Xu Hướng 1/2023 # Nghị Luận Xã Hội Về Lối Sống Giản Dị # Top 9 View | Nhatngukohi.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Nghị Luận Xã Hội Về Lối Sống Giản Dị # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Nghị Luận Xã Hội Về Lối Sống Giản Dị được cập nhật mới nhất trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nghị luận về lối sống giản dị – Hướng dẫn dàn ý bài văn và top 3 bài nghị luận hay nhất bàn về lối sống giản dị, vai trò và ý nghĩa của sống giản dị với mỗi người.

Lối sống giản dị là gì

Lối sống giản dị là một lối sống đơn giản, không quá cầu kỳ, phức tạp, cũng như không bao giờ khoa trương hay sống xa hoa

. Lối sống giản dị không phải chỉ thể hiện qua lời nói, cách ăn mặc, việc làm mà còn thể hiện qua suy nghĩ và hành động của mọi người trong cuộc sống cũng như trong các hoàn cảnh. Đây là một đức tính vô cùng tốt đẹp, không cầu kỳ phô trương.

Ở bài viết này, Đọc Tài Liệu giới thiệu đến các bạn tuyển chọn các bài văn nghị luận xã hội về lối sống giản dị hay nhất đã được sưu tầm và biên soạn. Qua những bài làm văn này sẽ giúp các bạn tham khảo các làm, bổ sung thêm nhiều vốn từ ngữ…để có thể làm được một bài văn hay và đạt điểm cao.

Đề bài: Trình bày suy nghĩ của em về lối sống giản dị.

Dàn ý chi tiết nghị luận về lối sống giản dị

Trong cuộc sống, mỗi người có một tính cách, một lối sống riêng. Có người ưa sự giàu sang, thích sang trọng, lộng lẫy, nổi bật. Nhưng vẫn có người chọn cho mình một lối sống giản dị, bình thường.

1. Giải thích ý kiến

– Giản dị là sống một cách đơn giản, tự nhiên, không cầu kì phô trương trong lối sống.

2. Bàn luận

a) Biểu hiện của lối sống giản dị

– Lối sống giản dị bộc lộ ở nhiều phương diện: trang phục, ăn uống, thói quen, giao tiếp, nói năng, phong cách làm việc…

+ Trang phục phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, gọn gàng và tiện dụng, tránh cầu kì, loè loẹt.

+ Cách ứng xử lịch sự, đúng mực; cách suy nghĩ và sử dụng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, không hoa mĩ, cầu kì rắc rối…

+ Cách sinh hoạt: hòa đồng với mọi người, tự nhiên và gần gũi trong cách cư xử; không tự coi mình là người đặc biệt, khác người mà cần thấy mình bình thường như những người khác.

– Cốt lõi của lối sống giản dị là sự ý thức sâu sắc về mục đích và cách sống sao cho hoà đồng và thoải mái, tự nhiên để tạo thành một phong cách sống. Sống giản dị cũng là biểu hiện của sự sâu sắc trong nhận thức về cuộc sống.

b) Tác dụng của lối sống giản dị

– Giản dị khiến người ta dễ hòa nhập với mọi người, làm cho con người trở nên thân thiện với nhau và giúp ta có thêm bạn bè… góp phần làm sáng lên nhân cách của mỗi con người.

– Giản dị tạo nên sự thanh thản, bình yên trong tâm hồn và sự nhàn nhã, thư thái trong nhịp sống. Khiến con người hoà đồng với tự nhiên, gắn bó sâu sắc với các cá nhân khác.

– Sống giản dị là một trong những cách để mỗi người sống thật, sống có hứng thú, có ý nghĩa.

– Sống giản dị giúp chúng ta hoàn thiện bản thân và tạo cho xã hội sự hoà đồng, bình đẳng, nhân ái.

c) Mở rộng, phản đề

– Lối sống giản dị hoàn toàn khác với lối sống cẩu thả, lạc hậu, gò bó, khuôn mẫu; giản dị cũng không đồng nghĩa với tiết kiệm, hà tiện… giản dị phù hợp với điều kiện, với hoàn cảnh vẫn thể hiện được sự tao nhã, thanh lịch, văn hóa.

– Phê phán lối sống xa hoa, đua đòi hay giản dị một cách giả tạo.

– Để sống giản dị, con người phải trải qua sự rèn luyện, cần một năng lực sống, quyết tâm cao, cũng cần hoà mình vào cuộc sống đế sống và cảm nhận, cần loại bỏ lòng tham và bù đắp tình yêu cuộc sống. Đó là cách để tránh mọi cám dỗ, giảm áp lực tinh thần và nâng cao bản lĩnh văn hoá.

3. Bài học nhận thức và hành động

– Nhận thức được giản dị là một lối sống đẹp.

– Là học sinh, mỗi chúng ta cần học tập phong cách sống giản dị, chân thành. Ở tuổi học đường, nên chú ý đến việc học tập và tu dưỡng, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người và sống cởi mở, chân thành, đơn giản.

– Người xưa có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” để chỉ hình thức bên ngoài không quan trọng bằng bản chất bên trong của con người. Sống khiêm tốn, thật thà, giản dị hay sống xa hoa, bon chen, đua đòi theo vật chất, danh lợi là tùy cách nhận thức của mỗi người. Nhưng sống sao cho đẹp lòng người, sống có ích và không cảm thấy hối tiếc thì thật sự là một điều rất khó. Bởi thế chúng ta hãy chọn cho mình một cách sống tốt nhất bằng cách cùng tạo dựng cho bản thân một “lối sống giản dị” riêng.

Top 3 bài nghị luận được đánh giá cao bàn về ý nghĩa của lối sống giản dị

Nghị luận về lối sống giản dị bài số 1:

Dân tộc ta từ xưa đến nay luôn đề cao đức tính giản dị của con người. Nó không những là một phẩm chất cao quý mà còn là lối sống, lối ứng xử in đậm trong văn hóa của người Việt.

Giản dị là một lối sống không trọng vật chất của con người. Giản dị biểu hiện ở lối sống đơn giản, không cầu kì, xa hoa, không phô trương hay lãng phí của cải vật chất. Giản dị còn thể hiện ở tinh thần yêu chuộng cuộc sống bình dị, gần gũi với thiên nhiên. Giản dị còn biểu hiện ở lời ăn tiếng nói hiền hòa, điềm đạm, có tình, có nghĩa của con người.

Người giản dị thường xây dựng một cuộc sống kín đáo, hiền hòa. Họ thích ở làng quê hơn ở phố. Người giản dị cũng yêu thích những cái gì nhỏ nhắn, mộc mạc, đơn sơ. Họ không thích cầu kì một cách hình thức hay lãng phí một cách không cần thiết.

Người giản dị không những giản dị trong cách xây dựng không gian sống. Họ còn giản dị cả trong lời nói, ăn mặc, công việc và ứng xử. Người giản dị thường ăn nói điềm đạm, ứng xử lịch sự, nhã nhặn. Họ ít khi có lời gắt gỏng hay xung đột với ai. Họ lấy nghĩa tình làm nguyên tắc ứng xử của mình. Những bất đồng ít khi trở thành xung đột, dĩ hòa vi quý. Một người giản dị thường không khoa trương, không dùng lời lẽ xa hoa, bóng bẩy. Lời nới của họ đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, truyền đạt đúng và đầy đủ thông tin mà họ muốn nói. Trong ăn mặc, họ ít khi cầu kì. Cuộc sống giản đơn như đồng quê cây cỏ. Ăn uống đối với họ cũng hết sức đạm bạc. Họ cũng không thích những bộ trang phục lòe loạt, kiểu cách. Trang phục của họ thường rất bình dị, hòa hợp với hoàn cảnh xung quanh. Trong công việc, họ cầu tiến nhưng không quá tham vọng. Họ sẵn sàng đối đầu với khó khăn thử thách để hoàn thành tốt công việc. Ít khi nào ta thấy họ bỏ cuộc hay chấp nhận thất bại một cách dễ dàng.

Người giản dị có cách giải quyết sự việc nhanh chóng, không dây dưa. Họ quyết liệt trong công việc nhưng không yêu cầu điều gì thái quá. Một người giản dị là một người không bao giờ yêu cầu người khác phải tạo điều gì đó đặc biệt cho mình. Họ luôn bằng lòng với tất cả những gì họ sẵn có. Họ không đòi hỏi thứ vật chất lớn lao hay sự ưu tiên khác dành cho mình.

Sự giản dị không chỉ thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày, từ cách ăn mặc, lời nói, cử chỉ, hành động, trong công việc, trong giao tiếp mà còn cả ngay từ trong suy nghĩ. Nhiều khi sự giản dị thể hiện ngay trong việc con người sống với những gì vốn có của mình, không hoa mĩ, lòe loẹt, chạy theo phong trào, chạy theo mốt, Giản dị ở đây có thể hiểu như là lối sống chân phương vậy.

Đối với mọi người xung quanh, họ hết sức niềm nở, thân ái. Bởi người sống giản dị rất quý trọng tình nghĩa. Một người biết suy nghĩ những điều giản dị sẽ biết phải làm gì để có được điều đó, biết cách sống gần gũi với những người xung quanh. Đối với họ, sự hòa hợp của bản thân với xung quanh quan trọng hơn là nổi bậc.

Người có tính giản dị thường sống tiết kiệm, sử dụng đồng tiền có mục đích đúng đắn. Họ nhìn nhận sự việc đúng mức, không quan trọng hóa vấn đề. Đó là tất cả những đặc điểm nổi bật mà bạn có thể tìm thấy ở một con người giản dị thật sự. Bởi thế mà từ xưa, giản dị luôn là lối sống của các bậc hiền nhân.

Nhưng sự giản dị không thể gò ép, giả dối. Giản dị phải bắt nguồn từ một sự chân thành và những biểu hiện cũng hết sức chân thành, không thể sống giản dị một cách gượng ép, khiên cưỡng. Trước sau gì những người xung quanh cũng sẽ nhận ra điều đó. Giản dị có thể thuộc về bản tính sẵn có. Nhưng phần nhiều là do quá trình rèn luyện trong cuộc sống để có được.

Giản dị không chỉ là một cách sống, nó còn là một quan niệm sống. Từ xưa, lối sống “thanh bần lạc đạo” vốn được thực hành như một triết lí sống của con người. Nguyễn Bỉnh Khiêm xa rời vinh hoa quan trường về mở trường dạy học bên dòng sông Tuyết Giang (sông Hàn), sống an bần đến cuối đời. Nguyễn Khuyến cũng rời chốn phồn hoa về ẩn cư tại quê nhà, vui thú điền viên. Lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng là một tám gương sáng ngời về lối sống giản dị, đáng để chúng ta kính trọng, học tập và làm theo.

Sống giản dị là một lối sống hết sức lành mạnh và tích. Một lối sống không trọng vật chất, thích những điều đơn giản sẽ mang lại cho con người sự trong sạch trong tinh thần. Lối sống giản dị mang lại cho con người một cuộc sống thanh bình, êm ả. Con người không bị ràng buộc bởi những tiện nghi. Tinh thần lúc nào cũng an nhàn, thoải mái. Tính giản dị rất cần thiết trong cuộc sống. Tính giản dị khiến ta tiết kiệm thời gian, không mất thời gian vào các việc vô bổ mà cầu kì. Tính giản dị khiến mọi người xung quanh tôn trọng ta. Sống giản dị giúp biết cách biết cách ứng xử hiền hòa trước cuộc sống. Ta trở nên gần gũi, chan hòa với cuộc sống, với mọi người xung quanh mình. Người có lối sống giản dị luôn được người khác yêu mến và kính trọng.

Mục đích cuối cùng của quá trình học tập và lao động là tạo ra của cải và có được hạnh phúc. trong đó, được sống hạnh phúc là cái con người luôn khao khát có được. Muốn xây dựng và rèn luyện lối sống giản dị, trước hết phải hướng đến những giá trị chân thực ấy trong cuộc sống.

Biết quý trọng tình nghĩa, quý trọng những người xung quanh mình. Vật chất làm đẹp không gian sống nhưng chính tình cảm thân thiện, mến yêu mới làm đẹp con người.

Phải có nghị lực lớn mới dám sống cuộc sống giản dị, đơn sơ. Bởi con người luôn bị lôi cuốn bởi vật chất. Tâm lí xã hội cũng lấy vật chất làm thước đo giá trị cuộc sống con người. Vượt lên trên tâm lí ấy ta mới có đủ dũng khí để sống cuộc sống đúng nghĩa. Phải có một tình yêu lớn đối với thiên nhiên. Yêu hoa mến cảnh là động lực thôi thúc con người tìm về với lối sống hòa hợp với đất trời, lấy vẻ đẹp cỏ cây, sông núi làm đẹp cho cuộc sống và tâm hồn mình.

Quan trọng hơn tất cả, muốn hình thành và xây dựng lối sống giản dị trong cuộc sống này, con người phải có một tâm hồn cao đẹp, một trí tuệ uyên bác, một nghị lực mạnh mẽ để vượt lên trên mọi cám dỗ của cuộc đời, không tham cao sang, quyền quý, trọng tình cảm, thiết tha với các giá trị truyền thống của dân tộc mới có thể có được một lối sống giản dị đích thực. Các bậc hiền nhân luôn sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên là cuộc sống nhằm để di dưỡng và thanh lọc tinh thần.

Trong cuộc sống tiện nghi, nhiều người chỉ biết quý trọng vật chất xa hoa mà quên tình bạc nghĩa. Họ coi giá trị vật chất là trên hết, bất chấp đạo lí, sẵn sàng chà đạp lên tình người để có được nó. Có nhiều người khác lại phô trương, khoe mẽ quá mức hoặc xa hoa lãng phí của cải một cách không cần thiết. Những người như thế thật đáng chê trách.

Sống giản dị mang lại cho con người thư thái trong tinh thần. Đủ nghị lực để vượt lên trên vật chất, đạt đến lối sống thanh cao, giản dị thể hiện vẻ đẹp cao quý của con người. Tuy nhiên, không nên khắt khe, hay xem thường giá trị của vật chất.

Sống giản dị là sống như cha ông ta đã từng sống. Đó không phải là cách ứng xử của con người khi nghèo khổ mà đó là cách sống cao cả, nhằm hướng đến xây dựng một lối sống thắm đượm nghĩa tình, thể hiện sự quý trọng của con người đối với vật chất và sức lao động con người.

Nghị luận về lối sống giản dị bài số 2:

Xã hội là tiền đề phát triển suy nghĩ nhận thức của mỗi người, rèn cho ta những kỹ năng cơ bản trong cuộc sống. Một trong số đó con người ta đã và đang rèn luyện đức tính sống giản dị bởi sống giản dị là một lối sống đẹp của con người.

Vậy sống giản dị là gì? Là sống phù hợp với điều kiện với hoàn cảnh của bản thân gia đình và xã hội, không sống xa hoa lãng phí, không cầu kỳ kiểu cách, không chạy theo những nhu cầu về vật chất và hình thức bên ngoài.

Lối sống giản dị được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Đó không chỉ thể hiện ở cách ăn mặc trong việc sinh hoạt hàng ngày mà còn thể hiện ở cả lời ăn tiếng nói, ở cả quan điểm sống, cách cư xử của con người trong mọi hoàn cảnh trước mọi vấn đề. Một người giản dị là một người ăn nói cẩn thận, không khoa trương, ăn nói ngắn gọn dễ hiểu. Hay là người luôn giải quyết mọi công việc một cách nhanh nhất nhưng vẫn phải đảm bảo tính hiệu quả của nó. Đó cũng là những người sống hòa đồng với tất cả mọi người không quá cầu kỳ trong cách cư xử. Hơn thế nữa những người sống giản dị là những người không lãng phí, sử dụng tiền đúng mục đích, không sử dụng vào những công việc vô bổ, biết nhìn nhận mọi vấn đề đúng với chuẩn mực và không làm quan trọng hóa vấn đề. Trong cách ăn mặc, họ không cần mặc những trang phục hàng hiệu mà chỉ cần những bộ quần áo giản đơn thôi nhưng họ cũng làm cho mình trở nên đẹp hơn lịch sự hơn. Tất cả những đặc điểm trên là biểu hiện của những người sống giản dị.

Quả thật sống giản dị là một lối sống đẹp vì nó không phải là lối sống đơn giản thô sơ mà là một phong cách sống cao đẹp. Không những thế mà lối sống giản dị còn giúp cho con người ta không bị lệ thuộc vào những ham muốn về mặt vật chất và tinh thần. Nó giúp ta biết tự điều hòa kiềm chế bản thân vượt qua những cám dỗ trong cuộc sống. Sống giản dị giúp ta tiết kiệm thời gian, không bị chi phối bởi những việc vô bổ, cũng giúp con người có khả năng hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới mọi người xung quanh nhiều hơn. Nhờ có vậy mà con người được sống một cuộc sống vui vẻ bình yên hạnh phúc và thanh thản.

Từ xưa tới nay có rất nhiều tấm gương về đức tính giản dị mà chúng ta cần phải học tập. Đầu tiên là phải nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh người được cả thế giới khâm phục và ngưỡng mộ. Mặc dù là chủ tịch nước nhưng Người lại sống một cuộc sống hết sức giản dị chứ không như những vị chủ tịch khác. Trang phục thường ngày của Bác chỉ là bộ bà ba nâu đã phai màu, bộ kaki đã cũ và đôi dép lốp cao su. Nơi làm việc của Bác cũng chỉ là một ngôi nhà sàn nhỏ bé đơn sơ chỉ vỏn vẹn có hai phòng. Ngay cả trong cách ăn nói người cũng rất giản dị ngắn gọn và dễ hiểu như “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau được chữa bệnh”. Hai chúng ta có thể kể đến Nguyễn Trãi cũng có lối sống giản dị bởi ông đã từng nói:

“Bữa ăn giàu có dưa muối Áo mặc này chi gấm là”

Bên cạnh những tấm gương cho lối sống giản dị cũng không ít những người sống phung phí xa hoa. Trong thời hiện đại ngày nay có rất nhiều bạn học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường nhưng lại nhuộm tóc rồi ăn mặc phá cách không đúng với tư cách của một người học sinh. Hay là những người hoàn cảnh gia đình khá giả lại ăn mặc một cách khoa trương mặc toàn hàng hiệu.

Chính vì thế nên để sống giản dị thì cần phải có bản lĩnh và trí tuệ để biết đủ biết dừng chứ không phải sống khổ hạnh hay ép mình. Là một học sinh em cần phải tu dưỡng đạo đức rèn luyện bản thân. Khi tới trường chỉ cần phải ăn mặc đúng đồng phục không cầu kỳ kiểu cách. Hơn thế nữa em sẽ tuyên truyền để bạn bè cùng hiểu rõ sự cần thiết và tác dụng của lối sống giản dị.

Quả thật sống giản dị giúp con người thanh thoát hơn không tiêu tốn tiền bạc của cải tạo cho xã hội sự hòa đồng bình đẳng thân ái. Chính vì vậy mà mỗi người chúng ta cần tạo cho mình một lối sống giản dị và lan tỏa lối sống giản dị đến những người xung quanh để cuộc sống luôn tươi đẹp và hài hòa.

(Bài làm của bạn Lê Quỳnh Chúc,

Lớp 9B – Trường THCS Thái Nguyên, Thái Bình)

Nghị luận về lối sống giản dị bài số 3:

Mỗi con người trong cuộc đời đều tìm cho mình một lối sống khác nhau, mưu cầu hạnh phúc khác nhau. Có người thì tìm kiếm sự giàu sang, thể diện bản thân. Cũng có những người muốn sống một cuộc sống hưởng thụ tất cả. Chọn cho mình lối sống như thế nào là việc tự bản thân chúng ta quyết định. Nhưng lối sống giản dị trong xã hội hiện đại mới là một điều khó.

Lối sống giản dị là lối sống không mưu cầu danh lợi, địa vị, là lối sống chấp nhận với hoàn cảnh, chấp nhận với những gì mình đạt được, không đòi hỏi quá xa vời, phi thực tế. Người giản dị là người có cách ứng xử với người khác vô cùng hòa nhã, có một phong thái hòa đồng, rất dễ dàng nhận biết.

Giản dị trong cách ăn mặc hàng ngày, những bộ quần áo chẳng có gì là mốt thời thượng, nhưng không hề bẩn thỉu. Giản dị trong cách ăn uống, thức ăn cũng rất bình thường, không hề tiêu pha bừa bãi. Giản dị trong sinh hoạt vật chất, những chi tiêu của người có lối sống giản dị hết sức hài hòa, không hề vượt quá một phạm vi nào lớn. Giản dị còn thể hiện không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn ở cái bên trong của mỗi người. Cử chỉ, lời nói của người có lối sống giản dị cũng hết sức đơn giản, thấu tình, đạt lí. Không có quanh co, hay có những lời nào thiếu suy nghĩ cả.

Giản dị là một đức tính tốt, và cần có trong cuộc sống. Những người giản dị là những người tiếp kiệm được rất nhiều thời gian và tiền bạc. Cuộc đời chỉ có một, họ biết sống sao cho đúng, làm sao cho đúng để không uổng phí cuộc sống của họ.

Một người, có thể xem là ví dụ tiêu biểu nhất của lối sống giản dị. Đó là chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta. Người giản dị từ lời ăn, tiếng nói tới hành động cử chỉ của mình. Kể cả khi đã làm chủ tịch của một nước, Người vẫn không hề sống một cuộc sống xa hoa. Người vẫn luôn giữ cho mình một đức tính giản dị. Người được rất nhiều người nể phục, tin tưởng, yêu thương. Sự giản dị của Người như là một chuẩn mực cho các thế hệ tiếp theo noi gương. Những đức tính giản dị của Người là một trong những di sản mà người để lại cho thế hệ sau này, một đức tính tuyệt vời từ một nhà lãnh đạo tối cao của dân tộc.

Nhiều người cho rằng, sống làm việc vất vả thì phải hưởng thụ. Đúng, chúng ta làm ra của cải vật chất để cho chúng ta có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn. Cũng chính vì vậy, nhiều người lệ thuộc vào đồng tiền, bán mạng vì đồng tiền, sống buông tha, vô trách nhiệm với cuộc đời. Họ khoác lên mình những trang phục sành điệu, đắt đỏ, rồi chụp hình khoe mẽ. Hay ăn những món ăn ở những khách sạn đắt tiền. Họ khoe với đời vì sự sa hoa của mình. Nhưng ẩn sâu bên trong lớp vỏ hào nhoáng ấy lại là rỗng tuếch. Nhiều người vì chạy theo thời đại mà đua đòi với người khác. Không có tiền nhưng cũng thích sĩ diện với bản thân. Để rồi hậu quả đi theo là vô cùng lớn.

Sống giản dị không hề khó, nó chẳng phải là thứ gì cao siêu. Nhưng con người, sống trong một xã hội đầy dục vọng. Có mấy ai hiểu được giá trị cốt lõi của cuộc sống cơ chứ. Có ai hiểu được cách sống giản dị là như thế nào. Chỉ đơn giản là sống một cuộc đời bình dị, hài hòa, làm những việc mà chúng ta cho là đúng chuẩn mực. Sống một cách có văn hóa, có trách nhiệm với người khác.

Nhịp sống luôn đập không ngừng, con người vận động thì mới có thể tồn tại được. Nhưng không hẳn cứ phải chạy đua với thời đại, chạy theo cái mới mới là tồn tại. Bình dị, nhẹ nhàng bước chúng ta vẫn có thể bước kịp thời đại và hòa nhập với con người. Hơn nữa, chúng ta con giữ cho mình một lối sống làm cho người khác phải tôn trọng không tốt hay sao. Lối sống bình dị, là điều cốt lõi mà truyền thống văn hóa của chúng ta bao đời vẫn nói. Sống sao cho có trách nhiệm với cuộc đời, để cuộc đời mãi ngày càng đẹp tươi.

-/-

Nghị Luận Về Lối Sống Uống Nước Nhớ Nguồn

Nghị luận về lối sống uống nước nhớ nguồn, hướng dẫn lập dàn ý chi tiết và tham khảo những bài văn hay bàn về ý nghĩa của lối sống uống nước nhớ nguồn trong xã hội hiện nay.

Uống nước nhớ nguồn là câu tục ngữ rất quen thuộc đối với bao thế hệ người Việt Nam nêu lên bài học về nhân cách làm người của cha ông ta, thể hiện sâu sắc truyền thống đạo lí của người Việt Nam: luôn luôn trân trọng, biết ơn người đi trước, thế hệ đi trước. Lối sống uống nước nhớ nguồn là lối sống biết trọng ân nghĩa, biết ơn những người đã giúp đỡ hay tạo dựng thành quả để mình được hưởng thụ hôm nay.

Hướng dẫn làm bài nghị luận về lối sống uống nước nhớ nguồn

Đề bài: Trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của lối sống uống nước nhớ nguồn.

1. Phân tích đề

– Yêu cầu: Trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lối sống uống nước nhớ nguồn

– Dạng đề: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng: những sự việc, con người trong thực tế biểu hiện cho lối sống uống nước nhớ nguồn

2. Hệ thống luận điểm

– Luận điểm 1: Giải thích thế nào là lối sống uống nước nhớ nguồn?

– Luận điểm 2: Ý nghĩa, vai trò của lối sống uống nước nhớ nguồn

– Luận điểm 3: Biểu hiện của lối sống uống nước nhớ nguồn

– Luận điểm 4: Lối sống uống nước nhớ nguồn trong thực tế hiện nay

– Luận điểm 5: Bài học nhận thức và hành động

Dàn ý chi tiết nghị luận về lối sống uống nước nhớ nguồn

Mở bài nghị luận về lối sống uống nước nhớ nguồn

– Xác định vấn đề nghị luận: Lối sống uống nước nhớ nguồn

– Dẫn dắt vấn đề: Lối sống uống nước nhớ nguồn cần phải được phát huy, làm nên nhân cách con người.

Thân bài nghị luận về lối sống uống nước nhớ nguồn

Luận điểm 1. Giải thích về lối sống uống nước nhớ nguồn

– ” Uống nước nhớ nguồn”: câu tục ngữ nói về lòng biết ơn của thế hệ sau đối với những hi sinh của thế hệ cha ông đời trước. Được hưởng dòng nước mát lành, ngọt ngào phải nhớ đến cội nguồn của nó.

– Ân nghĩa, thủy chung: phẩm chất đáng quý, là cách sống mọi người cần học tập và noi theo.

– Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” là bài học về cách sống ân nghĩa, thủy chung của con người Việt Nam. Lối sống này cần được phát huy, làm nên nhân cách con người.

Luận điểm 2: Ý nghĩa, vai trò của lối sống uống nước nhớ nguồn

– Cuộc sống là một chuỗi tuần hoàn, nối tiếp, những gì ta có hôm nay không tự nhiên mà có, đó là thành quả sau bao nỗ lực, cố gắng của các thế hệ trước. Vì vậy, khi được hưởng thụ những thành quả ấy, cần phải ghi nhớ công lao của những người đã hi sinh trước đó.

– Lòng biết ơn là một lối sống, một phẩm chất đẹp của con người có nhân cách.

– Ân nghĩa, thủy chung sẽ giúp ta tạo được sợi dây gắn kết với quá khứ, cha anh, giúp ta giữ gìn và phát huy những giá trị từ truyền thống để những vẻ đẹp ấy càng phát triển hơn.

– Tác dụng của đạo lí sống Uống nước nhớ nguồn

+ Xây dựng nhân cách cao đẹp.

+ Xã hội phát triển tốt đẹp, văn minh.

+ Con người biết bảo toàn và phát huy những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc.

Luận điểm 3: Biểu hiện của lối sống uống nước nhớ nguồn

– Nhớ ơn, tri ân những anh hùng đã ngã xuống, hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.

– Ghi nhớ công ơn những người giúp đỡ mình khi gặp khó khăn, hoạn nạn.

– Biết ơn không chỉ thể hiện trong hành động mà còn trong suy nghĩ, không cần thể hiện bằng những việc làm lớn lao mà chỉ cần những điều bé nhỏ nhưng ý nghĩa.

– Có thái độ trân trọng, ngợi ca những người biết sống ân nghĩa, thủy chung, có nghĩa, có tình.

– Phê phán, lên án những kẻ vong ân, phụ nghĩa, những người sống không có trước có sau.c.

Luận điểm 4: Lối sống uống nước nhớ nguồn trong thực tế hiện nay

– Ngày 27/7 (ngày thương binh liệt sĩ) hàng năm, toàn dân lại dành những giây phút thiêng liêng tưởng nhớ những vị anh hùng dân tộc, những con người đã xả thân vì độc lập tự do của tổ quốc.

– Hàng năm chúng ta có những dịp lễ tết truyền thống, giỗ chạp để tưởng nhớ về cội nguồn cha ông mình.

– Bên cạnh những hành động thể hiện truyền thống vô cùng quý báu đó cũng có không ít những cá nhân những con người đang ngày một đi ngược lại với tư tưởng đạo lí.

– Có những con người sống ích kỉ, chỉ biết nhận lấy mà không biết ơn, tự tách mình ra khỏi các quy luật của đời sống, tách biệt với cộng đồng, chà đạp lên các thành quả lao động do người khác để lại.

Luận điểm 5: Bài học nhận thức và hành động

– Chúng ta cần tự hào với lịch sử anh hùng và truyền thống văn hóa vẻ vang của dân tộc

– Cần cố gắng học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức thật tốt để góp phần đẩy mạnh đất nước, đưa đất nước ngày càng vững mạnh

– Có ý thức gìn giữ bản sắc, tinh hoa của dân tộc Việt Nam mình và đồng thời tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa nước ngoài.

– Có ý thức tiết kiệm, chống lãng phí khi sử dụng thành quả lao động của mọi người

Kết bài nghị luận về lối sống uống nước nhớ nguồn

– Khẳng định lại tính đúng đắn và giá trị của lối sống uống nước nhớ nguồn

– Nêu bài học đối với bản thân và con người ngày nay.

Top 5 bài văn hay nghị luận về lối sống uống nước nhớ nguồn

Nghị luận lối sống uống nước nhớ nguồn mẫu số 1:

Trong cuộc sống, đạo đức là một yếu tố rất quan trọng, nó thể hiện sự văn minh, lịch sự, nếp sống, tính cách và phần nào có thể đánh giá được phẩm chất, giá trị bản thân con người. Một trong số đó là sự biết ơn, nhớ ghi công lao mà người khác đã giúp đỡ mình. Đó cũng là một chân lí thiết thực trong đời thường. Chính vì vậy ông cha ta có câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” hay “Uống nước nhớ nguồn”. Cả hai câu tục ngữ trên đều mang một triết lí nhân văn sâu sa. Đó là cần phải biết ơn những người đã mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho chúng ta.

Câu đầu tiên mượn hình ảnh “ăn quả” và “trồng cây” ý muốn nói, khi được hưởng thụ những trái ngọt, trái thơm, cần nhớ tới công sức, mồ hôi nước mắt của người đã làm ra nó. Điều đó được ẩn dụ nhằm khuyên răn thái độ của mỗi con người xử sự sao cho đúng, cho phải đối với những người đã giúp đỡ mình để không phải hổ thẹn với lương tâm. Hành động đó đã thể hiện một tư tưởng cao đẹp, một lối ứng xử đúng đắn. Lòng biết ơn đối với người khác đó chính là một truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ xưa tới nay. Đó cũng chính là biết sống ân nghĩa mặn mà, thuỷ chung sâu sắc giữa con người với con người. Tất cả những gì chúng ta đang hưởng thụ hiện tại không phải tự dưng mà có. Đó chính là công sức của biết bao lớp người. Từ những bát cơm dẻo tinh trên tay cũng do bàn tay người nông dân làm ra, một hạt lúa vàng chín giọt mồ hôi mà. Rồi đến tấm áo ta mặc, chiếc giày ta đi cũng đều bởi những bàn tay khéo léo của người thợ cùng với sự miệt mài, cần cù trong đó. Những di sản văn hoá nghệ thuật, những thành tựu độc đáo sáng tạo để lại cho con cháu. Còn nhiều, rất nhiều những công trình vĩ đại nữa mà thế hệ trước đã làm nên nhằm mục đích phục vụ thế hệ sau. Tất cả, tất cả cũng chỉ là những công sức lớn lao, sự tâm huyết của mỗi người dồn lại đã tạo nên một thành quả thật đáng khâm phục để ngày nay chúng ta cần biết ơn, phục hồi, tu dưỡng, phát triển những di sản đó. Những lòng biết ơn, kính trọng không phải chỉ là lời nói mà còn cần hành động để có thể thể hiện được hết ân nghĩa của ta. Đó chính là bài học thiết thực về đạo lí mà mỗi con người cần phải có.

Đến câu tục ngữ thứ hai “Uống nước nhớ nguồn”. Cũng giống câu tục ngữ thứ nhất. Câu tục ngữ này đều mang ý ẩn dụ dưới hình thức cụ thể, sinh động. Nước chính là thứ chúng ta hưởng thụ còn nguồn chính là người tạo ra cái để chúng ta hưởng thụ đó. Câu tục ngữ này chỉ vẻn vẹn có bốn chữ mà ý tứ sâu xa ẩn dưới cấu trúc mô hình điều kiện, hệ quả. Nói đến nước trong nguồn là nói đến sự mát mẻ, thanh tao. Và nguồn nước sẽ mãi không bao giờ vơi cạn. Chữ “nhớ” trong câu là một từ quan trọng, tâm điểm của câu tục ngữ. Ý nghĩa câu tục ngữ này thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Lòng nhớ ơn luôn mang một tình cảm cao đẹp, thấm nhuần tư tưởng nhân văn. Nó giáo dục chúng ta cần biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những anh hùng vĩ đại đã hi sinh, lấy thân mình, mồ hôi xương máu để bảo vệ nền độc lập cho đất nước, giữ vững bình yên vùng trời Tổ quốc cho chúng ta có những năm tháng sống vui, sống khoẻ và có ích cho xã hội, phần để thực hiện đúng trách nhiệm, bổn phận của chúng ta, phần vì không hổ thẹn với những người ngã xuống giành lấy sự độc lập. Có ai hiểu được rằng, một sự biết ơn được thể hiện như một đoá hoa mai ửng hé trong nắng vàng, một lòng kính trọng bộc lộ như một ánh sao đêm sáng rọi trên trời cao. Đó là những cử chỉ cao đẹp, những hành động dù chỉ là nhỏ nhất cũng đều mang một tấm lòng cao thượng. Những người có nhân nghĩa là những người biết ơn đồng thời cũng biết giúp đỡ người khác mà không chút tính toan do dự. Chính những hành động đó đã khơi dậy tấm lòng của biết bao nhiêu con người, rồi thế giới này sẽ mãi là một thế giới giàu cảm xúc.

Tóm lại hai câu tục ngữ trên giúp ta hiểu được về đạo lí làm người. Lòng tôn kính, sự biết ơn không thể thiếu trong mỗi con người, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Chúng ta luôn phải trau dồi những phẩm chất cao quý đó, hãy biết rèn luyện, phấn đấu bằng những hành động nhỏ nhất vì nó không tự có trong mỗi chúng ta. Chúng ta cần phải biết ơn những người đã có công dẫn dắt ta trong cuộc sống nhất là đối với những người trực tiếp giúp đỡ chỉ bảo ta như cha mẹ, thầy cô. Bài học đó sẽ mãi là một kinh nghiệm sống ẩn chứa trong hai câu tục ngữ trên và nó có vai trò, tác dụng rất lớn đối với cuộc sống trên hành tinh này.

Nghị luận lối sống uống nước nhớ nguồn mẫu số 2:

Dân tộc Việt Nam ta, từ ngàn đời xưa đến nay, các thế hệ đi trước, cha ông ta đã đúc kết rất nhiều câu ca dao, tục ngữ, để lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm, những lời răn dạy quý báu. Có những câu ca dao, tục ngữ, đã đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam ta, từ ngày còn thơ bé, chắc hẳn ai cũng được nghe những câu như “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”… Những câu tục ngữ đó ai cũng được nghe, được dạy, nhưng không phải ai cũng hiểu hết được ý nghĩa của nó. Trong vô vàn những câu tục ngữ được truyền đạt lại từ thế hệ đi trước, em thích nhất là câu “Uống nước nhớ nguồn”.

Vậy “Uống nước nhớ nguồn” là gì? Chúng ta hiểu như thế nào về Uống nước nhớ nguồn? Có thể hiểu nôm na, ngắn gọn, “uống nước nhớ nguồn” tức là khi chúng ta được hưởng thành quả của những người khác đã làm, để cho mình có đc một cuộc sống, hoặc một điều gì đó tốt đẹp hơn, thì chúng ta cần phải nhớ đến công lao của những người đã hy sinh, để ta được hưởng những thành quả đó.

Đối với chúng ta, công ơn lớn nhất có lẽ là ơn nghĩa sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Chúng ta được cha mẹ sinh ra, rồi nuôi dạy đến khi khôn lớn, chúng ta cần phải nhớ đến công ơn của cha mẹ ta.

Chúng ta được sống trong thời đại hòa bình, đất nước độc lập, chúng ta cũng cần phải nhớ đến công ơn của những thế hệ anh hùng đi trước, những người đã dũng cảm chiến đấu, hi sinh thân mình để đời sau có được cuộc sống hòa bình, ấm no.

Với người dân Việt Nam ta, hàng năm thường tổ chức lễ Vu Lan báo hiếu vào ngày 7/7, đó là để tưởng nhớ đến công ơn của bậc sinh thành, cũng như những thế hệ đã ngã xuống bảo vệ cho nền độc lập của nước nhà. Đó thật sự là một nét văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta.

Uống nước nhớ nguồn, nhớ nguồn không chỉ là nhớ đến những công lao đó. Mà chúng ta còn cần phải tiếp tục phát huy những giá trị của những điều đó. Ví như nhớ công ơn cha mẹ, thầy cô. Chúng ta cần phải cố gắng chăm chỉ học tập, trở thành những người có ích cho đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những người biết nhớ đến công ơn của người đi trước, cũng có những “con sâu làm rầu nồi canh”. Họ ngược đãi chính cha mẹ mình, những người đã sinh thành và nuôi nấng họ. Không chỉ thế, họ không biết nhớ đến công ơn của những thế hệ đi trước, hoặc những người đã giúp đỡ mình,họ sẵn sàng phủ nhận những điều người khác đã giúp đỡ mình. Thật sự đau lòng cho những con người như thế.

Thật vậy, mỗi chúng ta, những con người Việt Nam đã và đang sinh sống trên mảnh đất hình chữ S tươi đẹp này, cần phải tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Cùng nhau xây dựng một đất nước đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn, để các thế hệ sau có thể cùng nhau “Uống nước nhớ nguồn”.

Nghị luận lối sống uống nước nhớ nguồn mẫu số 3:

Tục ngữ là một bộ phận trong kho tàng văn học dân gian, được xem là túi khôn của nhân loại, bởi vì đó là những bài học trí tuệ sâu sắc của người xưa được đúc kết bằng những câu nói ngắn gọn. Chúng ta có thể tìm thấy ở đấy những kinh nghiệm sống trong thực tế và những bài học về luân lý đạo đức. Ngay từ xa xưa, cha ông ta vẫn thường nhắc nhở thế hệ đi sau phải có tình cảm trân trọng biết ơn đối với những người đã tạo dựng thành quả cho mình. Lời khuyên nhủ ấy được gởi gắm trong câu tục ngữ giàu hình ảnh:

“Uống nước nhớ nguồn”

Chúng ta có suy nghĩ như thế nào khi đọc lời khuyên dạy của tiền nhân?

“Nguồn” là nơi xuất phát của dòng nước, mạch nước từ núi, từ rừng ra suối, ra sông rồi đổ ra biển cả mênh mông, không bao giờ cạn. Thứ nước khởi thủy đó trong mát, tinh khiết nhất. Khi ta uống dòng nước làm vơi đi cơn khát thì phải biết suy ngẫm đến nơi phát xuất dòng nước ấy. Từ hình ảnh cụ thể như vậy, người xưa còn muốn đề cập đến một vấn đề khái quát hơn. “Nguồn” có thể được hiểu chính là những người đã tạo ra thành quả về vật chất, tinh thần cho xã hội. Còn “uống nước” đó chính là sử dụng, đón nhận thành quả ấy. Câu tục ngữ nhằm khuyên nhủ chúng ta phải biết ơn những người đã tạo dựng thành quả cho mình trong cuộc sống.

Thật vậy, trong cuộc sống, không có hiện tượng nào là không có nguồn gốc, không có thành quả nào mà không có công lao của một ai đó tạo nên, tất cả mọi thành quả đều phần lớn do công sức lao động của con người làm ra. Ta không thể tự tạo mọi thứ từ đôi tay, khối óc của mình cho nên ta phải nghĩ đến những ai đã tạo ra nó. Mặt khác, người tạo ra thành quả phải đổ mồ hôi công sức, thậm chí phải chịu phần mất mát hy sinh. Trong khi đó người thụ hưởng thì không bỏ ra công sức nào cả, vì lẽ đó chúng ta phải biết ơn họ. Đó là sự công bằng trong xã hội.

Hơn nữa, lòng biết ơn sẽ giúp ta gắn bó với cha anh, với tập thể, tạo ra một xả hội thân ái kết đoàn. Cuộc sống sẽ tốt đẹp biết bao nếu truyền thống ấy được lưu giữ và xem trọng. Con người sống ân nghĩa sẽ được người khác quý trọng, được xã hội tôn vinh.

Ngược lại, thiếu tình cảm biết ơn, sống phụ nghĩa quên công, con người trở nên ích kỉ, vô trách nhiệm, những kẻ ấy sẽ bị người đời chê trách, mỉa mai, bị gạt ra ngoài lề xã hội và lương tâm của chính họ sẽ kết tội.

Bên cạnh đó, ta thấy “Uống nước nhớ nguồn” còn là đạo lí của dân tộc, là lẽ sống tốt đẹp từ bao đời nay cho nên thế hệ đi sau cần kế thừa và phát huy. Bài học đạo đức làm người ấy cứ trở đi trở lại trong kho tàng văn học dân gian: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ người đào giếng”, “Đường mòn ân nghĩa chẳng mòn”, “Ai mà phụ nghĩa quên công, thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm”…

Thật đáng chê trách cho những ai còn đi ngược lại với lẽ sống cao thượng ấy. Sống dưới mái ấm gia đình, có những người con vẫn chưa cảm nhận hết công sức của đấng sinh thành, họ thản nhiên tiêu xài hoang phí những đồng tiền phải đánh đổi bằng những giọt mồ hôi, nước mắt của cha mẹ, thậm chí còn có kẻ đã ngược đãi với cả những người đã tạo dựng ra mình. Dưới mái học đường, nhiều học sinh vẫn còn xao nhãng với chuyện học hành. Đó là gì, nếu không phải là vô ơn với thầy cô? Trong xã hội cũng không ít kẻ “uống nước” nhưng đã quên mất “nguồn”.

Câu tục ngữ là lời khuyên nhủ chân tình: con người sống phải có đạo đức nhân nghĩa, thủy chung, vừa là lời ca ngợi truyền thống đạo lí lâu đời của dân tộc Việt. Nó còn là hồi chuông cảnh tỉnh đối với ai đã đối xử một cách vô ơn, bạc nghĩa với những người đã tạo ra thành quả cho mình hưởng thụ. Học tập câu tục ngữ này, cụ thể là phải biết ơn, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả những gì mà người khác tạo dựng. Là một người con trước hết ta phải biết khắc ghi công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, còn là một người học sinh, biết ơn công ơn dạy dỗ của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ của tập thể lớp, trường. Sống trong cuộc đời, ta phải biết khắc ghi công ơn những ai đã cưu mang, giúp đỡ mình khi gặp hoạn nạn khó khăn. Suy rộng ra là con cháu vua Hùng, thuộc dòng dõi Lạc Hồng, ta phải biết tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc. Thừa hưởng cuộc sống tự do, thanh bình phải biết khắc ghi công ơn cua các anh hùng liệt sĩ, khi “bưng bát cơm đầy”, ta phải cảm hiểu “muôn phần đắng cay” của những người nông dân… Không chỉ biết ơn đối với những lớp người đi trước, ta còn phải ý thức quý trọng giữ gìn những giá trị mà quá khứ đã tạo nên bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu, tiếp tục phát triển các thành quả của quá khứ. Nói như Bác: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Trong tưong lai, hãy đem tài năng của mình ra xây dựng quê hương, hàn gắn vết thương chiến tranh đó chính là cách “trả ơn” quý báu nhất.

Đồng thời còn phải biết đấu tranh chống lại những biểu hiện vô ơn “ăn cháo đá bát”, có thế xã hội sẽ tốt đẹp hơn. Mỗi con người sẽ sống chan hòa với nhau bằng những tình cảm chân thành hơn.

Qua việc sử dụng câu tục ngữ ngắn gọn, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh cụ thể mà ý nghĩa thật vô cùng sâu sắc, người xưa đã khuyên nhủ thế hệ đi sau phải biết nhớ ơn những ai đã tạo dựng thành quả cho mình trong cuộc sống để từ đó khéo léo nhắc nhở,cảnh tỉnh những kẻ còn có lối sống bất nghĩa vô ơn. Mặc dù trải qua bao thâm trầm của thời đại, ý nghĩa câu tục ngữ trên vẫn sống mãi với thời gian… Đọc lại lời dạy của tổ tiên, ta không khỏi tự nhủ với lòng mình: Không bao giờ trở thành kẻ sống thiếu trách nhiệm đối với xã hội, sống và làm việc xứng đáng với đạo lí và truyền thống dân tộc, sống chân thành trọn nghĩa trọn tình, có trước có sau.

Nghị luận lối sống uống nước nhớ nguồn mẫu số 4:

Sống trong xã hội, con người cần có thái độ như thế nào đối với những người đã giúp đỡ mình? Trước mắt ta, không thiếu những kẻ trâng tráo vô ơn làm nên những hiện tượng “ăn cháo đá bát” mà nhân dân ta ai cũng cực lực phê phán. Những kẻ ấy đã không hiểu được một đạo lí truyền thống của dân tộc ta đã được đúc kết từ thực tế, từ mối quan hệ cần thiết trong đời sống con người đó là: “Uống nước nhớ nguồn”. Ta nên hiểu câu tục ngữ này ra sao? Trong cuộc sống hiện nay, ý nghĩa của câu nói trên càng trở nên sâu sắc hơn như thế nào?

Trước tiên ta cần hiểu thế nào là “uống nước nhớ nguồn”. Câu tục ngữ đã bắt đầu bằng một hình ảnh cụ thể, dễ thấy và dễ hiểu đó là “uống nước”. “Uống nước” là thừa hưởng hoặc sử dụng thành quả lao động hay thành quả đấu tranh cách mạng của các thế hệ trước đã qua rồi còn để lại. Nguồn là nơi xuất phát dòng nước. Nói rộng hơn, là nguyên nhân do con người: cá nhân hay tập thể đã đổ tâm huyết và công sức làm ra thành quả đó. “Uống nước nhớ nguồn” là lời khuyên nhủ, nhắc nhở của ông cha chúng ta đối với lớp người đi sau, đối với tất cả những ai, đang và sẽ thừa hưởng thành quả được tạo nên do công lao của bao thế hệ người đi trước.

Có điều là vì sao “uống nước” phải “nhớ nguồn” cũng như ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây? Điều này thật là dễ hiểu! Bởi vì trong thiên nhiên cũng như trong xã hội, không có bất cứ một sự vật nào, một thành quả nào mà không có nguồn gốc, không do công sức lao động làm nên cả. Giống như hoa thơm trái ngọt phải có người trồng cây đổ biết bao mồ hôi công sức, đôi khi cả xương máu của mình nữa để cây xanh non tươi tốt. Của cải vật chất trong xã hội cũng vậy, cũng đều cần đến bàn tay khối óc cần lao của người lao động khổ công nhọc trí làm ra.

Ngay cả đến một dải đất nước giàu đẹp của chúng ta hiện nay cũng chính là thành quả của biết bao thế hệ ông cha đã đổ máu xương công sức ra gây dựng và tiếp truyền cho. Trong phạm vi hạn hẹp hơn là gia đình thì con cái là “thành quả” do các bậc cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục. Người thừa hưởng sử dụng các thành quả đó phải biết đến công lao của những người tạo ra chúng. Vì thế “nhớ nguồn” là đạo lí tất yếu. Ân nghĩa, thủy chung, không quên công lao của tổ tiên từ đó đã là một trong những phẩm chất tốt đẹp đã trở thành truyền thống cao quý của con người Việt Nam. Ta đã từng bắt gặp tình cảm ấy trong ca dao, tiếng nói tâm tình của dân tộc ta:

Ai ơi, bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Khi “bưng bát cơm đầy” ta phải biết trân trọng nhớ ơn những ai đã “một nắng hai sương, muôn phần đắng cay” để làm nên “dẻo thơm một hạt”. Nói cách khác, được thừa hưởng cuộc sống thanh bình, no ấm hiện nay nhất thiết ta phải khắc ghi công lao của các vị anh hùng liệt sĩ đi trước đã hi sinh biết bao xương máu, mồ hôi và nước mắt. Do đó, “Uống nước nhớ nguồn” chính là nền tảng vững chắc tạo nên một xã hội thân ái đoàn kết đầy đạo lí làm người. Ai chẳng biết là lòng vô ơn, bội bạc, thái độ “ăn cháo đá bát” sẽ làm con người trở nên nhỏ nhen, ích kỉ ăn bám gia đình và xã hội.

Thế nhưng để “nhớ nguồn” chúng ta phải làm gì? Là người Việt Nam, tự hào với lịch sử anh hùng và truyền thống văn hóa vẻ vang của dân tộc, chúng ta phải ra sức góp phần bảo vệ đất nước, tích cực học tập và lao động để góp phần xây dựng đất nước trở nên giàu đẹp hơn. Không những chỉ có ý thức giữ gìn bản sắc, tinh hoa của dân tộc Việt Nam mà chúng ta còn phải có ý thức tiếp thu một cách chọn lọc tinh hoa nhân loại để làm giàu thêm nền văn hóa nước nhà.

Ngoài ra, để “nhớ nguồn” chúng ta phải có ý thức tiết kiệm, chống lãng phí khi sử dụng thành quả lao động của mọi người. Có như thế mới xứng đáng trọn nghĩa trọn tình, đúng với truyền thống đạo lí “uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp của cha ông.

Tóm lại, câu tục ngữ trên là lời khuyên, lời nhắc nhở ngắn gọn, súc tích, hình tượng rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu mà ý nghĩa thật sâu sắc. Từ bao đời nay, cha ông chúng ta vẫn dùng tục ngữ để giáo dục chúng ta đạo lí làm người Việt Nam. Là học sinh, hơn ai hết, chúng ta phải khắc ghi trong lòng công ơn sinh thành nuôi nấng của cha mẹ và công lao tận tâm dạy dỗ của thầy cô giáo. Phải biết bảo vệ các thành quả vật chất lẫn tinh thần của bao thế hệ cha ông để lại, và đồng thời cũng biết kế thừa phát huy và giữ gìn giá trị vật chất, tinh thần của những thành quả đó.

Nghị luận lối sống uống nước nhớ nguồn mẫu số 5:

Uống nước nhớ nguồn là một câu tục ngữ đã trở nên quen thuộc với người Việt Nam bao đời nay. Dưới hình thức rất đỗi giản dị, câu tục ngữ này là bài giáo dục về nhân cách làm người của cha ông ta, thể hiện sâu sắc truyền thống đạo lí của người Việt Nam: luôn luôn trân trọng, biết ơn người đi trước.

Theo nghĩa đen, “nguồn” là nơi bắt đầu cùa dòng nước. Theo nghĩa bóng, “nguồn” là ẩn dụ chỉ công lao tạo lập nên những thành quả của người đi trước dành cho các thế hệ sau. “Nước có nguồn” nên “uống nước” hiểu theo nghĩa bóng là thừa hưởng thành quả mà người đi trước, thế hệ trước để lại. Câu tục ngữ mượn mối quan hệ khăng khít giữa “nguồn” và “nước” trong tự nhiên để nói với chúng ta một cách thấm thía về triết lí sống: Khi hưởng thụ một thành quả nào đó, người ta phải nhớ ơn và đền ơn xứng đáng những người đã đem lại thành quả mà mình đang được hưởng.

Triết lí sống “uống nước nhớ nguồn” là hoàn toàn đúng đắn. Lẽ thường, khi hưởng thụ một thành quả, người ta thường quên đi sự khó nhọc của những người đã làm nên thành quả ấy. Chính vì thế, người lao động xưa đã chọn thời điểm “bưng bát cơm đầy” thời điểm của sự hưởng thụ – để cất lên riếng nhắn nhủ thật thấm thía:

“Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

Thì ra cái “dẻo thơm” của giờ phút hưởng thụ lại bắt nguồn từ giọt mồ hôi của:

“Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”.

Mở rộng ra, mọi thành quả mà chúng ta có được hôm nay đều có nguồn gốc từ công sức của bao người. Đất nước Việt Nam hôm nay là thành quả của tổ tiên ta suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, ta lớn lên trong bao sự tích: sự tích bánh chưng, bánh giầy, sự tích tre đằng ngà với chiến công của người anh hùng làng Gióng, sự tích trầu cau, sự tích hòn Trống Mái… Mọi thứ quanh ta: trang sách, ngòi bút, con đường đến trường, hàng cây bên đường, bài giảng của thầy cô… tất cả đều ẩn chứa một sự tích, nguồn gốc, đều là kết tinh từ công sức của bao người. Bản thân sự trưởng thành của mỗi chúng ta cũng nhờ thầy cô, cha mẹ.

Như vậy, trong cuộc sống, không có thành quả nào mà không có công lao của một ai đó tạo nên. Chính vì thế, trong kho tàng tục ngữ Việt Nam luôn có những lời thấm thía nhắc nhở ta về lòng biết ơn với người nghệ sĩ và công lao của những người đi trước:

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Và:

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Hoặc:

Không thầy đố mày làm nên.

Triết lí sống “uống nước nhớ nguồn” đã hóa thân thành những tập tục đẹp đẽ của người Việt Nam. Biết ơn các vua Hùng dựng nước, dân ta có ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Biết ơn các thương binh, liệt sĩ đã đổ xương máu để giữ hòa bình, chúng ta có ngày 27-7. Triết lí sống “uống nước nhớ nguồn” đã trở thành bản lĩnh sống, là một nét nhân cách đẹp đẽ. Nguyền Trãi ăn “lộc” vua nhưng lại tâm niệm “đền ơn kẻ cấy cày”. Trần Đăng Khoa biết từ những khó nhọc của cha mẹ để thấy rõ hơn trách nhiệm của mình:

“Áo mẹ mưa bạc màu Đầu mẹ nắng cháy tóc Mẹ ngày đêm khó nhọc Con chưa ngoan chưa ngoan”

(Khi mẹ vắng nhà)

Trong thực tế, không phải không có những kẻ vô ơn, thậm chí quay lưng phản bội lại những người đã có công lao đối với mình. Đó là những kẻ ích kỉ, giả dối, như nhân vật Lí Thông trong truyện cổ tích “Thạch Sanh”. Những kẻ vô ơn đó bị xã hội khinh ghét và sớm muộn cũng sẽ phải trả giá cho sự vô ơn của mình.

Dạy cho con người lòng biết ơn, câu tục ngữ “uống nước nhớ nguồn” có một giá trị nhân văn đẹp đẽ. Lòng biết ơn khiến con người biết sống thủy chung, ân nghĩa. Nhờ lòng biết ơn mà các thế hệ kết nối với nhau bởi tình người. Lòng biết ơn khi hóa thân thành hành động cụ thể là động lực để giữ gìn, xây dựng cuộc sống ngày một đẹp hơn. Bác Hồ nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Câu nói ấy đã thể hiện cao nhất hành động “nhớ nguồn”. “Nhớ nguồn” là phải giữ gìn, bảo vệ thành quả của những người đi trước, khiến nó trở nên phong phú, đẹp đẽ hơn. Chúng ta là thành quả của cha mẹ, thầy cô. Đến lượt mình, chúng ta phải đi xa hơn nữa, vươn tới những chân trời mới. Có như thế mới thật sự đền đáp công ơn dưỡng dục, sinh thành của thầy cô, cha mẹ. “Nhớ nguồn”, ở đây cũng đồng thời là lối sống có trách nhiệm, vị tha. Biết vì thế hệ sau – đó là biểu hiện đẹp nhất của “nhớ nguồn”. Có như thế, chúng ta chẳng những tỏ lòng biết ơn mà còn xứng đáng với nhân cách, tấm lòng của thế hệ đi trước. Một điều rất quan trọng nữa là phải biết tự tạo lập cho mình những thành quả cho thế hệ sau.

“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lí làm người được đúc kết từ bao đời nay. Đó cũng là “nguồn nước” trong trẻo mà cha ông ta đã bao đời gạn đục, khơi trong để truyền lại cho chúng ta hôm nay. Chúng ta phải biết giữ gìn “nguồn nước” ấy và biến nó thành hiện thực trong nhân cách sống và lối sống của mỗi con người. Đối với học sinh chúng ta, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi là cách đền ơn thiết thực nhất với công lao của cha mẹ, thầy cô và xã hội.

-/-

Nghị Luận Xã Hội Về Thực Trạng Internet

Bài làm

Sự phát triển của công nghệ thông tin, nhất là mạng internet đã đem đến cho người một thế kỉ văn minh mới. Trong đời sống hiện nay thì internet là một phương tiện rất cần thiết. Tuy internet đem lại nguồn lợi ích lớn lao cho con người nhưng bên cạnh đó nó cũng đặt những thách thức không nhỏ đang rất cần được giải quyết.

Internet ra đời với nhiệm vụ đem lại những lợi ích thiết thực cho con người. Và đúng như vậy, chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà internet mang lại. Nó là một phương tiện thông tin vô cùng hữu hiệu, ứng dụng trong rất nhiều ngành nghề khác nhau. Thông qua internet, chúng ta có thể tìm kiếm vô vàn những thông tin bổ ích, chia sẻ kiến thức, kinh doanh, kết bạn khắp hành tinh… Điều đó cho thấy những tác dụng to lớn của internet và chính nó đã giúp cho cuộc sống của chúng ta trở nên hiện đại hơn. Nếu như không có internet thì quả thật rất nhiều ngành nghề sẽ phát triển rất hạn chế.

Giới trẻ có một câu nói rất thực tế: “Cái gì không biết thì tra google”. Quả đúng là như vậy. Google là một kho tàng kiến thức và tin tức khổng lồ. Các thông tin được cập nhật thường xuyên, hàng ngày, hàng giờ, thâm chí là hàng giây. Những tiện ích vì đó cũng ra đời (như mua sắm online) để đáp ứng nhanh chóng được những nhu cầu cần thiết của con người.

Mặc dù internet xuất hiện ở Việt Nam khá muộn, từ đầu những năm 1990 nhưng hiện nay thì Việt Nam ljai là nước có tỉ lệ người dùng internet rất cao, nằm trong top đầu của thế giới. Điều này chứng tỏ sự lan truyền mạnh mẽ của internet và sự cần thiết, quan trọng của nó đối với đời sống của con người.

Có rất nhiều bạn trẻ vì nghiện game mà bỏ học, trốn cha mẹ đi chơi điện tử. Có những bạn vì chơi thấu đêm suốt sáng mà dẫn đến ngất, đột quỵ. Thậm chí không chỉ là bỏ học mà có những bạn vì để có tiền nạp game mà sẵn sàng đi ăn trộm ăn cắp. Điều này gây ra tình trạng mất trật tự an ninh và những tệ nạn xã hội thường xuyên xảy ra hơn.

Khi có Internet, nó giúp chúng ta kết nối với những người bạn ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng cũng chính vì những mạng xã hội ngày càng phổ biến mà rất nhiều bạn trẻ trở nên phụ thuộc vào “thế giới ảo” ấy. Đi đâu, làm gì, các bạn cũng chia sẻ thông tin lên các mạng xã hội. Ban đầu, những chia sẻ này với mục đích “chia sẻ” đơn thuần. Nhưng dần dà, mạng xã hội là nơi để các bạn phô trương, tạo “tin nóng”, nói xấu, chửi bởi nhau…. Điều này không chỉ khiến cho hình ảnh của các bạn xấu đi mà còn làm phản tác dụng tốt đẹp của internet. Không những thế, mọi người hiện nay còn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ trên mạng và thu hẹp những mối quan hệ thiết thực quanh mình. Con người vì thế trở nên lãnh cảm với nhau hơn. Ai cũng chỉ quan tâm đến bản thân mình, làm sao để thể hiện mình trong thế giới ảo. Việc bỏ bê học hành, sống phụ thuộc vào thế giới ảo cũng khiến cho các bạn dần đánh mất đi chính bản thân mình và tương lai của mình. Thực trạng ấy quả thật rất đáng buồn.

Như đã biết, điều gì cũng có hai mặt của nó. Internet cũng vậy. Chính vì thế, điều mà chúng ta cần làm đó là có ý thức sử dụng internet đúng mục đích để đem lại những giá trị đích thực. Không những internet giúp chúng ta mở mang tầm hiểu biết và còn giúp chúng ta đến gần với sự tiến bộ và văn minh hơn. Việc sử dụng sai mục đích hoặc lạm dụng internet sẽ gây nên hệ quả thật khó lường.

Nghị Luận Xã Hội Về Tác Động Của Internet

Tài liệu ôn thi THPT quốc gia môn Văn

Vndoc.com xin giới thiệu đến bạn bài nghị luận xã hội về tác động của Internet, đây là tài liệu tham khảo hay nhằm phục vụ việc ôn tập THPT quốc gia môn văn. Mời các bạn tham khảo.

Nghị luận xã hội về tác động của Internet

1. Dàn ý nghị luận xã hội về tác động của Internet

1. Đặt Vấn Đề

Vai trò của Internet: Internet là kênh thông tin khổng lồ, là phương tiện đắc lực giúp con người mở mang hiểu biết, đó là môi trường để trao đổi chia sẻ kinh nghiệm, tạo điều kiện giao lưu tình cảm, rút ngắn khoảng cách trong xã hội hiện đại.

Sự tác động đến thanh niên: Thế hệ trẻ luôn nhạy cảm với cái mới, đặc biệt là khoa học công nghệ tiến bộ, Internet đã mở ra chân trời sống động. Đằng sau ấy là kho tri thức vô giá nhưng cũng đồng thời tiềm ẩn những nguy cơ đáng sợ.

2. Giải Quyết Vấn Đề Bước 1: Giải thích vai trò của Internet đối với đời sống.

Vai trò tích cực: Trong cuộc sống hiện đại, Internet là phương tiện trao đổi tri thức trên toàn cầu, là phương tiện xuyên quốc gia, có ảnh hưởng đến mọi phạm vi đời sống của con người.

Vai trò tiêu cực: Kho thông tin trên Internet rất đa dạng, bao gồm những thông tin quý giá lẫn những sản phẩm xấu, những mầm bệnh cần đề phòng như những trang web kích động bạo lực, những trò lừa đảo về kinh tế và tình cảm.

Bước 2: Phân tích hiện tượng.

Xã hội ngày càng phát triển thì Internet thực sự trở thành bạn đồng hành của con người, khắp mọi nơi ta đều thấy sự hiện diện của Internet.

Ở mặt tích cực, thanh niên có thể tìm thấy kho thư viện khổng lồ được sắp xếp hoàn hảo giúp cho việc học hỏi trở nên thuận tiện hơn bao giờ hết. Các khoá học mở trên Internet với nội dung và phương pháp học tập tiên tiến luôn chào đón bạn bất cứ lúc nào, ví dụ như trang web Coursera cung cấp hàng ngàn khoá học trực tuyến do các giáo sư hàng đầu của các trường Đại Học uy tín thế giới giảng dạy. Thanh niên cũng có thể tìm được sân chơi bổ ích, lí thú. Ngoài ra, việc tìm kiếm thông tin sản phẩm cũng như mua sắm qua Internet cũng rất nhanh chóng. Như vậy, vai trò của Internet với đời sống hiện đại là vô cùng quan trọng và ảnh hướng đến mỗi một con người.

Tuy nhiên, một thực trạng nguy hiểm đối với việc sử dụng Internet đó là nhiều người sa vào trò chơi trên mạng, bỏ học hành, quay lưng với trách nhiệm gia đình và xã hội, chìm đắm trong thế giới ảo. Internet trở thành thứ gây nghiện khiến cuộc đời họ bế tắc và chìm vào ảo mộng.

Nguyên nhân con người sa vào những cạm bẫy trên Internet:

Khách quan:

Sự quản lý lỏng lẻo của cơ quan chức năng.

Nhiều kẻ vì lợi ích kinh tế mà sẵn sàng khai thác những trang web xấu.

Chủ quan:

Do con người thiếu bản lĩnh, thiếu ý chí và nghị lực.

Do không được sự quan tâm, sự quan tâm từ gia đình và xã hội dẫn đến lối sống buông thả.

Bước 3: Giải Pháp.

Không nên trốn tránh và sợ hãi Internet vì biết cách khai thác Internet sẽ làm phong phú và giàu có cho cuộc sống của mình.

Đừng vì tò mò, buồn chán mà dây dưa với những trang web xấu – đó là những cạm bẫy khó lường.

Hãy nhớ rằng đừng mập mờ giữa thế giới thực và ảo, bởi Internet là phương tiện giúp cuộc sống tốt đẹp hơn chứ không phải là mục đích sống.

Bước 4: Bài Học Cụ Thể.

2. Nghị luận xã hội về tác động của Internet mẫu 1

Trong thời đại công nghệ 4.0, nhu cầu giao tiếp và thông tin của con người trở nên cực kì được coi trọng. Vì thế sự ra đời của Internet vào năm 1960 được coi là một trong những phát minh vĩ đại của con người, thay đổi cuộc sống nhân loại, kết nối con người trên khắp các châu lục. Hiện nay Internet trở nên cực kì quan trọng với đời sống của con người, đặc biệt là giới trẻ.

Internet là một hệ thống chia sẻ thông tin toàn cầu, là một cộng đồng các máy tính được liên kết, dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa quốc tế (giao thức IP hay gọi là IP protocol). Hệ thống Internet bao gồm hàng triệu mạng máy tính nhỏ hơn của các Công ty, tổ chức, của các trung tâm nghiên cứu khoa học, các trường đại học, các chính phủ trên thế giới và hàng tỷ người dùng cá nhân.

Internet cho phép người dùng giao tiếp, kết nối với nhau bằng những thiết bị như máy tính, điện thoại thông minh, ti vi… Hiện nay Internet gắn liền với sự phát triển của xã hội, là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người, gắn liền với tiến bộ xã hội, sự phát triển về kinh tế, an ninh, văn hóa, tôn giáo…

Với tốc độ bùng nổ của mạng xã hội với những trang thông tin đa dạng và nhu cầu của con người, Internet càng ngày càng chiếm vị trí quan trọng, đặc biệt là đối với giới trẻ. Được biết tỉ lệ giới trẻ tham gia sử dụng Internet nhiều nhất trong các lứa tuổi. Đây là một điều cực kì dễ hiểu và hoàn toàn có thể lí giải. Vậy giới trẻ làm gì với Internet, giới trẻ sử dụng Internet như thế nào?

Internet không của riêng ai, lượng truyền tải thông tin cực lớn, tốc độ nhanh chóng mặt, phủ sóng toàn cầu, với chức năng chủ yếu này của Internet thu hút thanh niên tích cực tham gia. Thực tế không thể nào phủ nhận tầm quan trọng của Internet, nói như giới trẻ, đó là cùng ăn cùng ngủ. Internet rất dễ để truy cập, giá thành rẻ lại mang đến cả thế giới thu nhỏ lại trong chiếc điện thoại nhỏ, bất cứ khi nào các bạn trẻ cũng có thể lướt web, xem phim trực tuyến, nghe nhạc online, chơi game, tìm kiếm thông tin, chat với bạn bè, người thân, gọi thoại miễn phí, sử dụng để tìm đường, tham gia diễn đàn quốc tế, để học tập. Internet phục vụ mọi mặt của cuộc sống, khi người sử dụng không chỉ thụ động tiếp nhận mà còn có thể tương tác và phản hồi bằng cách bày tỏ ý kiến, thỏa sức sáng tạo và nhu cầu cá nhân.

Hơn vậy, hiện nay Internet giúp việc mua bán trở nên tiện lợi và dễ dàng hơn, đây được gọi là hình thức mua bán trực tuyến. Rất nhiều bạn trẻ đã thành công ở độ tuổi rất trẻ khi bán hàng online trên mạng. Ưu điểm của hình thức này đó là không mất thời gian đăng kí giấy phép kinh doanh, tự do buôn bán, vốn không nhiều, không cần mặt bằng, độ tương tác cực khủng.

Internet thân thiện như một ngôi nhà chứa đựng rất nhiều “tài sản riêng”, tính năng bảo mật của Internet cũng khá tốt, bạn hoàn toàn có thể chia sẻ ảnh kỉ niệm, tài liệu, thông tin cá nhân, và tất nhiên tìm việc làm thông qua mạng xã hội cũng trở nên hết sức dễ dàng.

Internet bảo vệ quyền lợi của con người bằng những cách thức khác nhau. Nhờ tốc độ lan tỏa của Internet mà những thông tin đi nhanh chóng, nhất là những lời kêu gọi giúp đỡ, cứu trợ đều có thể dễ dàng thực hiện dù bạn ở xa đến đâu.

Vai trò giải trí của Internet có lẽ được giới trẻ ưu tiên sử dụng và yêu thích hơn cả. Không một hình thức giải trí nào tiện lợi, phong phú và giá rẻ như Internet, đó là điều chắc chắn. Cuộc sống sẽ thật nhàm chán nếu “mất mạng, cá mập cắn cáp quang”.

Rõ ràng Internet là một nhân tố tối quan trọng trong sự phát triển của loài ngoài, trong cuộc sống của con người hiện nay. Internet không chỉ có vai trò lớn với giới trẻ mà hầu hết các độ tuổi trong xã hội đều có nhu cầu sử dụng lớn. Đối với trẻ nhỏ Internet ứng dụng trong việc giải trí, học tập, người lớn để học tập, làm việc, đáp ứng những tiện ích trong cuộc sống, người già Internet góp phần làm mới cuộc sống, trẻ hóa cuộc sống. Trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin như hiện nay, việc không biết Internet hay không có Internet là một sự mất mát rất lớn cho sự phát triển.

Nhìn rộng ra, Internet có ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với sự phát triển của xã hội trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục. Nguồn lợi mà Internet thu về cho mỗi quốc gia là con số khổng lồ. Rất nhiều nước, rất là với những nước phát triển đã ứng dụng Internet thành công để khai thác tiềm lực kinh tế. Ngoài ra có thể kể đến những cá nhân dựa vào Internet sáng chế ra những ứng dụng tiện ích kết nối con người, nổi tiếng toàn thế giới như Google của Larry Page và Sergey Brin, Facebook của Mark Zuckerberg,…

Nhưng sử dụng Internet như thế nào, ứng dụng ra sao, còn phụ thuộc phần nhỏ vào chính sách của Nhà nước, phần lớn và mục đích của từng người. Internet rất dễ sử dụng nhưng cũng dễ phản tác dụng khi sử dụng sai mục đích.

Không thể phủ nhận vai trò của nó đối với giới trẻ nhưng chúng ta cũng nhìn thẳng vào mặt trái của nó. Internet có thể gây nghiện và sự gây nghiện này giống như rất nhiều loại nghiện khác, khó bỏ, ảnh hưởng xấu đến đời sống vật chất và tinh thần. Lạm dụng sử dụng Facebook, trước hết tác động xấu tới sức khỏe, thay vì thời gian tập thể dục, chơi thể thao để giải trí thì nhiều bạn trẻ chọn cách lướt web, ngồi lâu ảnh hưởng tới cột sống, các bệnh về mắt và nhất là bệnh trầm cảm khi hạn chế giao tiếp trực tiếp mà giao tiếp thông qua mạng xã hội, hay còn gọi là “sống ảo”. Đồng thời Internet ảnh hưởng đến trí nhớ của con người. Với tốc độ chia sẻ nhanh, lớn, Internet tạo áp lực lên dư luận gây ra nhiều sự vụ không đáng có.

Giới trẻ là độ tuổi dễ tiếp nhận thông tin nhưng cũng dễ nhận thức sai vấn đề, chính vì vậy khi tiếp cận Internet cần phải có phương pháp cụ thể, đúng đắn. Thời gian sử dụng Internet trong một ngày cũng cần hợp lí, tránh việc làm dụng quá nhiều vào Internet.

Internet là một thứ không thể thiếu trong thời đại thông tin mà chúng ta đang sống, nếu ta không biết đến nó, ta không chỉ lạc hậu mà còn đang tự tách mình ra khỏi sự tiến bộ của cả nhân loại. Hãy học không chỉ để biết về nó mà còn sử dụng và làm chủ nó. Giới trẻ đang nắm trong tay sự thay đổi vận mệnh nếu bạn biết cách ứng dụng nó một cách tốt nhất.

3. Nghị luận xã hội về tác động của Internet mẫu 2

Internet là kênh thông tin khổng lồ, là phương tiện đắc lực giúp con người mở mang tri thức, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, tình cảm, rút ngắn khoảng cách giữa người với người, giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới trong thời hiện đại. Internet là thế giới tri thức đa dạng, phong phú, vô cùng hấp dẫn, nhất là đối với thế hệ trẻ. Bởi giới trẻ thường tiếp thu nhanh nhạy những thành tựu mới mẻ của khoa học kĩ thuật tiên tiến, của công nghệ thông tin hiện đại.

Bên cạnh mặt tích cực, Internet cũng có những mặt tiêu cực tiềm ẩn nhiều nguy cơ đáng sợ, nếu như con người sử dụng nó không đúng mục đích thiết thực và tốt đẹp. Hiện nay, nhiều người đã đặt ra câu hỏi: Internet – thế giởi ảo hay thực ? Sự lựa chọn và bản lĩnh của chúng ta như thế nào ?

Có người cho rằng Internet chẳng qua chỉ là thế giới ảo. Nhưng điều không thể phủ nhận là những gì có trong thế giới thực đều được phản ánh vào Internet và những gì không có trong thế giới thực cũng có thể tìm thấy trên Internet. Do đó Internet là thế giới ảo mà thực, thực mà ảo.

Chúng ta là những người của thế hệ 8X, 9X, của thế kỉ XX, thế kỉ công nghệ thông tin và kinh tế tri thức. Internet đã trở thành cánh cửa mở ra một thế giới sống động, đem đến muôn vàn cơ hội cho cuộc sống của chúng ta, là một phần không thể thiếu của mỗi người trong cuộc sống hiện nay. Trực tiếp hay gián tiếp, không ai trong thế giới hiện đại này thoát khỏi mạng lưới của Internet. Có điều, chúng ta thu được gì từ mạng lưới ấy hay tự biến mình thành kẻ mắc lưới? Điều đó còn tùy thuộc vào nội lực và bản lĩnh của mỗi người khi gia nhập vào thế giới mạng.

Trước hết, Internet là một pho Từ điển bách khoa đồ sộ, một thư viện khổng lổ mà tất cả các thư mục được sắp xếp với một trật tự gần như hoàn hảo. Bạn có thể tra cứu trên mạng những thông tin quan trọng thuộc mọi lĩnh vực: khoa học, kĩ thuật, công nghệ, văn học, nghệ thuật… Internet còn là một trường học mở cửa suốt ngày đêm. Chương trình đào tạo trực tuyến của các trường Đại học danh tiếng trong nước và trên thế giới có các khóa học với nội dung và phương pháp giảng dạy hiện đại luôn sẵn sàng chào đón bạn ở bất cứ nơi nào, thời điểm nào. Đào tạo từ xa trên Internet là hình thức giáo dục ít tốn kém nhất mà không kém phần hiệu quả bởi nó phát huy cao độ tính chủ dộng, tự giác của người học.

Hiện nay, Internet cũng góp phần nâng cao chất lượng quản lí, điều hành Nhà nước của Chính phủ. Các cuộc họp giao ban của Chính phủ từ Thủ đô Hà Nội đến các tỉnh trong toàn quốc bằng cách trực tuyến qua mạng Internet đỡ tốn thời gian, tiền bạc, sức lực của nhiều người. Quốc hội trả lời trực tiếp những vấn đề bức xúc của người dân qua mạng Internet. Việc đề đạt yêu cầu của các doanh nghiệp đối với cơ quan chủ quản Nhà nước đều dùng Internet giúp sức.

4. Nghị luận xã hội về tác động của Internet mẫu 3

Internet là nơi hội tụ các nguồn thông tin trở thành thế giới thu nhỏ được mọi người đặc biệt quan tâm, nhất là các bạn học sinh, thanh niên. Trên Internet có rất nhiều thể loại giải trí khác nhau làm cho nhiều bạn trẻ lạm dụng dẫn đến tình trạng nghiện ngập và trở thành vấn đề nóng mà mọi người vô cùng bức xúc.

Nghiện Internet là lạm dụng quá mức, sử dụng vô tổ chức ở mọi lúc mọi nơi, không làm chủ bản thân, bỏ cả ăn uống, nghỉ ngơi, học hành mà sa đọa trong thế giới hư ảo.

Có rất nhiêu nguyên nhân dẫn đến nghiện Internet nhưng chủ yếu là do bản thân các bạn trẻ chưa nhận thức được mặt trái của Internet, còn ham chơi, tò mò, hiếu động, muốn chứng tỏ bản thân với người xung quanh. Các bậc phụ huynh chưa quản lí chặt chẽ con em mình, còn thiếu sót trong vấn đề giáo dục con cái. Nhà nước và chính quyền địa phương không quản lí các tiệm Net, để mặc các chủ tiệm mở cửa sát bên trường học và mọc lên ngày càng nhiều.

Trong xã hội đang phát triển và hội nhập, chúng ta không thể phủ nhận tiện ích mà Internet mang lại,Internet trở thành từ điển sống của tất cả mọi người. Nhờ Internet, con người có thể tra cứu tài liệu, cập nhật thông tin hàng ngày, hàng giờ mà không mất thời gian, công sức; là công cụ làm việc đối với một số ngành công nghệ thông tin; cung cấp các thể loại giải trí như phim, âm nhạc, trò chơi,… Nhưng bên cạnh đó có không ít tác hại do việc quá lạm dụng của các bạn học sinh, thanh niên. Ngoài những thông tin hữu ích, Internet còn chứa rất nhiều những thông tin mang tính chất đồi trụy; các trò chơi giải trí bạo lực khiến nhiều bạn trẻ nghiện bỏ rơi cuộc sống thực tại. Từ đó tệ nạn xã hội cũng xảy ra nhiều hơn như giết người, trộm cắp để thỏa cơn nghiện…Rất nhiều bạn mắc bệnh hoang tưởng từ những trò chơi khiến gia đình vô cùng lo lắng, xã hội vô cùng bức xúc. Có thể nói Internet cũng là nguyên nhân dẫn đến suy thoái đạo đức con người.

Bởi vậy, mỗi chúng ta hãy biết tự trang bị kiến thức về Internet cho bản thân để tránh tình trạng nghiện ngập. Các bậc phụ huynh, nhà nước, chính quyền, đặc biệt là trường học phải quan tâm, quản lí, giáo dục các bạn trẻ tránh xa những tư tưởng không lành mạnh, giúp đỡ người nghiện ngập quay về thế giới thực, không để họ mãi chìm đắm trong cái thế giới hư vô có thể giết người này.

Trong mỗi chúng ta, ai cũng xứng đáng được hưởng những điều tốt đẹp của cuộc sống, ai cũng có quyền thả mình vào Internet nhưng đừng lạm dụng nó, phải biết chắt lọc, biết dừng lại đúng lúc trước khi biến thành con nghiện. “Hãy để chúng ta làm chủ Internet và đừng bao giờ để Internet điều khiển chúng ta”

5. Nghị luận xã hội về tác động của Internet mẫu 4

Xã hội ngày càng phát triển, khoa học công nghệ cũng sẽ có những bước chuyển mới để có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng của con người hiện nay. Và quả thực internet hiện nay là một điều rất cần thiết cũng như rất gần gũi với con người. Đặc biệt internet trong giói trẻ ngày càng quan trọng hơn. Nhưng mọi chuyện sẽ đều có hai mặt cả, và internet có những tác động như thế nào đến với giới trẻ hiện nay vẫn đang có nhiều ý kiến khác nhau.

Không thể phủ nhận được tầm quan trọng cũng như ảnh hưởng rất lớn của internet với các bạn trẻ hiện nay, trong thời kỳ hội nhập và phát triển này.

Ta có thể thấy được trong giới trẻ năng động sẽ biết tận dụng tin học, tận dụng Công nghệ thông tin để kinh doanh. Và vẫn còn đó những cuộc trao đổi buôn bán không chỉ diễn ra trong cuộc sống thực mà còn trong thế giới ảo. Ta như thấy được các chợ “ảo” mua bán nhanh gọn, hơn nữa thì hàng hoá phong phú với những người đi chợ còn rất trẻ, dường như cũng thật am hiểu thị trường và muốn tiết kiệm thời gian. Internet hiện nay như còn ngày càng phổ biến, người ta càng nói nhiều đến thương mại điện tử. Và duy chỉ có những người trẻ mới có thể đi đầu trong lĩnh vực này mà thôi.

Dễ nhận thấy được nền kinh tế thị trường, công nghệ thông tin viễn thông đã xâm nhập vào nền kinh tế nước ta, internet đã có những tác động vào đời sống xã hội của nước ta, nó chi phối hoạt động của con người. Tin học dường như cũng đã làm cho chúng ta trở nên năng động hơn, và đồng thời cũng đã nhanh nhẹn hơn, tích cực hơn. Giúp cho chính chúng ta phát huy được khả năng sáng tạo và thể hiện được bản lĩnh của mình. Thực tế cho thấy được rằng đã từng có rất nhiều các cuộc thi tin học, phần mềm được tổ chức trong và ngoài nước, và có thể thấy được rằng chính điều đặc biệt là các cuộc thi sáng tạo nổi tiếng như rôbôt trong cuộc thi Robocon hay cuộc thi Trí tuệ Việt Nam… dường như cũng đã thu hút rất nhiều gương mặt trẻ tham gia và dành giải cao. Hiện nay thì tuổi trẻ chúng ta cũng không còn lạ gì với máy vi tính và mạng Internet. Internet dường như cũng đã ra đời đã thu ngắn khoảng cách giữa con người với con người, đưa chúng ta xích lại gần nhau hơn. Và dường như cũng không biết từ khi nào, xã hội đã gắn cho tuổi trẻ thời đại công nghệ thông tin là thế hệ @. Chúng ta tự hào về điều đó phải không nào?

Như đã nói thì mọi vấn đề đều có hai mặt, ngoài mặt tốt ra thì internet cũng mang đến những tác động xấu đến với thế hệ trẻ. Ta như thấy được ở một số người Việt Nam đã dùng Internet để truyền tải những thông tin kém văn hoá, phạm pháp. Và đó cũng chính là những web chứa hình ảnh hay những nội dung không lành mạnh.

Bên cạnh đó, ta có thể nhắc đến đó chính là tác hại không nhỏ của các dịch vụ game online. Chúng ta không khỏi bức xúc khi nhìn thấy các em nhỏ tuổi mà đã có thể ham mê trò chơi điện tử, nhanh chóng quên đi được công việc chính của mình đó chính là học tập.

Dường như điều đáng buồn nhất là khi, tiếng Việt – ngôn ngữ quốc gia mang bao niềm tự hào lại bị giới trẻ, đặc biệt là thế hệ 9X làm cho sai lệch rồi tuyên truyền một cách rộng rãi. Ta như thấy được chính cái thứ ngôn ngữ mà các em hay dùng được gọi là “ngôn ngữ mạng” không hề trong sáng. Ta như thấy được các em cứ như đua nhau bắt viết chữ giản lược đi một cách tối thiểu. Đó còn là những ký tự riêng của giới trẻ. Mà tất cả những câu từ này dường như đã làm giảm mất đi sự trong sáng của ngôn ngữ tiếng Việt.

Hay ví như chính việc sử dụng biểu tượng thay lời nói cũng vậy. Chúng ta có thể thấy được những biểu tượng trong thế giới @ như một sự biểu hiện của ngôn ngữ, nó dường như cũng càng tăng thêm sự lựa chọn cho mọi người để diễn ta cảm xúc, suy nghĩ của mình. Và với cùng một biểu tượng, chúng ta cũng có thể có nhiều cách hiểu khác nhau tuỳ mỗi người và cũng dựa vào tuỳ từng trường hợp. Thế nhưng, trong chúng ta đã có ai nghĩ đến tương lai khi những cuộc nói chuyện không còn lời nói mà chỉ có những biểu tượng những mặt cười, mặt khóc,… Dường như ta thấy được vì internet đã làm cho ngôn ngữ không chỉ không trong sáng mà bản thân của chính chúng ta cũng không được tươi cười nói được những câu chuyện như trước đây.

Có lẽ rằng mỗi chúng ta không thể phủ nhận công nghệ thông tin đã làm thay đổi tầm phát triển của một đất nước. Và cũng chính thế hệ thanh niên, không ít người Việt trẻ dường như cũng đã biết tận dụng Công nghệ thông tin để làm giàu cho quê hương mình cả về trí tuệ, tri thức và vật chất. Song, không thể phủ nhận được rằng bên cạnh đó vẫn còn có những thực tại thật đáng buồn, đó chính là một bộ phận thanh niên – thế hệ @ ngày càng xuống cấp, giới trẻ hiện nay dường như cũng đã sống vội, sống gấp, sống hời hợt. Nếu như là một thanh niên của thế hệ mới, hãy biết tận dụng công nghệ thông tin để vun đắp cho cuộc sống của mình, cũng như hãy biết xây dựng xã hội và đất nước giàu đẹp hơn.

6. Nghị luận xã hội về tác động của Internet mẫu 5

Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hoá, “một thế giới phẳng”, kỉ nguyên của kĩ thuật số, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, con người nỗ lực không mệt mỏi để phát minh ra những sáng chế, những công cụ phục vụ, đáp ứng nhu cầu vô tận của nhân loại. Trong đó, Internet nói chung và các mạng xã hội nói riêng là những công cụ vô cùng tiện ích.

Facebook (viết tắt là FB), một mạng xã hội tuy ra đời muộn hơn một số bậc tiền bối như: Myspace, Yahoo!Blog,…nhưng nó đã nhanh chóng trở thành một mạng xã hội khổng lồ, số một thế giới, thu hút hàng tỉ người tham gia, lấn át các đối thủ. Chỉ thế thôi đã có thể thấy ma lực của nó, sự tiện ích cũng như ảnh hưởng của nó tới xã hội. Trải qua gần một thập kỉ phát triển (từ năm 2004 đến nay), nó cũng bộc lộ không ít mặt trái, mặt tiêu cực.

Đối tượng tham gia FB được quy định từ 13 tuổi trở lên, song thực tế nó có sức hút mãnh liệt với bất cứ ai, đông nhất vẫn là tuổi trẻ, học sinh, sinh viên. Tuy nhiên đây lại là một vấn đề còn thả nổi, chưa được kiểm soát chặt chẽ, chưa được đưa vào giáo dục trong nhà trường, chưa được định hướng một cách tích cực và người tham gia có lẽ cũng chưa mấy ý thức nghiêm túc về nó.

Vậy FB là gì? Lợi ích của nó ra sao? Như chúng ta đã biết, FB là mạng xã hội ảo, được ra đời từ năm 2004 từ Mĩ, hiện nay, giám đốc điều hành trang mạng xã hội này là Mark Zuckerberg – người sáng lập ra nó từ khi anh còn là sinh viên trường đại học Harvard. Ta có thể tìm thấy gần như mọi lĩnh vực của đời sống trong FB. Ngoài vai trò là một trang mạng mang tính giải trí hấp dẫn, nơi giao lưu, chia sẻ của bạn bè, người thân, FB còn là một công cụ hữu hiệu trong việc truyền tải những thông điệp, thông tin đến hàng triệu người trên khắp hành tinh.

Sự kết nối của FB ban đầu từ nhóm những người bạn, hoặc cùng trường lớp, cơ quan, sở thích,…và từ đó có thể mở rộng không cùng. FB như một đế chế không biên giới, ở đó các thành viên hoàn toàn bình đẳng, tự do. Trong thế giới toàn cầu hóa này, FB quả vô cùng tiện ích. Qua FB có thể hiểu được cuộc sống, tâm tư, tình cảm của người thân nơi xa xôi, có thể an ủi, động viên, “gỡ rối” những tình huống khó mà họ gặp phải.

Nó có thể cứu những phận đời, giúp đỡ, an ủi người bất hạnh. Nó có thể giúp người ta cách thức làm ăn. Nó có thể trở thành những lớp học online thú vị, là nơi trao đổi bài vở, kiến thức,… Và còn vô vàn tiện ích khác nữa nảy sinh và đáp ứng những nhu cầu đa dạng và sự thông minh của con người trên khắp hành tinh. Từ khi xuất hiện máy tính bảng như ipad,… hỗ trợ những ứng dụng vào FB ở mọi nơi, thì dù ở đâu, đang làm gì, người sử dụng cũng có thể vào FB. Laptop, điện thoại là những công cụ dễ dàng để vào FB.

Chính vì nhiều lẽ đó mà FB có sức hút mãnh liệt với mọi người, nhất là giới trẻ, khi mà nhu cầu giao tiếp, giao lưu, chia sẻ, khám phá, hiểu biết, trải nghiệm,… ở họ vô cùng lớn. Tuy nhiên, FB cũng đã bộc lộ không ít mặt trái của nó. Với một tốc độ truyền tải như vũ bão, Interner nói chung, FB nói riêng hàm chứa nhiều thông tin không được kiểm chứng, sai sự thật, thậm chí độc hại. Vì thế, nó cực kì nguy hiểm, có thể gây ảnh hưởng xấu đến chính trị, kinh tế, đạo đức,… và nhiều mặt của đời sống, có thể gây nguy hại cho quốc gia, tập thể hay các cá nhân.

Do được sáng tạo trong một môi trường ảo, thậm chí nặc danh nên nhiều “ngôn ngữ mạng” trở nên vô trách nhiệm, vô lương tâm và vô văn hoá. Có những kẻ đã lợi dụng FB để bôi xấu chế độ, lãnh tụ, bôi nhọ, xúc phạm người khác. Có những kẻ đưa lên đó những nội dung không lành mạnh, không phù hợp với đạo đức, thuần phong mĩ tục của người Việt. Có những đứa con bất hiếu biến FB thành nơi trút giận cả với cha mẹ, nhục mạ cả đấng sinh thành.

Có kẻ đưa lên mạng những bức ảnh vô cùng phản cảm như những nữ sinh ăn mặc lố lăng ngồi tạo dáng trên mộ liệt sĩ, ngồi lên mộ tổ,… Vừa qua có nữ sinh lớp 8 ở Quảng Nam đăng tải trên FB bài viết “Tuyên ngôn học sinh trường THCS Lí Tự Trọng” kêu gọi bạn bè phải bằng mọi cách, kể cả những biện pháp tiêu cực để có thể “qua” đợt kiểm tra học kì I.

Tệ hại hơn, bài viết còn có những nội dung xúc phạm nghiêm trọng đến nhà trường, thầy cô giáo, tất nhiên học sinh đó đã bị kỉ luật. Không ít kẻ tung lên FB tất cả những ngôn ngữ tục tĩu, bẩn thỉu nhằm nói xấu, đả kích, lăng mạ người khác. Chưa kể đến những hiện tượng xuyên tạc tiếng Việt, viết tắt, kí hiệu đến kì quặc, tùy tiện đưa vào văn bản những chữ z, f, w vốn không có trong hệ thống chữ cái tiếng Việt, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.

Nhiều kẻ đã lợi dụng FB để moi tiền những người tốt bụng, cả tin khi nhân danh kẻ đáng thương hay hội, đoàn hoạt động từ thiện,… FB có thể làm tan nát một cơ đồ, phá hủy cả cơ nghiệp. Không ít người trở thành nạn nhân của trộm cắp vì chia sẻ nhiều, lộ ra những bí mật cá nhân, thời gian vắng nhà,… FB cũng là kẻ phá hoại khi làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, chồng li dị vợ vì vợ nghiện FB mà không quan tâm đến gia đình.

FB là nơi số lượng like có thể sản xuất được và đầy rẫy cạm bẫy, lừa lọc. Tuổi trẻ ngây thơ, trong sáng, ham hiểu biết, muốn khẳng định nhưng chưa đủ kinh nghiệm, tri thức để phân biệt đúng, sai, có khi chỉ hùa theo “tâm lí đám đông”. FB kết nối trên thế giới ảo nhưng lại làm xói mòn và ảnh hưởng đến cách con người giao tiếp, thể hiện tình cảm.

Nhiều bạn trẻ mải nói chuyện với người trên mạng mà quên giao tiếp với người thân, chỉ đắm chìm trong thế giới ảo mà thờ ơ, dửng dưng với mọi người, không muốn và không biết cách giao tiếp, chia sẻ với mọi người xung quanh, thậm chí mất niềm tin nơi cuộc đời thực, có khi dẫn đến mặc cảm trong cô đơn, trầm cảm, thu mình lại. Nhiều ông bà, cha mẹ thấy cô đơn khi con cháu họ chỉ “ôm” điện thoại, laptop.

Đặc biệt, với nhiều hấp dẫn và tiện ích như vậy, FB dễ gây nghiện với giới trẻ. Các nhà tâm lí học đã giới thiệu một căn bệnh mới mang tên FAD (Facebook Addiction Disorder) – chứng nghiện FB, thường xảy ra với người trẻ tuổi, dưới 25. Nó là một loại nghiện hành vi, còn dễ gây nghiện hơn cả rượu, thuốc lá,… Một bộ phận trong giới trẻ hiện nay đang rơi vào tình trạng lạm dụng FB quá đà.

Họ bỏ cả nửa thời gian mỗi ngày để tán gẫu, trò chuyện, cứ vài phút lại lướt FB một cách vô thức. Không vào được FB họ thấy bứt rứt, khó chịu, không yên. Họ quên ăn, mất ngủ vì nó. Họ mua điện thoại, laptop cũng chỉ vì muốn được FB ở khắp mọi nơi. Có những con nghiện, đến mức ăn gì, uống gì, nghĩ gì, làm gì cũng đưa lên đó, thậm chí, mua cái áo mới cũng chụp hình lên để mọi người cùng “chém gió”, đang ăn cũng phải viết mấy status để cập nhật, vừa tắm xong cũng vào đó viết “Mát quá!”, đang chạy thoát hiểm cũng vào FB.

Họ đã tiêu phí thời gian, sức khỏe của mình vào FB để rồi sao lãng học hành, công việc. Nhiều bạn trẻ mê FB mà quên đọc sách, bỏ bê bài vở, kết quả học tập sa sút, “phây” đến phờ phạc thì còn đâu sức lực để học tập, làm việc. Nhiều thống kê cho thấy, những học sinh, sinh viên lạm dụng FB thì kết quả học tập kém hơn nhiều những người không dùng FB.

FB tưởng mang lại ánh sáng của tri thức thì lại đẩy người ta vào tăm tối của ngu dốt. Những người nghiện FB có biết rằng họ đã bị tha hóa, bị đánh giá thấp trong mắt người khác, ngay cả bạn bè trong nhóm của họ cũng thấy khó chịu vì những nội dung ngớ ngẩn, nhàm chán, vô nghĩa lí mà họ đưa lên đó. Nghiện thì dễ mà cai lại khó. Cũng như nghiện Net, nghiện game, nghiện chát,…những con nghiện FB cũng thừa nhận là khó cai, cai mãi không thành, đến mức có cả “Hội những người cai FB nhưng không thành” lên tới cả gần 1600 thành viên.

Vì những mặt trái của nó, FB từng bị cấm ở một số quốc gia, một số công sở, trường học. Nhiều phụ huynh chưa khỏi lo lắng vì nạn nghiện game, nghiện chat,… thì giờ lại lo lắng vì nạn nghiện FB. Trò chơi lên “phây” khiến thầycô lo lắng, cha mẹ phiền lòng. FB đúng là con dao hai lưỡi. Vậy làm thế nào để sử dụng FB một cách hiệu quả và ngăn chặn những tác hại của nó?

Không thể phủ nhận mặt tốt của FB. Vì vậy không nên và không thể cấm dùng nó. FB không có lỗi. Lỗi chăng là ở người dùng. Những người sáng lập ra trang mạng xã hội này hẳn phải nghiên cứu để phát huy hiệu quả, ngăn chặn, khắc phục mặt hạn chế của nó. Các quốc gia và các cơ quan hữu trách phải nghiên cứu để kiểm soát, quản lí nó một cách chặt chẽ hơn. Phải tăng cường giáo dục và tự giáo dục về “văn hóa trên mạng”.

Nhà trường, gia đình và xã hội phải quản lí, giáo dục, định hướng cho con em mình chặt chẽ, hiệu quả hơn. Vừa qua, trường THPT Dân lập Lương Thế Vinh đưa lên Website của trường những điều cấm kị khi lên FB đối với học sinh trường này được nhiều người hoan nghênh. Tuy nhiên, việc kiểm soát và xử lí người vi phạm không dễ. Vì vậy, điều quan trọng là định hướng, giáo dục các em và các em tự giáo dục mình.

Tuổi trẻ cần nhận thức rõ mặt lợi, hại của FB để không là tín đồ ngu muội của FB mà là người sử dụng một cách thông minh, hiệu quả. Các bạn cần hướng tới cái cái tích cực, trong sáng, lành mạnh, cái đẹp, cái có ích, đừng lên FB quá nhiều, chỉ dùng một cách có mức độ khi cần thiết, không kết bạn dễ dãi, không đưa lên FB những nội dung xấu, hay những điều vụn vặt, vô nghĩa lí. Chúng ta phải thận trọng với những nội dung mình đưa lên, tuyệt đối không xúc phạm người khác, làm ảnh hưởng xấu đến người khác, không để lộ mình quá nhiều, đừng coi nó như nhật kí mà cái gì cũng đưa vào đó.

Các bạn hãy biết lên tiếng khi cần thiết và hãy học cách im lặng, hãy sống tích cực với cuộc đời thực, mở lòng với cuộc sống xung quanh. Nhà trường và xã hội cần tạo ra những sân chơi hấp dẫn thu hút giới trẻ vào đó để họ không chỉ biết “ôm” FB. Cuộc sống thực vô cùng rộng lớn và hấp dẫn với bao điều bí ẩn, diệu kì sao ta lại chỉ đắm chìm trong thế giới ảo?

Giờ đây đã có nhiều ứng dụng mới, phần mềm mới, những trang mạng mới để kết nối như: Google Plus, Zing Me,… Trong xã hội hiện đại luôn đổi mới như ngày nay, hẳn sẽ còn nhiều cái mới nữa ra đời như FB và hơn thế nữa. Tuổi trẻ chúng ta nhạy bén tiếp thu những cái đó nhưng hãy là người thông minh để dùng những cái đó một cách hiệu quả chứ không là nạn nhân của nó.

Bây giờ đã là mùa thi, “mùa cai FB” như nhiều bạn trẻ nói, đủ thấy ma lực và ảnh hưởng ghê gớm của nó. Hãy tập trung cao độ vào học tập, hãy cháy lên để mà tỏa sáng. Và hãy nhớ, đừng mê FB mà quên đọc sách, đừng mải nói chuyện với người trên mạng mà quên giao tiếp với người thân, đừng “phây” đến phờ phạc, phí phạm đời mình vào những điều vô nghĩa.

7. Nghị luận xã hội về tác động của Internet mẫu 6

Hiện nay, mạng xã hội ngày càng phát triển, hàng loạt các trang mạng với hàng trăm triệu người dùng như Facebook, wechat, weibo, Instagram,… đã cho thấy sự thu hút cực kì mạnh của loại công cụ này. Đặc biệt, với giới trẻ, những thế hệ nắm bắt tốt xu hướng, tinh nhạy trước những đổi mới của internet thì việc ham mê và sử dụng mạng xã hội là một điều tất yếu. Đa số các bạn trẻ hiện nay, hầu hết đều có cho mình một tài khoản Facebook, weibo, zalo,… chúng ta có thể được tự do bày tỏ những cảm xúc, suy nghĩ của mình, được thể hiện bản thân mình.

Mạng xã hội giúp chúng ta cập nhật được những tin tức hàng ngày, lưu giữ những kỉ niệm đẹp mà được ghi lại bằng những bức ảnh hay video thú vị. Nó cũng là nơi giao lưu kết bạn, trò chuyện học hỏi vô cùng hiệu quả, kết nối những con người chưa từng quen biết nhưng vì cùng chung sở thích, cùng nhau một đam mê nào đó mà rút khoảng cách, mang con người lại gần nhau hơn. Facebook được nhiều bạn trẻ sử dụng để tìm kiếm thông tin học tập với những bài chia sẻ hay, bổ ích, những trích dẫn, kinh nghiệm học tập vô cùng lý thú. Nhiều bạn còn tận dụng tài khoản của mình để tập tành kinh doanh, vừa mang lại nguồn thu nhập khá khá vừa học hỏi được nhiều kinh nghiệm kinh doanh qua mạng. Mạng xã hội với tốc độ truyền tin nhanh chóng, giúp ta nắm bắt được những thông tin nóng đang diễn ra mỗi ngày, giúp ta biết nhiều hơn những hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ để chia sẻ và đồng cảm với họ thông qua các hoạt động từ thiện qua mạng.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, ta cũng không thể phủ nhận rằng giới trẻ hiện nay đang nghiện mạng xã hội trầm trọng. Mạng xã hội trở thành một chất gây nghiện lớn mà người tiêu thụ nó lớn nhất phải kể đến nó là những học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường. Nhiều người xem đó là nguồn sống, dành quá nhiều thời gian vào các trang mạng chỉ để lướt dạo như một thói quen. Đến giảng đường không học bài, hoặc ngủ hoặc chơi facebook, hoặc chụp ảnh đăng. Đi ăn, đi làm, ngủ, nghỉ thậm chí là đi vệ sinh cũng mang theo chiếc điện thoại của mình mà không biết chán. Mạng xã hội đang từng ngày ăn sâu và làm xói mòn đi sức khoẻ, tiền bạc, tình cảm của con người mà ta vô tình không để ý tới. Nhiều người trẻ còn coi đó là nơi để trút những bực tức, giận hờn, ghen tuông, xỉa xói, chửi rủa nhau thậm tệ. Đáng nói hơn, một số còn lan truyền những thông tin không lành mạnh, những tin rác chưa được kiểm chứng gây bức xúc trong dư luận, đồng thời hạ uy tín và danh dự của người khác. Vì thế mà nhiều khi chỉ một vài lời nói thiếu thiện ý, hoặc gây hiểu nhầm nhau trên mạng xã hội mà gây nên những hậu quả nghiêm trọng như đánh nhau. Nhiều học sinh chỉ lao vào thế giới ảo mà trở nên trầm cảm, tự ti, không tham gia giao tiếp với mọi người, mất dần khả năng hợp tác, hoà nhập với đời sống thực tại.

Trong cuộc sống ngày nay, công nghệ ngày càng phát triển, các bạn trẻ nên nhìn nhận đúng về vai trò của nó trong cuộc sống mỗi người. Tức là phải hiểu rằng nó là công cụ phục vụ cho cuộc sống chúng ta, đừng biến nó thành kẻ điều khiển vô hình và để nó chi phối đời sống của mình. Thay vì lên các trang mạng quá nhiều, các bạn hãy dành thời gian cho gia đình, gặp gỡ bạn bè, đọc sách giao lưu hay làm nhiều việc khác. Hãy dành những lúc rảnh rỗi cho các hoạt động xã hội, từ thiện hay tình nguyện hơn là việc nằm nhà đắm mình vào một thế giới ảo không có thực.

Mỗi chúng ta, hãy tự nhìn nhận lại mình, xem thời gian qua mình đã làm được những gì, đã sử dụng mạng xã hội như thế nào? Có quá phung phí nhiều thời gian cho chúng hay không? Hãy đặt chiếc điện thoại xuống, bước ra thế giới thực tại với vô vàn điều lý thú, hấp dẫn đang chờ đón bạn. Ngưng sống ảo đi!

Cập nhật thông tin chi tiết về Nghị Luận Xã Hội Về Lối Sống Giản Dị trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!