Xu Hướng 1/2023 # Một Số Vấn Đề Về Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Hoạt Động Công Vụ # Top 2 View | Nhatngukohi.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Một Số Vấn Đề Về Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Hoạt Động Công Vụ # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Vấn Đề Về Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Hoạt Động Công Vụ được cập nhật mới nhất trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Quan niệm kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ Từ trước tới nay, việc định nghĩa thuật ngữ xung đột lợi ích đã được nhiều nghiên cứu đưa ra, tuy nhiên chưa có một định nghĩa nào mang tính chất toàn cầu về vấn đề này. Trong một nghiên cứu vào năm 2005, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra định nghĩa xung đột lợi ích như sau: “Một xung đột lợi ích bao gồm xung đột giữa công vụ và lợi ích cá nhân của công chức, trong đó lợi ích từ năng lực cá nhân của công chức có thể ảnh hưởng không đúng đến việc thực hiện những nhiệm vụ và trách nhiệm chính thức của họ”[1]. Định nghĩa này đã xác định rõ sự vật xung đột là lợi ích cá nhân của công chức và trách nhiệm chính thức của họ.

Từ nhận thức về bản chất của xung đột lợi ích, có thể quan niệm “xung đột lợi ích là tình huống trong đó lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức có thể ảnh hưởng không đúng đắn đến việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức đó”. Lợi ích cá nhân bao gồm mọi lợi ích vật chất và phi vật chất của cán bộ, công chức. Chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức là tất cả những việc công chức phải làm trong phạm vi chức vụ, quyền hạn của mình, bao gồm việc ra quyết định hoặc những hành vi khác. “Ảnh hưởng không đúng đắn” được hiểu là những ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực tới việc thực hiện chức trách nhiệm vụ, làm cho việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ không còn bảo đảm tính khách quan, vô tư.

Xung đột lợi ích và tham nhũng có một số điểm tương đồng và khác biệt. Về chủ thể, xung đột lợi ích và tham nhũng có cùng chủ thể là cán bộ, công chức. Về trạng thái, xung đột lợi ích là tình huống, tham nhũng là hành vi. Về tính chất, xung đột lợi ích mang tính khách quan, tham nhũng là hành vi chủ quan của cán bộ, công chức. Trong tình huống xung đột lợi ích, hành vi của cán bộ, công chức bị coi là tham nhũng khi lựa chọn lợi ích cá nhân. Như vậy, có thể khẳng định, xung đột lợi ích, nếu không được nhận diện và kiểm soát đúng đắn, chính là tiền đề, là điều kiện thuận lợi làm nảy sinh tham nhũng.

Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiểm soát là xem xét để phát hiện sai sót, giữ cho mọi việc diễn ra đúng đắn”[2]. Theo nghĩa từ ngữ, có thể suy ra kiểm soát xung đột lợi ích là việc xem xét để phát hiện xung đột lợi ích, giữ cho xung đột lợi ích không bị lợi dụng để thực hiện hành vi sai trái. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể là kiểm soát xung đột lợi ích, nội hàm khái niệm kiểm soát cần được mở rộng. Theo đó, kiểm soát xung đột lợi ích không chỉ gồm việc phát hiện và xử lý xung đột lợi ích mà còn bao hàm cả việc phòng ngừa xung đột lợi ích. Phòng ngừa xung đột lợi ích có ý nghĩa rất quan trọng. Thực tế ở nhiều nước cho thấy kiểm soát xung đột lợi ích hiệu quả đòi hỏi phải tập trung vào việc xác định khả năng lợi ích cá nhân có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công để phòng ngừa hơn là việc phát hiện hành vi sai phạm. Từ nhận định trên, có thể quan niệm “kiểm soát xung đột lợi ích là việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý xung đột lợi ích”.

2. Nội dung và phương thức kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

Từ quan niệm kiểm soát xung đột lợi ích, có thể xác định kiểm soát xung đột lợi ích gồm ba nội dung chủ yếu: (i) phòng ngừa xung đột lợi ích, (ii) phát hiện xung đột lợi ích, (iii) xử lý xung đột lợi ích. Mỗi nội dung kiểm soát sẽ được thực hiện theo những phương thức nhất định.Việc phân biệt các phương thức khác nhau trong mỗi nội dung kiểm soát chủ yếu dựa trên yếu tố chủ thể. Xem xét một cách tổng thể, có thể thấy có 3 nhóm chủ thể tham gia vào việc kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ. Thứ nhất là bản thân cán bộ, công chức, chủ thể này sẽ tham gia vào cả quá trình kiểm soát, bao gồm từ việc phòng ngừa đến việc phát hiện và xử lý. Thứ hai là cơ quan nhà nước, chủ thể này cũng tham gia vào toàn bộ quá trình kiểm soát. Thứ ba là xã hội (bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức), chủ thể này chỉ tham gia vào việc phát hiện xung đột lợi ích. Mỗi chủ thể sẽ sử dụng những phương thức khác nhau khi tham gia vào từng nội dung kiểm soát.

2.1. Phòng ngừa xung đột lợi ích

Phương thức cơ quan nhà nước phòng ngừa xung đột lợi ích được thực hiện trên cơ sở nhà nước ban hành các quy định nhằm bảo đảm tính khách quan, vô tư của việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, bảo đảm việc sử dụng quyền lực công được kiểm soát từ nhiều phía. Phạm vi những quy định này là rất rộng, từ những quy định mang tính nguyên tắc cho đến những quy định cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Việc thực hiện quyền lực càng khép kín bao nhiêu thì nguy cơ xảy ra xung đột lợi ích, nguy cơ dẫn đến tham nhũng càng lớn bấy nhiêu. Vì vậy, điểm mấu chốt để phòng ngừa xung đột lợi ích chính là sự kiểm soát việc thực hiện quyền lực. Quyền lực càng bị kiểm soát chặt chẽ từ nhiều phía thì khả năng xảy ra xung đột lợi ích càng giảm.

2.2. Phát hiện xung đột lợi ích

Có thể hiểu phát hiện xung đột lợi ích là việc tìm ra những tình huống xung đột lợi ích tiềm ẩn hoặc thực tế. Xung đột lợi ích ở đây không còn ở dạng nguy cơ nữa mà nó đã trở nên dễ nhận thấy hơn, tình huống xung đột lợi ích là có thể dự đoán được hoặc có thể thấy rõ. Ví dụ, Công chức A làm việc cho cơ quan B, sở hữu cổ phần trong công ty xây dựng C, công ty này có thể sẽ tham gia đấu thầu hợp đồng xây dựng trụ sở làm việc của cơ quan B. Ở đây đã xuất hiện xung đột lợi ích tiềm ẩn, có thể dự đoán được về nguy cơ xung đột nếu công ty C tham gia đấu thầu và công chức A tham gia chấm thầu. Khi thực tế diễn ra đúng như dự đoán, công ty C tham gia đấu thầu và công chức A được cử tham gia hội đồng chấm thầu. Tình huống này đã trở thành xung đột lợi ích hiện hữu. Ai cũng có thể nhận thấy rõ khả năng công chức A sẽ bị ảnh hưởng khi đưa ra quyết định của mình.

Việc phát hiện xung đột lợi ích có thể được thực hiện theo ba phương thức: (i) cán bộ, công chức chủ động phát hiện; (ii) cơ quan nhà nước phát hiện và (iii) xã hội tham gia phát hiện.

Ở phương thức thứ nhất, với giả thiết cán bộ, công chức hiểu đúng về xung đột lợi ích thì có lẽ chính họ là nhóm chủ thể biết rõ nhất về tình trạng xung đột lợi ích của bản thân. Chính họ là người biết rõ nhất mình thực hiện nhiệm vụ được giao có bảo đảm tính khách quan, vô tư hay không. Tuy nhiên, để thực hiện phương thức này, cán bộ, công chức rất cần đến sự hỗ trợ từ phía cơ quan nhà nước thông qua những quy định cụ thể về xác định như thế nào là một tình huống xung đột lợi ích, các bước cần thực hiện khi cán bộ, công chức nghi ngờ về tình huống xung đột lợi ích của bản thân. Cơ quan nhà nước cũng cần thiết lập bộ phận chuyên trách làm nhiệm vụ tư vấn giúp cán bộ, công chức xác định và xử lý tình huống xung đột lợi ích.

Ở phương thức thứ hai, cơ quan nhà nước, thông qua hoạt động quản lý của mình, sẽ chủ động nắm bắt thông tin để xác định các tình huống xung đột lợi ích của cán bộ, công chức. Nhiệm vụ này thường được giao cho cơ quan chuyên trách về tổ chức cán bộ. Việc phát hiện xung đột lợi ích của cán bộ, công chức được cơ quan nhà nước thực hiện tại nhiều thời điểm, trong đó đáng lưu ý là tại thời điểm tiếp nhận công chức, tại thời điểm giao nhiệm vụ thường xuyên hoặc một nhiệm vụ đột xuất. Vai trò chủ động phát hiện xung đột lợi ích của cơ quan nhà nước còn được thể hiện ở việc cơ quan nhà nước chủ động hướng dẫn cán bộ, công chức tự phát hiện xung đột lợi ích trên cơ sở các quy định về đạo đức công vụ do nhà nước ban hành.

Ở phương thức thứ ba, xã hội được coi là chủ thể độc lập và khách quan nhất, có vai trò quan trọng trong việc phát hiện xung đột lợi ích của cán bộ, công chức. Trong hai phương thức đầu, mặc dù có ưu điểm là chủ thể thực hiện có nhiều điều kiện thuận lợi về thông tin, về nguồn lực song lại có nhược điểm rất lớn là cán bộ, công chức thì thường không tự giác, cơ quan nhà nước có thể không khách quan. “Xã hội” được hiểu là mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức mà không phải là bản thân cán bộ, công chức và những cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm soát xung đột lợi ích. Với phạm vi chủ thể rộng như vậy, xã hội có khả năng nắm bắt nhiều thông tin phong phú, đa dạng và tương đối chính xác về tình huống xung đột lợi ích của cán bộ, công chức. Đây chính là những căn cứ quan trọng để phát hiện tình huống xung đột lợi ích của cán bộ, công chức.

Công cụ chủ yếu để phát hiện xung đột lợi ích chính là quy định về công khai, minh bạch những lợi ích cá nhân có nguy cơ xung đột với chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức, công khai việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và những quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức. Ở các quốc gia trên thế giới, việc công khai, minh bạch những lợi ích cá nhân có nguy cơ xung đột với việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thường được thực hiện thông qua công khai, minh bạch tài sản, thu nhập. Nội dung công khai, minh bạch tài sản thu nhập thường bao gồm cả công việc làm thêm và các loại quà tặng. Công khai tài sản, thu nhập giúp cung cấp những thông tin về các nguồn thu nhập, địa vị thành viên hội đồng quản trị doanh nghiệp, quyền sở hữu cổ phần và những lợi ích tài chính khác của cán bộ, công chức. Công khai tài sản, thu nhập tự nó không loại bỏ xung đột lợi ích nhưng có thể giúp phát hiện những xung đột lợi ích ở dạng tiềm tàng hay thực tế.

2.3. Xử lý xung đột lợi ích

Đây là khâu cuối cùng trong chuỗi các hoạt động kiểm soát xung đột lợi ích, theo đó, xử lý xung đột lợi ích có thể hiểu là việc loại bỏ xung đột lợi ích bằng cách loại bỏ một trong các bên lợi ích trong tình huống xung đột hoặc kiểm soát chặt chẽ tình huống xung đột, không để tình huống xung đột làm ảnh hưởng đến tính khách quan của việc thực hiện nhiệm vụ. Xử lý xung đột lợi ích phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên bảo vệ lợi ích công. Xử lý xung đột lợi ích được thực hiện theo hai phương thức: (i) cán bộ, công chức chủ động xử lý khi phát hiện mình đang ở trong tình huống xung đột lợi ích bằng cách từ bỏ lợi ích cá nhân hoặc từ chối thực hiện nhiệm vụ, trường hợp không thể thực hiện được thì báo cáo với cơ quan có thẩm quyền để giám sát chặt chẽ việc thực hiện nhiệm vụ; (ii) cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tình huống xung đột lợi ích bằng cách phân công người khác thực hiện nhiệm vụ, trường hợp không thể thực hiện được thì phải giám sát chặt chẽ việc thực hiện nhiệm vụ đó. Cách thức xử lý xung đột lợi ích đối với cán bộ, công chức thường được đưa vào quy tắc ứng xử.

3. Khái quát quy định của pháp luật hiện hành về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

Khung pháp lý chung về kiểm soát xung đột lợi ích của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong một số luật, nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hiến pháp 2013 có đề cập một phần đến kiểm soát xung đột lợi ích thông qua quy định cấm các thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội đồng thời là thành viên Chính phủ[3]. Những đạo luật chính quy định về xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích nói chung trong hoạt động công vụ có thể kể đến là: Luật Phòng, chống tham nhũng (ban hành 2005, sửa đổi năm 2007 và 2012), Luật Cán bộ, công chức 2008, Luật Viên chức 2010, Luật Đấu thầu 2013, Luật Thanh tra 2010, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Kiểm toán 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Bên cạnh nhưng ưu điểm nói trên, quy định của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích vẫn những một số hạn chế nhất định.

Thứ ba, quy định về minh bạch tài sản tuy khá đầy đủ và bài bản nhưng chưa rõ về những lợi ích cá nhân tài chính là nguy cơ xung đột lợi ích của cán bộ, công chức như công việc làm thêm hay quà tặng. Đồng thời, những thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ công chức chưa được quy định là căn cứ cho việc xem xét, phát hiện xung đột lợi ích của cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ.

Thứ tư, quy định của pháp luật hiện hành chưa đề cập một cách đầy đủ và thích hợp vai trò và trách nhiệm của nhà nước trong việc hướng dẫn cán bộ, công chức chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý tình huống xung đột lợi ích mà chủ yếu dồn trách nhiệm lên cá nhân cán bộ, công chức với những quy định cấm đơn thuần. Điều này tạo ra rất nhiều khó khăn cho cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện. Trường hợp cán bộ, công chức phát hiện xung đột lợi ích của bản thân mà tự mình không thể xử lý được thì cũng không biết báo cáo với ai, nếu đó là những tình huống tế nhị mà cán bộ, công chức muốn giữ kín thông tin thì cũng chưa có cách nào để giải quyết cho phù hợp.

Thứ năm, quy định về kiểm soát quà tặng còn hình thức, thiếu tính khả thi, thiếu quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và xử lý kịp thời báo cáo về quà tặng của cán bộ, công chức, chưa có quy định rõ về chế tài xử lý vi phạm.

Thứ sáu, các quy định về kiểm soát xung đột lợi ích của cán bộ, công chức nói chung, về căn bản, mới chỉ dừng lại ở bản thân cán bộ, công chức đó mà chưa được mở rộng tới các thành viên trong gia đình hoặc những người có mối quan hệ thân thiết khác với cán bộ, công chức. Ví dụ, quy định về hạn chế nhận quà tặng thì không áp dụng đối với các thành viên trong gia đình của công chức. Như vậy, công chức hoàn toàn có thể nhận quà tặng thông qua những người thân của mình mà không hề vi phạm pháp luật.

4. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột trong hoạt động công vụ trong giai đoạn hiện nay.

Thứ nhất, cần có quy định thống nhất cách hiểu về xung đột lợi ích, các dấu hiệu nhận biết tình huống xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nói chung, trong hoạt động thanh tra nói riêng, quy định chung về trách nhiệm, nội dung và phương thức kiểm soát xung đột lợi ích.

Thứ hai, nghiên cứu, rà soát và quy định cụ thể, chi tiết hơn những hạn chế về lợi ích cá nhân đối với cán bộ, công chức tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích, đặc biệt là vấn đề nhận quà tặng và công việc làm thêm.

Hạn chế về nhận quà tặng nên được quy định theo hướng giảm thiểu mọi nguy cơ có thể phát sinh, có thể tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia[4] quy định cấm cán bộ, công chức nhận quà tặng dưới mọi hình thức, trường hợp không thể từ chối thì phải báo cáo và nộp lại quà tặng cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có thể trả tiền để mua lại nếu muốn giữ quà tặng đó. Quà tặng thường được cho là biểu hiện về mặt văn hóa, tuy nhiên nét văn hóa này trên thực tế đã bị lợi dụng. Đa số cán bộ, công chức, doanh nghiệp và người dân đều nhận thức rằng, hiện nay việc tặng quà không phản ánh nét đẹp văn hóa[5]. Quy định này cũng cần phải được nghiên cứu áp dụng trong hoạt động thanh tra.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập theo hướng kê khai rõ hơn về quà tặng và công việc làm thêm, quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc sử dụng thông tin kê khai tài sản, thu nhập để xem xét, phát hiện tình huống xung đột lợi ích của cán bộ, công chức, nghiên cứu mở rộng phạm vi và hình thức công khai bản kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.

Thứ tư, quy định rõ trách nhiệm của cán bộ, công chức, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý tình huống xung đột lợi ích, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc hướng dẫn, giúp đỡ, hỗ trợ công chức thực hiện việc kiểm soát xung đột lợi ích của bản thân.

Thứ năm, sửa đổi, bổ sung các quy định về kiểm soát quà tặng của cán bộ, công chức, quy định rõ trình tự, thủ tục tiếp nhận và xử lý thông tin về quà tặng, tiếp nhận và xử lý quà tặng do cán bộ, công chức nộp lại trong trường hợp không thể từ chối.

Thứ sáu, nghiên cứu mở rộng phạm vi điều chỉnh một số quy định về kiểm soát xung đột lợi ích, không dừng lại ở bản thân cán bộ, công chức mà cần phải mở rộng ra các chủ thể khác có mối quan hệ gần gũi với cán bộ, công chức.

ThS. Lê Thị Thúy – Viện Khoa học thanh tra

Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Nhằm Phòng Ngừa Tham Nhũng

Tham nhũng được định nghĩa là những hành vi lợi dụng quyền lực công để đạt được những lợi ích vật chất hay tinh thần (hành vi vụ lợi). Như vậy có thể thấy, bản chất của tham nhũng là lợi ích phi pháp, và từ đó, mục tiêu của cuộc chiến chống tham nhũng chính là loại trừ những yếu tố tiềm ẩn nguy cơ có thể thực hiện hành vi tham nhũng. Nhìn từ một khía cạnh khác, tham nhũng được hiểu là dùng quyền lực công để mưu lợi ích tư. Bài viết bàn về khái niệm và những vấn đề xung quanh việc xử lý xung đột lợi ích (XĐLI) công – tư đối với người có chức vụ, quyền hạn để tìm ra giải pháp góp phần phòng ngừa tham nhũng.

1. Xung đột lợi ích và tham nhũng

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đều thừa nhận lợi ích là động lực của mọi hoạt động của con người trong xã hội, là động lực của sự phát triển. Có thể khẳng định rằng, lợi ích kinh tế là động lực cơ bản, là mục tiêu hoạt động của con người và là nguồn gốc của sự phát triển xã hội, đó cũng chính là mục tiêu của những kẻ cầm quyền “tha hoá”, tham nhũng. Mác đã từng nói rằng, cội nguồn của sự phát triển xã hội không nằm trong quá trình nhận thức mà ở trong các quan hệ vật chất, tức là trong các lợi ích kinh tế của con người.

Trong tư duy biện chứng, xung đột nói chung và XĐLI nói riêng được đề cập ở khía cạnh đấu tranh của các mặt đối lập. XĐLI là trạng thái đấu tranh, tương khắc của các lợi ích với tính cách là những mặt đối lập trong một quan hệ lợi ích nhất định. XĐLI có thể xảy ra giữa các chủ thể khác nhau hoặc trong cùng một chủ thể.

Sự xung đột giữa lợi ích công và lợi ích tư đặt cán bộ, công chức vào sự lựa chọn khó khăn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Đấu tranh chống tham nhũng là đấu tranh với thói hư tật xấu, là việc chống lại sự lợi dụng quyền lực để mưu lợi cá nhân, chống lại sự tha hoá của những người thực thi quyền lực.

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng là sự đấu tranh giữa lợi ích công và lợi ích tư. Cuộc đấu tranh này không chỉ là sự đấu tranh với sự lạm dụng quyền lực để thu vén cho lợi ích cá nhân, mà còn xảy ra ngay trong bản thân mỗi công chức trong quá trình thực thi công vụ của mình, đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa trách nhiệm và đạo đức công vụ với những nhu cầu cá nhân thôi thúc.

Đấu tranh chống tham nhũng không chỉ là việc đưa những giải pháp, những phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng mà ngày nay, người ta đặc biệt coi trọng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng như là trọng tâm căn bản của cuộc chiến khó khăn này. Các biện pháp phòng ngừa hướng tới việc làm triệt tiêu các nguy cơ tham nhũng ngay khi nó còn là khả năng, mầm mống xuất hiện những mâu thuẫn hay XĐLI, chưa “phát tác” và vi phạm pháp luật. Nguy cơ thường được hiểu như là trạng thái tiềm tàng mà nếu không có giải pháp ngăn chặn xử lý, nó sẽ trở thành hiện thực với những hành vi phạm pháp. XĐLI là một nguy cơ như vậy. XĐLI là trạng thái, tình huống, trong khi tham nhũng là hành vi hiện thực. Vì vậy, nó cần được nhận diện, kiểm soát và xử lý kịp thời, không để dẫn đến hành vi lợi dụng công quyền mà tư lợi, tham nhũng.

2. Kiểm soát xung đột lợi ích từ quan niệm quốc tế

Theo quan niệm phổ biến, XĐLI là những tình huống cụ thể phát sinh khi công chức có thể đưa ra quyết định hoặc thực hiện hành vi có lợi cho mình trong hoạt động công vụ, qua đó làm phát sinh tham nhũng. XĐLI khác tham nhũng ở chỗ nó mới chỉ là trạng thái mà chưa phải là hành vi vi phạm pháp luật.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), “XĐLI là tình huống trong đó một cán bộ, công chức, trong thẩm quyền chính thức của mình, đưa ra hoặc phải đưa ra các quyết định, hoặc có những hành động có thể tác động tới lợi ích cá nhân của họ”[1]

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc xây dựng quy tắc ứng xử có điểm chung là đều xoay quanh việc giải quyết vấn đề XĐLI trong hoạt động công vụ của các nhân viên công quyền. Có thể nói, sự cần thiết và tầm quan trọng của việc nhận dạng và giải quyết XĐLI đối với việc thúc đẩy và giữ gìn tính liêm chính và sự minh bạch của nền hành chính công đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới nhận thức một cách đầy đủ và từ đó định ra cho mình lộ trình, hành động, biện pháp cụ thể nhằm góp phần phòng ngừa tham nhũng.

Ngày 12/12/1996, Đại hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) ra Nghị quyết số 51/59 về Hành động chống tham nhũng, trong đó nêu rõ: Công chức không được lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình để có được lợi thế hoặc lợi ích tài chính bất hợp pháp cho mình và gia đình mình; không được tham gia vào bất kỳ giao dịch nào, tiếp nhận vị trí hay trách nhiệm nào hoặc có bất kỳ lợi ích tài chính nào không tương thích với chức trách, nhiệm vụ của mình. Phần này cũng quy định về việc kê khai những hoạt động về tài chính hoặc hoạt động khác mà công chức thực hiện để kiếm tiền ngoài giờ làm việc và có thể dẫn đến, hoặc tiềm ẩn nguy cơ gây XĐLI.

Theo kết quả khảo sát do LHQ tiến hành, đa số các quốc gia thành viên đều đã đưa quy tắc ứng xử vào các chính sách và pháp luật trong nước với những quy định cụ thể và phù hợp với từng lĩnh vực. Nội dung của các bộ quy tắc ứng xử đó đều tập trung xoay quanh những nguyên tắc và vấn đề chung bao gồm: sự tận tụy, tính hiệu quả, hiệu lực, liêm chính, công bằng, không thiên vị, việc lạm dụng chức vụ, quyền hạn và việc tặng – nhận quà cũng như các lợi ích khác.

Một số quốc gia có quy định yêu cầu công chức, trong trường hợp có nảy sinh XĐLI, phải kê khai về những lợi ích thu được qua hoạt động kinh doanh, thương mại, tài chính và các hoạt động khác được thực hiện nhằm mục đích kiếm tiền. Một số quốc gia thì đề ra những quy định cụ thể để điều chỉnh những tình huống như trong vòng 5 năm kể từ sau khi thôi giữ chức vụ mà công chức được nhận hoặc có được cổ phần, việc làm hoặc lợi ích dưới bất kỳ dạng thức nào khác từ phía một công ty tư nhân hoặc nhà nước mà công chức đó thực thi trách nhiệm theo dõi hoặc giám sát[2].

Bộ quy tắc ứng xử mẫu của LHQ đưa ra định nghĩa tương đối rộng về những tình huống có thể gây XĐLI, theo đó, bất kỳ tình huống nào mà ở đó công chức có lợi ích cá nhân và nó ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của công chức khi thực thi công vụ. Do vậy, Bộ quy tắc này khuyến nghị một loạt vấn đề để tránh rủi ro XĐLI đối với công chức:

– Công chức đó phải báo cáo ngay với cấp có thẩm quyền về xung đột khi nhận thức được về nó và phải tuân thủ đúng những gì mình được yêu cầu phải làm. Mọi xung đột về lợi ích cần phải được giải quyết trước khi tuyển dụng người mới hoặc bổ nhiệm công chức giữ chức vụ mới.

– Công chức không được tham gia vào những hoạt động bên ngoài khi mà hoạt động đó xung đột với chức năng, nhiệm vụ của mình. Nếu không rõ về vấn đề gì thì phải yêu cầu được giải thích. Công chức phải xin phép và được phép của cấp có thẩm quyền thì mới được tham gia vào công việc ở bên ngoài (cho dù có được trả tiền hay không).

– Công chức phải khai báo về tư cách thành viên hoặc mối quan hệ với bất kỳ tổ chức nào mà có thể gây ra sự cản trở đối với việc thực thi công vụ của mình; đồng thời, trong cuộc sống riêng tư hay trong công việc, công chức không được đặt mình vào tình huống mà mình bắt buộc phải trả ơn người khác bằng một ưu đãi hay ân huệ nào đó.

Cùng với những quy định trên, đa số các quốc gia đều có chính sách và pháp luật nhằm bảo đảm trách nhiệm giải trình của công chức về hành vi, quyết định mà họ thực hiện khi thi hành công vụ; đồng thời yêu cầu các công chức phải giải trình về những quyết định và hành vi hành chính đã được tiến hành mà ảnh hưởng đến lợi ích của công dân. Các biện pháp xử lý vi phạm cũng được áp dụng đối với những loại hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm đạo đức.

3. Vấn đề xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích ở Việt Nam 3.1 Kiểm soát XĐLI trong lịch sử

XĐLI không phải là vấn đề mới ở Việt Nam. Trong các văn bản pháp luật từ trước đến nay đã có những quy định để loại trừ sự “thiên vị” hay những tình huống có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của công chức trong khi thực hiện công vụ.

Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, Chính phủ đã tìm cách ngăn chặn tâm lý “một người làm quan, cả họ được nhờ”, tình trạng bè cánh, cục bộ trong cán bộ. Trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ viết ngày 1/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình, kiểm thảo “Những đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”.

Từ thời phong kiến, việc này cũng được thực hiện khá nghiêm ngặt thông qua Luật “Hồi tỵ”. Luật Hồi tỵ được áp dụng ở Nhà nước phong kiến Việt Nam trong các thời Lê, Nguyễn. “Hồi tỵ”, được Hán – Việt từ điển của học giả Đào Duy Anh giải nghĩa là “tránh đi”. “Hồi” là trở về, “tỵ” là lánh đi (như trong chữ tỵ nạn); tức là nếu được bổ nhiệm về bản quán thì phải tránh đi. Luật Hồi tỵ được ban hành đầu tiên dưới thời vua Lê Thánh Tông. Trong bộ Lê triều Hình luật (còn gọi là Luật Hồng Đức) có quy định: “Quan lại không được lấy vợ, kết hôn, làm thông gia ở nơi mình cai quản; cũng như không được tậu đất, vườn, ruộng, nhà ở nơi mình làm quan lớn, không được dùng người cùng quê làm người giúp việc”.

Sang đến thời Nguyễn, sau khi Vua Gia Long thiết lập bộ máy nhà nước, đến thời Minh Mạng, Luật Hồi tỵ còn triệt để hơn, được mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng và bổ sung những quy định mới. Năm 1831, Vua Minh Mạng ban hành Luật Hồi tỵ gồm các quy định cụ thể: Khi bố trí quan về trị nhậm các địa phương cần phải tránh những nơi: Quê gốc (quê cha) là nơi có quan hệ họ nội nhiều đời; Trú quán là nơi bản thân đã ở lâu, học hành, sinh hoạt; Quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và nơi theo học trước đây). Ai man trá các điều này sẽ bị nghiêm trị.

Ngoài các điểm chung như Luật Hồi tỵ thời Lê Thánh Tông, Vua Minh Mạng còn có nhiều quy định tích cực và triệt để hơn, như: Các dịch lại ở các nha môn, các bộ ở Kinh đô và các tỉnh là bố con, anh em ruột, anh em con chú con bác với nhau thì phải tách ra, đổi bổ đi nơi khác. Các quan lại không được làm quan ở nơi cư trú (nơi ở một thời gian lâu), ở quê vợ, quê mẹ mình; thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ hoặc lúc trẻ tuổi. Các lại mục, thông lại cũng không được làm việc ở phủ, huyện là quê hương của mình.

Đến năm 1836, Luật Hồi tỵ còn được bổ sung những quy định khắt khe hơn: Các quan đầu tỉnh như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh, Đốc học đều không được cử những người cùng chung một quê. Trong từng Bộ, Nha, Sở, Cục không được bố trí những người có quan hệ cha-con, anh-em, thông gia, thầy-trò, họ hàng…

Quan lại không được coi thi, chấm thi ở nơi nào có những người ruột thịt, thân quen dự thi. Nếu có, phải tâu trình thay người khác coi, chấm thi. Nghiêm cấm các quan đầu tỉnh đặt quan hệ giao du, kết thân, kết hôn với phụ nữ nơi mình trị nhậm, cấm tậu nhà, tậu ruộng… trong địa hạt cai quản của mình[3] …

Kiểm soát XĐLI tất yếu cần sự điều chỉnh của pháp luật. Xét từ góc độ công cụ quản lý, hệ thống pháp luật là căn cứ xác định các lợi ích hợp pháp và các hành vi thực hiện lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể. Vì thế, theo chúng tôi, có một số nội dung cần thể hiện trong chế định này:

1. Đưa ra một khái niệm chung về XĐLI. Khái niệm đó phải vừa mang tính khái quát, vừa dễ hiểu và có thể bao hàm hầu hết các tình huống có XĐLI;

2. Quy định trách nhiệm báo cáo (đối với công chức gặp tình huống XĐLI) hoặc phản ảnh (đối với người khác) khi thấy có XĐLI;

3. Quy định các phương án xử lý khi xảy ra XĐLI nhằm loại trừ nguy cơ dẫn đến hành vi tham nhũng;

4. Quy định xử phạt những vi phạm về trách nhiệm báo cáo hoặc xử lý khi xảy ra XĐLI.

Mới đây, Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng đã đưa ra khái niệm: “XĐLI là tình huống mà trong đó cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hoặc không thực hiện một nhiệm vụ được giao có thể mang lại lợi ích không chính đáng cho cá nhân họ, cho người thân thích của họ” (Điều 28). Đồng thời, Dự luật này cũng đưa ra các quy định để xử lý vấn đề XĐLI, bao gồm:Trách nhiệm thông tin, báo cáo về XĐLI; Trách nhiệm xử lý thông tin, báo cáo về XĐLI.Dự luật cũng giao trách nhiệm cho người đứng đầu các cơ quan, ngành, lĩnh vực quy định về kiểm soát XĐLI trong ngành và lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Đây là những quy định hết sức cơ bản và cần phải được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật sau này.

Ngoài ra, những quy định về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động công quyền, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân sẽ là những điều kiện quan trọng để người dân có thể giúp Nhà nước kiểm soát tốt XĐLI. Việc nâng cao trách nhiệm giải trình và minh bạch hóa việc xử lý XĐLI một cách chủ động cũng là những yếu tố quan trọng nâng cao uy tín của nền công vụ, góp phần xây dựng một Chính phủ liêm chính và phục vụ./.

Từ Kiểm Soát “Xung Đột Lợi Ích” Đến Phòng, Chống Tham Nhũng

Báo cáo nói trên được công bố tại Hội thảo do WB tại Việt Nam phối hợp với Thanh tra Chính phủ tổ chức tại Hà Nội, sáng 9-11. Để hoàn thành báo cáo này, Nhóm nghiên cứu đã khảo sát thông tin từ 2.647 người, trong đó có 570 người dân, 596 doanh nghiệp, 1.411 cán bộ công chức và dữ liệu thu thập ở 10 tỉnh, thành phố, 5 bộ, ngành của Việt Nam. Đây cũng là lần đầu tiên một báo cáo chung về vấn đề xung đột lợi ích khu vực công được công bố tại Việt Nam.

Để có thể đi sâu tìm hiểu và đưa ra những cách thức giải quyết vấn đề xung đột lợi ích trong khu vực công, nghiên cứu đã chỉ ra một thực trạng tại Việt Nam, đó là các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của chúng ta chưa đưa ra một khái niệm chính thức về xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích một cách có hệ thống trong khu vực công. Hiểu biết về xung đột lợi ích trong xã hội và trong bản thân cán bộ, công chức, viên chức cũng còn hạn chế. Phát biểu tại hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cho rằng, đến nay, Việt Nam quy định trong văn bản pháp luật nhiều việc mà cán bộ, công chức, lãnh đạo không được làm, song vẫn thiếu khung khái niệm cụ thể.

Theo khái niệm đưa ra trong báo cáo, xung đột hay mâu thuẫn lợi ích là tình huống trong đó một cán bộ công chức trong thẩm quyền chính thức của mình đưa ra hoặc phải đưa ra các quyết định, hành động, có thể tác động tới lợi ích cá nhân của họ. Báo cáo đã đánh giá một cách toàn diện về mức độ phổ biến của xung đột lợi ích trong các lĩnh vực hoạt động của khu vực công: Cung cấp dịch vụ công; tuyển dụng và bổ nhiệm, đấu thầu; cấp phép và phê duyệt dự án; thanh tra và kiểm tra; xử lý vi phạm.

Báo cáo cho rằng, trong ba thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường đã thúc đẩy tương tác ngày càng tăng giữa khu vực công và tư, do đó cần phải giải quyết những xung đột lợi ích phát sinh trong quá trình tương tác này thông qua luật pháp và thực thi chính sách tốt hơn.

Ông Ô-xma-nê Đi-ô-nê (Ousmane Dione), Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam nhấn mạnh: “Việt Nam khát vọng trở thành một quốc gia thịnh vượng với thể chế hiện đại vào năm 2035. Kiểm soát xung đột lợi ích là điều kiện thiết yếu để đạt được khát vọng đó, vì nó giúp định hình các thể chế, luật lệ và quy định của Nhà nước và thị trường cho thế hệ tiếp theo”.

Những “luật chơi bất thành văn”

Báo cáo cho thấy, hiện nhiều hình thức xung đột lợi ích khác nhau ở khu vực công đã trở thành luật chơi, gây suy giảm hiệu quả và liêm chính trong các thiết chế công tại Việt Nam. Ba lĩnh vực với các tình huống xung đột lợi ích phổ biến nhất là quản lý đấu thầu, cấp phép và phê duyệt dự án, bổ nhiệm và tuyển dụng.

Cụ thể, quá trình khảo sát cho thấy, có tới gần 70% số doanh nghiệp và cán bộ công chức ở Việt Nam biết rõ việc tặng, nhận quà có mục đích chủ yếu là giúp giải quyết công việc. Cán bộ công chức và doanh nghiệp đều cảm nhận chung là tặng quà đã trở thành “luật bất thành văn” hay “thông lệ”. Trong khi nhiều doanh nghiệp tặng quà để không bị “phân biệt đối xử”, cán bộ, công chức lại tặng quà cho cấp trên để… thể hiện sự biết điều. Bà Trần Thị Lan Hương, chuyên gia cao cấp về quản trị công của WB cho rằng, quà tặng giờ đây không chỉ đơn thuần là món quà mang ý nghĩa tình cảm mà nhiều khi đã trở thành “luật chơi”, trở thành “món nợ phải trả”…

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra một số ví dụ về kinh nghiệm kiểm soát xung đột lợi ích tại các quốc gia khác mà Việt Nam có thể học tập. Chẳng hạn như ở Xin-ga-po, cán bộ công chức nếu nhận quà trị giá hơn 50 đô-la phải nộp lại cho nhà nước, trong trường hợp muốn giữ món quà đó làm kỷ niệm thì phải bỏ tiền túi ra mua lại. Một số nước Đông Nam Á còn cấm cả người thân trong gia đình cán bộ công chức nhận quà.

Còn theo Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Dũng, báo cáo vừa công bố rất quan trọng đối với Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất vẫn là làm sao để đưa những nội dung nêu trong đó đi vào cuộc sống.

VŨ HÙNG

Chống Tham Nhũng: Không Hiểu “Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích” Là Gì?

Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương (trái) phát biểu tại tổ.

Cùng nhận xét với một số vị khác, ông Vương cho rằng dự thảo còn quá dài, nhiều nội dung rườm rà, nhất là những chương mục mới vừa bổ sung.

Chưa rõ ràng, chưa đầy đủ

Tờ trình của Chính phủ giải thích, xung đột lợi ích là tình huống phát sinh khi việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức bị tác động hoặc sẽ bị tác động bởi lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức đó. Tuy đây là một khái niệm mới nhưng trong luật hiện hành và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác cũng đã có quy định.

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc kiểm soát xung đột lợi ích trong phòng ngừa tham nhũng (loại bỏ điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra hành vi tham nhũng), dự thảo luật đã quy định thành một chế định riêng bao gồm các điều về nội dung, trình tự, thủ tục kiểm soát xung đột lợi ích; thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích, xử lý thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích. (từ điều 28 đến điều 30).

Nội dung này nằm ở chương quy định về phòng ngừa tham nhũng, chương mà ông Vương cho rằng “hết sức quan trọng”. Nhưng, ông đọc mãi cũng vẫn không hiểu kiểm soát xung đột là cái gì, phục vụ cho việc phòng, chống tham nhũng như thế nào. Nhiều nội dung mới đưa vào chưa rõ ràng, chưa đầy đủ, vị tướng công an nhận xét.

Theo Thượng tướng Lê Quý Vương cần nhấn mạnh việc phòng rồi mới chống, còn khi có tham nhũng xảy ra thì trách nhiệm điều tra, xử lý đã thuộc cơ quan chức năng, đặc biệt là cơ quan điều tra.

Ông Vương phân tích, thế nào là tham nhũng, thì luật đã nêu 12 hành vi, gần như cơ bản đã được đưa vào Bộ luật Hình sự, như các hành vi: tham ô, hối lộ, môi giới hối lộ, lạm dụng chức vụ… Vấn đề thứ hai của phòng, theo ông là xác định được đối tượng.

“Thông thường từ trước nay chúng ta đều xác định là người có chức vụ, có quyền hạn, tức là có điều kiện để tham nhũng. Nhưng vừa qua kiểm tra ở một số địa phương, ngay cả nhân viên kế toán của trường cũng thông đồng với hiệu trưởng làm sai lệch để rút tiền, quyết toán khống. Trong quản lý kinh tế thì giữa ông trưởng và ông kế toán gắn bó với nhau. Nếu không có kế toán thì không thể lấy tiền ra. Do đó, quy định đối tượng thế nào thì phải rất cân nhắc”, ông phát biểu.

Ông Vương nói: “Qua điều tra các vụ án về kinh tế, cũng dễ thấy có sự đan xen giữa những người hoạt động kinh tế với trách nhiệm của cơ quan quản lý, như khai thác cát sỏi, phá rừng, đất đai…”

“Tôi cho rằng muốn thành công trong phòng, chống tham nhũng thì minh bạch, công khai là yêu cầu số một, nhưng hình như trong văn bản này các đồng chí không đề cập. Các chương trình, dự án phải công khai, minh bạch chứ”.

“Ví dụ dự án BOT thì hình thức công khai, minh bạch là thế nào. Mặc dù chúng ta có đủ quy định về đấu thầu, nhưng trong quá trình đấu thầu vẫn hình thành các lợi ích nhóm, để hồ sơ thắng thầu hoàn toàn hợp lệ, nhưng bên trong đó là bắt tay nhau. Công khai minh bạch là cái cần đề cập rất sâu”, Thượng tướng Lê Quý Vương nhìn nhận.

Thứ trưởng Bộ Công an cũng đề nghị chú ý chuẩn hóa các quy định trong các lĩnh vực hoạt động của các cơ quan, tổ chức.

Ngoài ra, ông Vương cho rằng cần quản lý chặt chẽ việc kê khai, kiểm soát thu nhập. Đã kê khai rồi nhưng phải kiểm soát đường đi của đồng tiền, tất cả các nhân viên Nhà nước phải thực hiện trả lương qua tài khoản, giao dịch qua tài khoản.

“Tại sao khi Trung Quốc kiểm tra những đối tượng bị xử lý về tham nhũng, thấy có rất nhiều tiền mặt trong nhà, vì luật của họ quy định chặt, mang tiền đi gửi không được, mua bất động sản, vàng bạc đều bị lộ”, ông Vương nói.

Nguyễn Lê

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Vấn Đề Về Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Hoạt Động Công Vụ trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!