộc mến chuộng dùng làm quà biếu cao cấp nên nó gọi là “Mai ngự”.

7. Mai châu (Mai trâu)

Là một loại mai trổ hoa rất lớn, hoa của loài mai này lớn một cách lạ thường, cánh to và rộng, màu vàng rực. Mỗi đóa hoa có đường kính hơn 5cm nên người ta gọi nó là mai trâu mà người Nam bộ thường đọc trại ra thành ” mai châu”.

8. Mai liễu

Là một loại mai có cành rất mềm và rũ xuống như cây liễu, hoa trổ rất ít. Lá mai nhọn và nhỏ, thon dài như lá liểu nên được gọi là mai liễu.

9. Mai nhọn

Là một loại mai có lá dài và nhọn, nụ hoa và cánh hoa cũng có hình dạng tương tự.

10. Mai Cà Ná

Là loại mai đặc trưng mọc tại vùng biển Cà Ná thuộc tỉnh Ninh Thuận. Loài mai này có thân nhỏ, èo uột, cành rất giòn, dễ gẫy, lá hình bầu dục, trơn láng và có răng cưa quang rìa lá. Người dân ở đây gọi nó là mai rừng Cà Ná.

11. Mai Vĩnh Hảo

Vào địa phận của tỉnh Bình Thuận, thuộc huyện Tuy Phong, xã Vĩnh Hảo, nơi có nguồn nước khoáng thiên nhiên nổi tiếng nhất Việt Nam là “Nước khoáng Vĩnh Hảo” thì có một loại mai vàng nữa cũng là loài đặc trưng của vùng này, không khác gì mấy so với mai Cà Ná nhưng nó lại được người dân ở đây đặt cho cái tên theo địa danh nơi nó đang sống là “Mai Vĩnh Hảo”. Mai Vĩnh Hảo có thân cứng, lá nhỏ, hoa to và phẳng, đặc biệt rất lâu tàn.

12. Mai tứ quý

Loài mai đặc trưng của vùng Nam bộ. Mai này cũng trổ hoa vàng nhưng sau khi cánh hoa rụng đi thì đài hoa còn lại năm cánh màu đỏ với nhụy hoa và ba hạt màu đen như hạt đậu. Năm cánh hoa màu đỏ cũng tròn trịa và giống hình một đóa hoa mai. Do tính chất nở hai lần trên cùng một đóa nên người ta còn gọi mai tứ quý là nhị độ mai. Mai này trổ bông lác đác quanh năm nên mới gọi là mai tứ quý (xuân, hạ, thu, đông đều trổ hoa). Mai tứ quý thân sần sùi và đen. Có cây phát triển rất to và cao nhưng đa số là những cây lâu năm. Càng lâu năm nhìn nó càng cổ kính và chắc chắn.

13. Mai giảo

Là loại mai có rất nhiều cánh được ghép lại từ nhiều loại mai khác nhau trên cùng một cây mai. Mai giảo lấy gốc mai vàng làm chủ đạo sau đó ghép nhánh của các loại mai khác vào để cho ra đời một loại mai có rất nhiều cánh, rất nhiều màu sắc trên cùng một cây mai. Loại này là loại mai nhân tạo mà chúng ta thấy rất nhiều hiện nay trên thị trường mai Tết.

Sáu loại mai trên thế giới

1. Mai vàng Campuchia (Mai Cao Miên)

Tên khoa học là Ochna integerrima. Hoa mai có từ 5 đến 9 cánh, khi nở ra thì úp ngược về phía cuống hoa chứ không xòe rộng như các loại mai Việt Nam, hoa có màu vàng tái (sậm gần như cam đậm). Loại mai này cũng có thấy ở Việt Nam, phần nhiều mọc trong những khu rừng thuộc miền Nam và miền Trung. Chúng là loài cây hoang dã cũng có phân bố ở một số nơi có cồn cát nóng và ven những bờ sông râm mát. Mai vàng Campuchia thuộc dạng thân gỗ, nhánh gầy, mảnh và dài. Lá đơn màu xanh nhạt và bóng mọc thưa trên cành, mép lá có răng cưa nhỏ. Hoa mọc ra từ nách lá thành chùm, cuống hoa ngắn, đài hoa xanh bóng và không che kín nụ. Ở Việt nam người ta thường dùng loại mai này để ghép thành mai giảo vì nó có khả năng tăng số lượng cánh lên rất cao. Không những thế mà hiện nay nó còn có ba màu do lai ghép là đỏ, vàng và trắng.

2. Mai vàng Nam Phi

Có khoảng 12 loài mai thuộc chi họ mai Ochna bao gồm dạng cây lẽ và cây mọc thành bụi. trong đó có hai loài phổ biến là Ochna pretoriensis và Ochna pulchra. Hai loài này xuất hiện rất nhiều tại vùng Koppie. Loài Ochna pulchra cao khoảng 3 7m, vỏ cây thường có hiện tượng tróc ra, lá dễ rụng. Chúng mọc hoang dã ở rừng, vỏ cây màu xám, xù xì ở gốc, nhánh thân cây bị tróc vỏ màu kem nhạt. Mai Châu Phi có hai màu vàng và hồng. Ngoài ra ở Nam Phi còn có các loại mai rất giống với mai tứ quý tại Việt Nam.

3. Mai vàng Myanmar (Miến Điện)

Ở đất nước Phật giáo này có một loài mai mang tên khoa học là Ochna serrulata gần giống với loại mai Nam Phi. Tuy nhiên hình thức của hoa mai có khác đôi chút ở chổ cánh hoa bẹt hoặc có bầu noãn đỏ như mai tứ quý, tồn tại rất lâu trước khi rụng hoàn toàn.

4. Mai vàng Indonesia

Có tên khoa học là Ochna kirkii Oliv, Ochna serrulata. Tất cả đều có nguồn gốc từ Châu Phi, tuy nhiên do địa chất khác nhau nên chúng có ngoại hình lớn hơn mai Châu Phi. Có loài nở hoa vào mùa xuân, mùa hè hoặc nở cả bốn mùa như mai tứ quý.

5. Mai vàng Madagascar

Là loại mai có tên khoa học là Ochna greveanum với năm cánh tròn trịa, dúm bèo theo rìa cánh giống như mai cánh dúm ở Việt Nam, lá mai dài và rũ xuống từng chùm.

6. Mai vàng Châu Phi

Khác với mai vàng Nam Phi vì nó giống mai vàng năm cánh của Việt Nam nhưng có tên khoa học khác là Ochna thomasiana thuộc dạng cây bụi, lá hình oval, đầu lá nhọn và bén dài khoảng 10cm. Hoa rộ trên cành vào mùa xuân, nhưng đôi khi lại bất chợt nở hoa vào mùa hè nhưng số lượng ít hơn. Cánh hoa thon dài khoảng 2cm, đài hoa bung ra rộng và trở thành màu đỏ tía, bên trong có trái non màu xanh giống như mai tứ quý của Việt Nam.

Đó là 19 loại mai của Việt Nam và thế giới, trong đó có loài thứ 4, thứ 6 và thứ 7 đã mang bảy cái tên khác nhau theo cách gọi của dân gian Việt Nam. Nếu tính tổng cộng là có 24 loài mai trên khắp thế giới hoặc có thể còn nhiều hơn nữa. Đúng là hoa mai rất đa dạng và phong phú chủng loại. Ở Trung cộng họ vẫn gọi cây đào là cây mai vì có nhiều loại rất giống hoa mai nhất là hồng đào và bạch đào mà họ hay gọi là hồng mai và bạch mai, nhưng cánh mai tròn và nhỏ như cánh đào, nhụy hoa rậm và dày, thân cây giống hệt như cây đào nên thường gọi là đào chứ không gọi là mai.

Ngày Tết nói chuyện về sự phong phú của cây mai để chúng ta cùng nhau tìm hiểu về loại hoa đặc trưng của mùa xuân này. Hoa mai là biểu tượng của sự may mắn, tốt đẹp, một sự khởi đầu hoàn hảo và thịnh vượng cho một năm mới. Hoa mai còn có ý nghĩa xua đuổi những điều xấu xa, không tốt đẹp cho một năm luôn được bình an, hanh thông và phát đạt.

Công dụng của hoa mai đối với đời sống

Theo dược học cổ truyền, hoa mai thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt cao phiền khát, tức ngực, ho, hầu họng sưng đau, bỏng, lao hạch, chán ăn, chóng mặt…

Tết đến xuân về, dẫu tiết trời giá rét, hoa mai vẫn nở trắng một màu như tuyết. Ở vùng cao, mai mọc thành rừng, nên đến mùa hoa mai nở, từng mảng trắng xóa xen giữa màu xanh của rừng núi tạo nên cảnh sắc trông thật trữ tình. Thi nhân yêu hoa mai đã đành, người thầy thuốc cũng mến chuộng loài hoa này.

Trong thành phần hóa học, hoa mai chứa nhiều tinh dầu như cineole, borneol, linalool, benzyl alcohol, farnesol, terpineol, indol… và một số chất khác như meratin, calycanthine, caroten… Nghiên cứu hiện đại cho thấy, hoa mai có tác dụng thúc đẩy bài tiết dịch mật, ức chế một số loại vi khuẩn như coli, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lao…

Theo dược học cổ truyền, hoa mai vị ngọt hơi đắng, tính ấm, không độc, có công dụng giải thử sinh tân, khai vị tán uất, hóa đàm, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt cao phiền khát, tức ngực, ho, hầu họng sưng đau, bỏng, lao hạch, chán ăn, chóng mặt… Các y thư cổ như Bản thảo cương mục, Bản thảo nguyên thủy, Bách thảo kính, Bản thảo tái tân, Cương mục thập di, Thực vật nghi kỵ… đều đã ghi lại nhiều phương thuốc có dùng hoa mai với những kiến giải khá sâu sắc. Có thể dẫn ra một số ví dụ cụ thể như sau:

Trúng thử gây tâm phiền, đau dầu, chóng mặt: (1) Hoa mai 9g sắc uống hoặc phối hợp hoa mai với hoa biển đậu và lá sen tươi lượng vừa đủ, sắc uống. (2) Hoa mai 15g, hoa cúc trắng 15g, hoa hồng 15g, hãm uống thay trà.

Tăng huyết áp, cơn đau thắt ngực: Hoa mai 3g, thảo quyết minh 10g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Mai hạch khí, đau dạ dày, viêm gan và xơ gan mức độ nhẹ: Hoa mai 5g đem ninh với 100g gạo tẻ thành cháo, chế thêm đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày. Mai hạch khí là chứng cảm thấy trong họng có vật gì đó gây bế tắc, thổ không ra, nuốt không trôi nhưng không gây trở ngại cho việc ăn uống. Với chứng bệnh này người ta còn dùng hoa mai 12g, hoa quế 3g, trà 20g, ba thứ trộn đều, chia làm 3 lần hãm uống thay trà.

Chướng bụng, đầy hơi: Hoa mai 10g, mộc hương 10g, hương phụ 15g, sắc uống.

Đau bụng do lạnh: Hoa mai và chu sa liên lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 3 – 6g với rượu nhạt.

Nấc: Hoa mai 5g, tai hồng (thị đế) 5 cái, gừng tươi 3 lát, gạo tẻ 100g. Đem gừng tươi và thị đế sắc kỹ lấy nước, bỏ bã rồi cho gạo vào nấu thành cháo, khi chín thì cho hoa mai vào, đun sôi vài dạo là được, chia ăn vài lần trong ngày.

Nôn: Hoa mai 5g, nước cốt gừng tươi 5ml. Đem hoa mai hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút là dùng được, chắt ra hòa thêm nước gừng tươi rồi uống, mỗi ngày dùng 2 thang.

Viêm họng, viêm amydal cấp tính: (1) Hoa mai 6g, huyền sâm 9g, bản lam căn 9g, sắc uống. (2) Hoa mai 15g, kim ngân hoa 15g, thạch cao 15g, huyền sâm 9g, sắc uống. (3) Hoa mai 9g hãm với nước sôi trong bình kín, uống thay trà trong ngày.

Viêm họng mãn tính: (1) Hoa mai 6g, hoa dành dành 5g, trà 20g. Ba thứ trộn lẫn chia làm 2 lần hãm với nước sôi uống thay trà, mỗi ngày 1 thang. (2) Hoa mai và hoa ngọc trâm lượng vừa đủ đem nấu với 60g gạo tẻ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, mỗi ngày 1 thang.

Ho dai dẳng: (1) Hoa mai 9g hãm uống thay trà trong ngày. (2) Hoa mai 10g, khoản đông hoa 10g, gạo tẻ 60g, tất cả đem ninh thành cháo, chế thêm một chút mật ong, chia ăn vài lần trong ngày.

Mất nước nhiều do thử nhiệt gây phiền khát, tức ngực: Hoa mai 10g, lá sâm 10g, cam thảo 10g, mạch môn 15g, hoắc hương 6g, sắc uống.

Chứng chán ăn do thử nhiệt: Hoa mai 10g, lá sen 50g, hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày.

Tức ngực, khó thở: Hoa mai 10g, đan sâm 10g, qua lâu 15g, sắc uống trong ngày.

Đau khớp do phong thấp: Hoa mai 9g, thạch nam đằng 9g, thố nhĩ phong 9g, đam ngâm với 200ml rượu, mỗi lần uống 30 – 50ml.

Viêm kết mạc cấp tính: Hoa mai 6g, cúc hoa 9g sắc kỹ rồi hòa thêm một chút mật ong uống.

Tổn thương do trật đả: Hoa mai 9g, lá liễu 9g, quá sơn long 9g, đem ngâm với 250ml rượu trắng, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 50ml.

Vết thương chảy máu: Hoa mai 10g đem sao tồn tính rồi tán thành bột rắc vào vết thương.

Viêm loét môi và niêm mạc miệng: Hoa mai tươi lượng vừa đủ đem giã nát với đường trắng rồi vắt lấy nước bôi vào tổn thương.

Viêm da lở loét: Hoa mai 6g đem ngâm với dầu lạc hoặc dầu vừng, sau 2 tuần thì dùng được, bôi vào tổn thương mỗi ngày 2 lần.

Bỏng: Hoa mai lượng vừa đủ ngâm với dầu trà rồi bôi vào vùng bị bỏng.

Ngoài ra, trong ẩm thực cổ truyền, hoa mai còn được cổ nhân sử dụng như một loại thực phẩm để chế thành những món ăn có công dụng bổ dưỡng cường thân cùng với các loại thực phẩm khác như thịt lợn, thịt dê, hải sâm, trứng gà, cá chép, nấm hương… Như vậy, với vẻ đẹp tao nhã và hương thơm thanh khiết của mình, hoa mai không những có giá trị thẩm mỹ sâu sắc mà còn là một vị thuốc hay và một loại thực phẩm độc đáo.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa mai

Việc áp dụng kỹ thuật trồng cây đúng sẽ mang lại những bông hoa mai đẹp mắt.

Đất trồng mai trên vườn, líp: Cây mai phát triển tốt trên đất thịt nhẹ có nhiều chất hữu cơ, đất không chua, không bị nhiễm phèn, mặn hoặc các hoá chất độc hại.

Đất trồng mai trong chậu: Cần chọn loại đất có các tính chất như trên, trộn theo tỷ lệ khoảng 70-80% đất và 20-30% phân hữu cơ hoai mục theo trọng lượng đất trong chậu.Kỹ thuật bón phân.

Mai trồng trên vườn, líp

Tỉa cành: Người trồng nên tỉa cây mai chậm nhất cho đến 20 âm lịch.Tuỳ theo hình dạng của cây, người chơi hoa nên có cách tỉa thích hợp nhưng thông thường các cây mai tỉa theo dáng cây thông (trên ngắn – dưới dài để cây có hình nón), bình thường các cành được cắt tỉa đi một phần ba.

Bón lót khi trồng: Phân chuồng (phân trâu bò, tro trấu, xơ dừa…) đã qua ủ khoảng 5-10kg/gốc, vôi bột khoảng 200-300gr/gốc + 50-100gr lân đầu trâu. Toàn bộ lượng phân này được trộn đều trong hố (hoặc rãnh) trước khi trồng cây con.

Bón thúc: Sau khi trồng khoảng 10-15 ngày, cây bắt đầu ra rễ mới, dùng phân NPK 20-20-15+TE đầu trâu hoà loãng để tưới, lượng phân sử dụng từ 50-100 gr/10-15 lít nước, khoảng 20-30 ngày tưới 1 lần. Khi mai đã lớn, lượng phân bón cũng được tăng dần và khoảng cách các lần bón phân xa hơn. Loại phân bón qua đất thích hợp cho mai là NPK 20-20-15+TE hoặc NPK 16-12-8-11+TE. Lượng bón khoảng 20 -50 gr/gốc/lần bón, cách khoảng 1-2 tháng bón 1 lần.

Khi mai đã cho hoa ổn định: Hàng năm cần bón bổ sung phân hữu cơ từ 5-10kg/gốc. Sử dụng loại phân NPK 20-20-15+TE hoặc NPK 16-12-8-11+TE bón mỗi năm khoảng 3-4 lần với lượng bón như trên vào các đợt: sau khi tàn hoa (sau dịp Tết), cắt tỉa cành; đầu mùa mưa; giữa mùa mưa và trước khi mai nở hoa khoảng 1-1,5 tháng. Cần bón phân theo hốc, theo rãnh sâu từ 5-7cm theo tàn lá của cây, bón vào vùng có nhiều rễ non phát triển, sau đó lấp đất, giữ ẩm vào mùa khô, thoáng gốc vào mùa mưa.

Mai trồng trong chậu

Mai được đem ra ngoài càng sớm càng tốt, phải đặt cây nơi có bóng râm để lá không bị cháy khi tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời. Người trồng cần cắt bỏ tất cả các hoa để cây không mất dinh dưỡng nuôi đài hoa tạo hạt, để lại một số lá.

Bón phân: Lượng bón có thể thay đổi từ 20-50gr/chậu cho 1 lần bón. Với chậu lớn, cây mai nhiều tuổi có thể bón khoảng 50-80gr/chậu. Tạo rãnh xung quanh thành chậu, sâu khoảng 3-5cm, rải phân đều vào rãnh, lấp đất và tưới đủ ẩm. Tránh làm đứt rễ, cây dễ bị nhiễm bệnh qua vết thương. Nếu có điều kiện, hàng năm vào đầu mùa mưa nên thay đất trong chậu bằng đất mới tơi xốp, hoặc bổ sung phân hữu cơ đã hoai mục, lượng bón từ 2-3kg/chậu.

Sử dụng phân bón lá: Ngoài việc sử dụng phân bón qua đất, phân bón lá có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh trưởng và phát triển, bổ sung các chất dinh dưỡng thiếu hụt trong đất, kích thích ra rễ, ra lá, ra hoa theo ý muốn của người chơi mai.Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa mai cho ngày tết

Một số loại phân bón lá được nhà vườn quan tâm đó là: Phân bón lá đầu trâu 501 thúc ra chồi ra lá, đầu trâu 701 thúc ra bông và đầu trâu 901 có tác dụng dưỡng bông giúp bông lâu tàn và có màu sắc đẹp. Tương tự nhóm sản phẩm phân bón lá đầu trâu 005, đầu trâu 007, đầu trâu 009 cũng có hiệu quả cao đối với tất cả các loại mai cảnh.

Khi tiết trời đã điểm xuân, những cơn mưa lất phất mang hơi ấm của năm mới bắt đầu tưới xuống, cũng là lúc mai vàng khoe sắc báo hiệu mùa xuân về. Xuân bình anh, may mắn và người người đều nở nụ cười trên môi, chào đón một năm mới an lành, hạnh phúc. Miền Bắc có hoa đào thì miền Nam cũng rực rỡ sắc mai. Hoa mai đã như một biểu tượng ngày tết, báo hiệu những điều may mắn, thiện lành.

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Tuyệt Vời Của Hoa Súng

Nguồn gốc – xuất xứ – lịch sử

Hoa súng là 1 giống thực vật thủy sinh, thuộc họ Nymphaeaceae, có tên tiếng anh là Nunephar. Ở 1 số nước, hoa súng được gọi là Water Lily, riêng giống hoa súng có màu lam xanh của Ấn Độ thì được gọi là hoa Sen xanh (Blue lotus). Hoa súng có tên khoa học là Nymphaeaceae. Từ này có xuất xứ từ chữ “numpho”. Đó là tên của 1 nữ thần trong thần thoại Hy Lạp. Đây là 1 nữ thần trẻ trung, xinh đẹp, cai quản sông suối, ao hồ. 

Cây hoa súng có nguồn gốc từ Ấn Độ. Với sự thích nghi cao, cây đã lan rộng qua các nước khác từ thời cổ đại đến nay. Những vườn hoa của các cung điện ở Thái Lan và Myanmar thường trồng súng để trang trí cho những ao hồ, vườn tược. 

Ở Việt Nam, có 3 loại súng chủ yếu là Nymphaea, Euryale và Barclaya. Cây hoa súng thường sống hoang dại trong ao, mương, kênh rạch, trên khắp mọi khu vực của nước ta. Trong đó, Đồng tháp Mười là nơi có nhiều hoa súng nhất ở Việt Nam.

Súng là một loài hoa thủy sinh thường sinh sống ở các khu vực ao, hồ và đầm lầy, với lá và hoa nổi lên trên mặt nước. Hoa xếp xoắn vòng: lá đài 4 – 12 (thường 5 – 6), có mùi thơm nhẹ. Lá súng hình tròn, lá đơn, mọc cách. Hoa súng còn có thể phân loại thành 2 loại chính: súng chịu rét và súng nhiệt đới. Các loài súng chịu rét chỉ nở hoa vào ban ngày. Trong khi đó, các loài súng nhiệt đới có thể nở hoa vào ban ngày hoặc ban đêm.

Ý nghĩa của hoa súng

Hoa súng có rất nhiều ý nghĩa đặc biệt. Giống như hoa hồng, mỗi màu hoa súng lại có một ý nghĩa khác nhau. Ngoài ra, thông điệp của loài hoa này còn tùy thuộc theo quan niệm của từng quốc gia trồng nó.

Theo quan niệm của các nước

Người Ai Cập cổ đại rất tôn sùng hoa súng sông Nin. Loài hoa này gắn liền với sự tích người Ai Cập đã dâng hoa cho thần mặt trời để tỏ lòng tôn kính. Vì vậy, theo người Ai Cập thì hoa súng tượng trưng cho trí tuệ, sự thuần khiết và thanh tao.

Theo quan niệm của người Phương Đông, thì hoa súng tượng trưng cho sự trong sạch của tâm hồn. Người ta còn nói rằng hình ảnh hoa súng vươn mình lên khỏi mặt nước, hiên ngang như người quân tử. Và tương truyền rằng nếu hái hoa súng vào ban đêm sẽ mang lại sự may mắn cho những người đang yêu.

Đặc biệt là hoa súng trắng đã được chọn là quốc hoa của Bangladesh từ năm 1971. Loài hoa giản dị nhưng thanh tao này có ý nghĩa rất lớn trong văn hóa của nhiều nước trên thế giới.

Ý nghĩa hoa súng theo màu sắc

Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, hoa súng đã được lai tạo nhiều và do đó nó có nhiều màu sắc khác nhau. Tương ứng với mỗi màu sắc là 1 ý nghĩa rất riêng.

Hoa súng trắng: Tượng trưng cho sự thuần khiết, tinh khôi, trong sáng

Hoa súng tím: Biểu hiện sự thủy chung

Hoa súng hồng: Thể hiện sự mộng mơ, lãng mạn của tuổi trẻ

Hoa súng đỏ: Thể hiện sự trẻ trung, năng động, tràn đầy sức sống

Hoa súng vàng: Tượng trưng cho sự quý phái, tiền tài

Công dụng của hoa súng

Súng là 1 loài hoa đẹp để trang trí sân vườn, tiểu cảnh, giúp cho không gian trở nên hòa hợp với thiên nhiên. Vào những dịp lễ, Tết thì hoa súng còn là nguyên liệu chế biến nhiều món ăn ngon. 

Người dân miền Tây đặc biệt thích những món ăn được làm từ súng, nhất là trong mùa nước nổi ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Qua bàn tay chế biến của người dân ở đây, cây hoa súng sẽ trở thành những món ăn đặc sản như lẩu chua, gỏi, canh chua hay món dưa chua hoa súng.

Bên cạnh đó, hoa súng còn dùng để điều chế nhiều bài thuốc hay, chữa bệnh rất tốt trong dân gian. Theo đông y, hoa súng có tác dụng an thần, trợ tim, chống co thắt, hỗ trợ hô hấp. Do đó, súng thường được dùng để trị các bệnh như tim đập nhanh, mất ngủ, ho, tiêu chảy, kiết lỵ, viêm thận, tiểu buốt, viêm bàng quang, đau lưng, mỏi gối do thận yếu. Hoa súng còn có tác dụng chống say nắng, thanh nhiệt, cầm máu tạm thời.

Dịp nào nên tặng hoa súng

Người ta thường mua những chậu súng kiểng mini để tặng cho bạn bè, người thân vào những dịp sinh nhật hay tân gia. Hoa súng có giá trị tạo cảnh quan đẹp, giúp không gian thêm phần thoáng đãng, tươi mới. Do đó, rất thích hợp để trưng ở bàn làm việc hay trang trí ở 1 góc sân.

Hoa súng hợp với mệnh nào

Tùy theo màu sắc của hoa mà sẽ có những mệnh hợp tương ứng. Hoa súng màu tím, hồng, đỏ sẽ hợp với người mệnh Hỏa. Hoa súng màu vàng sẽ hợp với người mệnh Kim. Và cuối cùng là hoa súng trắng sẽ hợp với người mệnh Thủy. Do đó, bạn nên tìm hiểu về bản mệnh của mình trước khi tìm màu hoa phù hợp.

Trồng và chăm sóc cây hoa súng khá đơn giản. Súng sống và phát triển ở các ao, hồ. Vì thế, nếu muốn trồng hoa súng ở sân vườn thì cần phải tạo một môi trường sống tương tự. Nếu diện tích hạn chế, bạn cũng có thể trồng trong những chậu nhỏ. Khi đó, số lượng cây hoa súng cũng sẽ ít hơn.

Trước hết, bạn mua 1 chậu cây phù hợp với diện tích sân vườn, chậu không cần có lỗ thoát nước để giữ được nước cho cây. Sau đó, bạn rải sỏi và đá sạch kín phần đất trong chậu để giúp cho chậu hoa đẹp và sang trọng hơn. Khi trồng cây, bạn phải trồng củ ở phía rìa bên của chậu và để lá hướng về phía giữa, tạo thành một góc nghiêng khoảng 45 độ. 

Tiếp theo, bạn đổ nước vào đầy chậu và để ở ngoài trời thoáng mát. Khoảng 1 tuần sau, súng sẽ dần nảy mầm và vươn lá non. Khoảng 2 tháng sau, súng sẽ ra hoa và hoa nở trong vòng 5 ngày. Để súng phát triển nhanh và nở hoa đẹp, bạn nên tỉa lá định kỳ 2 tháng 1 lần và thường xuyên bổ sung phân bón cho cây.

Hoa súng với vẻ đẹp dung dị, mộc mạc nhưng đầy quyến rũ của nó sẽ tạo nên những tiểu cảnh sân vườn vô cùng bắt mắt. Điều này giúp cho những ngôi nhà phố không còn thô cứng, giúp không gian trở nên thoáng mát, thơ mộng hơn. Với đặc điểm là nhiều màu sắc, hương thơm dịu nhẹ, ra hoa liên tục, súng đã trở thành lựa chọn hàng đầu của nhiều gia đình, biệt thự, quán cà phê. 

Ngoài ra, những chậu hoa súng mini cũng góp phần làm cho bàn làm việc, ban công, góc sân thượng thêm phần xinh xắn. Hơn nữa súng lại rất dễ trồng, không cần tưới nước hay chăm sóc nhiều nên được rất nhiều người ưa thích. 

Cập nhật thông tin chi tiết về Nguồn Gốc Và Cấu Tạo Của Đá Hoa Cương trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!