Xu Hướng 11/2022 # Đặc Điểm Sinh Lý Tiêu Hóa Của Thỏ / 2023 # Top 19 View | Nhatngukohi.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Đặc Điểm Sinh Lý Tiêu Hóa Của Thỏ / 2023 # Top 19 View

Bạn đang xem bài viết Đặc Điểm Sinh Lý Tiêu Hóa Của Thỏ / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

là loài vật có dạ dày đơn, bộ máy tiêu hóa bao gồm các thành phần: miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn.

Đặc điểm cấu tạo của cơ quan tiêu hóa

bộ máy tiêu hóa ở thỏ Cấu tạo bộ máy tiêu hóa của thỏ

– Miệng : Miệng gồm có môi, răng và lưỡi. Răng của thỏ chia làm 2 hàm : Hàm trên gồm 2 răng cửa và 6 răng hàm không có răng nanh, hàm dưới gồm có 1 răng cửa và 5 răng hàm không có răng nanh.

– Thực quản : Thực quản nối từ miệng xuống đến dạ dày, chức năng của thực quản là vận chuyển thức ăn từ miệng xuống dạ dày.

– Dạ dày : Dạ dày của thỏ là dạ dày đơn, có khả năng co giãn tốt nhưng co bóp yếu.

– Ruột : (Ruột non, manh tràng, ruột già)

+ Ruột non : Dài khoảng 4 – 6 m, đây là nơi diễn ra quá trình tiêu hóa thức ăn và hấp thu chủ yếu.

+ : Manh tràng lớn gấp 5 – 6 lần dạ dày, nằm ở phần nối giữa ruột non và ruột già. Trong manh tràng có hệ vi sinh vật sống cộng sinh phát triển giống như vi sinh vật trong dạ cỏ loài nhai lại. Nếu thiếu thức ăn thô thì manh tràng trống giống, thỏ có càm giác đói. Còn nếu cho ăn thiếu thức ăn xơ hoặc thức ăn xanh, củ quả… nhiều nước thì dễ gây rối loạn tiêu hóa như tạo nhiều khí, phân không tạo viên, ruột chứa đầy khí gây lên chướng bụng, đầy hơi.

+ Ruột già : bao gồm phần kết tràng và trực tràng.

Đặc điểm quá trình tiêu hóa của thỏ

Ở miệng thức ăn được nghiền nát bằng răng và được nhào trộn với nước bọt, sau đó thức ăn được chuyển qua thực quản xuống dạ dày. Ở dạ dày protein của thức ăn được tiêu hóa nhờ dịch vị. Nếu khẩu phần ăn thiếu muối thì dịch vị tiết ra ít, do đó thỏ không phân giải hết protein trong thức ăn. Còn nếu thức ăn thô cứng khó tiêu thì dễ gây viêm dạ dày, ruột.

Ở ruột già, những thức ăn nhỏ có khả năng tiêu hóa được đẩy vào manh tràng, còn phần thức ăn không tiêu hóa được đẩy xuống dưới và tạo thành viên thải ra ngoài. Như vậy thỏ có 2 loại phân : Phân cứng là những viên tròn, thỏ không ăn loại này thỏ thải ra vào ban ngày. Phân mềm (phân vitamin) phần được tiêu hóa ở manh tràng, loại phân này thường được thải ra vào ban đêm khi phân ra là thỏ quay đầu lại ăn ngay. Do đặc tính đó cho nên người ta thường gọi thỏ là động vật nhai lại giả. Quá trình hấp thu ở ruột già chủ yếu là muối khoáng và nước.

Thành phần hóa học của 2 loại phân thỏ

Ở thỏ con không có hiện tượng ăn phân và chỉ khi thỏ đạt 3 tuần tuổi mới bắt đầu ăn phân.

Sinh Lý Hệ Tiêu Hóa Của Bò / 2023

Tiêu hóa là sự biến đổi thức ăn từ những chất phức tạp thành những chất đơn giản dễ hấp thu.

1. Miệng: Có vai trò là lấy thức ăn, tiết nước bọt và nhai lại.

Tham gia vào quá trình lấy và nhai nghiền thức ăn có môi, răng hàm và lưỡi. Bò không có răng hàm trên, chỉ có 8 răng cửa hàm dưới và 24 răng hàm, vai trò là nghiền nát thức ăn giúp cho dạ dày và ruột tiêu hóa dễ dàng. Lưỡi giúp lấy thức ăn và nhào trộn thức ăn trong miệng, ngoài ra lười còn có vai trò vị giác và xúc giác nhờ các gai hình nấm, gai thịt hình đài hoa và gia thịt hình sợi.

2. Thực quản: là ống nối liền miệng qua hầu xuống tiền đình dạ cỏ, có tác dụng nuốt thức ăn và ợ các miếng thức ăn lên để nhai lại, Thực quản còn có vai trò ợ hơi để thải các khí thừa sinh ra trong quá trình lên men dạ cỏ (CH4).

3. Dạ cỏ : là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nữa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu. Dạ cỏ chiếm tới 85 – 90 % dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hóa, có tác dụng trữ, nhào trộn và lên men phân giải thức ăn. Ngoài chức năng lên men, dạ cỏ còn có vai trò hấp thu các axit béo bay hơi sinh ra trong quá trình lên men vi sinh vật, acid béo bay hơi được vách tế bào dạ cỏ hấp thu vào máu cung cấp năng lượng cho vật chủ.

Vai trò của hệ vi sinh vật trong dạ cỏ: Thức ăn được vi khuẩn tiêu hóa thành những chất đơn giản , vi khuẩn sẽ dùng 1 phần để tạo nên tế bào chất cho chính nó.

Nếu lấy xác của vi khuẩn trong dạ cỏ ra phân tích, có 45% Protid, 20% Glucid, 2% lipid. Glucid trong xác vi khuẩn giống glucid của bò,. Protid của vi khuẩn tổng hợp từ cỏ hay bằng cách dùng các chất đạm phi Protein (NH3, ure)

4. Dạ tổ ong: là phần kéo dài của dạ cỏ có niêm mạc được cấu tạo trông giống như tổ ong.

Chức năng là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách.

Dạ tỏ ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn ợ qua thực quản lên miệng để nhai lại. Sự lên men trong tổ ong tương tự như dạ cỏ.

5. Dạ lá sách: có niêm mạc gấp nếp nhiều lần (tăng diện tích tiếp xúc), có chức năng là nghiền nát các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước, các muối khoàng và các acid béo bay hơi

6. Dạ múi khế: có hệ thống các tuyến phát triển mạnh và có chức năng tương tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, tức là tiêu hóa thức ăn bằng dịch vị (chứa HCL và pesine), dịch vị bò có pH 2,17 – 3.14, thành phần 95% là nước, 0.5% là vật chất khô, vật chất khô gồm có: chất hữu cơ (các men tiêu hóa), chất vô cơ ( Hcl, Clorm, natri, Kali…).

7. Rãnh thực quản: là phần kéo dài của thực quản gồm có đáy và hai mép khi khép lại sẽ tạo ra cái ống để dẫn thức ăn lỏng. Đới với gia súc còn non, dạ cỏ và dạ tổ ong chưa phát triển nên sửa sẽ theo rãnh thự quản đỗ trực tiếp vào dạ lá sách và dạ muối khế.

8. Ruột non: có chức năng như của gia súc dạ dày đơn, là tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất. Những phần thức ăn được lên men ở dạ cỏ và sinh khối vsv được đưa xuống ruột non sẽ được tiêu hóa bằng men (Lipase, Amylase, peptidase, Maltase) . Trong ruột non có các enzym tiêu hóa tiết qua thành ruột và tuyến tụy để tiêu hóa các loại tinh bột, đường, protein và lipid. Ruột non còn có chức năng hấp thu nước, muối khoáng vitamin và các Gluco, amino, và các axit béo.

9. Ruột già: có chức năng lên men, hấp thu và tạo phân. Trong phần manh tràng có hệ vi sinh tương tự như dạ cỏ có vai trò lên men các sản phẩm đưa từ trên xuống, và hấp thu các dưỡng chất, các acid béo bay hơi. Hấp thu nước, tạo khuôn vfa tích trữ phân.

chúng tôi

Đặc Điểm Hệ Tiêu Hóa Trẻ Em / 2023

Published on

1. ĐẶC ĐIỂM HỆ TIÊU HÓA TRẺ EM BS Hoàng Lê Phúc

4. Overview of carbohydrate digestion. Numbers in circles indicate percentage of substrate hydrolyzed by brush border enzyme. From Johnson,Gastrointestinal Physiology, 7th ed. 2007

5. Major changes in digestive function in neonates. From Marsh and Riley, 1998

6. Biểu hiện Lactase theo giai đoạn phát triển Diagrammatic representation of the level of lactase expression at different stages of development and in lactase persistent and nonpersistent adults DMD 29:513-516, 2001 Thai Biểu hiện thấp Trẻ nhỏ Biểu hiện cao Người lớn Biểu hiện cao Lactase persistence Người lớn Biểu hiện thấp Lactase non- persistence

7. *Đầy bụng *Trung tiện nhiều *Đau quặn bụng *Tiêu chảy *Hăm đỏ hậu môn

8. Thấp Cao Nhanh Nhanh Không có Hoạt tính Lactase Lượng Lactose Làm trống dạ dày Nhu động ruột Sự thích ứng của ĐT Cao Thấp Chậm Chậm Có BẤT DUNG NẠP CÓ TRIỆU CHỨNG DUNG NẠP VÔ TRIỆU CHỨNG BẤT DUNG NẠP LACTOSE: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

9. Miệng * Khoang miệng nhỏ do: Vòm họng thẳng Lưỡi lớn, rộng và dày Cơ môi, má phát triển Tạo nên áp lực hút mạnh giúp trẻ bú tốt. * Niêm mạc miệng: hồng, mỏng, nhiều mạch máu nhưng khô do các tuyến nước bọt chưa phát triển hoàn chỉnh làm niêm mạc miệng dễ bị tổn thương.

10. Miệng * Tuyến nước bọt: Phát triển hoàn chỉnh từ tháng 4 – 6 sau sanh. pH nước bọt dao động 6 – 7 – 8 Nước bọt trẻ < 4 tháng tuổi chưa có Amylase và Ptyalin nên chưa tiêu hóa được tinh bột. * Lưỡi: lớn, rộng và dày. Gai lưỡi phát triển tốt nên trẻ có thể cảm nhận thức ăn ngon.

11. Miệng * Phản xạ bú: Được hình thành từ tháng thứ 7 trong bào thai và được hoàn thiện dần đến lúc sinh. Bú là phản xạ không điều kiện, bẩm sinh do sự phối hợp nhịp nhàng của cơ môi, má, lưỡi và nắp thanh quản. Tổn thương các cơ quan trên làm trẻ bỏ bú hay sặc sữa

12. ( a ) Permanent teeth. ( b ) Deciduous teeth. A “universal” numbering and lettering system has been developed by dental professionals for convenience in identifying individual teeth.

13. Răng * Răng sữa có 20 cái, bắt đầu mọc từ tháng 5 – 6 6 – 12 tháng: mọc 8 răng cửa 12 – 18 tháng: mọc 4 răng tiền hàm 18 – 24 tháng: mọc 4 răng nanh 24 – 30 tháng: mọc 4 răng hàm lớn * Những răng sữa này không có chân răng, dễ gãy và hay bị sâu răng. * Từ 6 tuổi, răng sữa được thay bằng răng vĩnh viễn

14. Thực quản * Chiều dài thực quản trẻ em từ cung răng đến tâm vị: Sơ sinh: 8 – 10 cm 2 – 3 tuổi: 16 cm Người lớn: 25 – 30 cm * Đường kính thực quản: < 2 tháng tuổi: 0.8 – 0.9 cm 2 – 6 tháng: 0.9 – 1.2 cm 9 – 18 tháng: 1.2 – 1.5 cm 2 – 6 tuổi: 1.3 – 1.7 cm

15. Thực quản * Phản xạ nuốt có thể thấy trong tử cung từ 16 – 20 tuần tuổi thai, giúp tuần hoàn dịch ối. * Phản xạ nút và nuốt không có sự phối hợp đầy đủ trước 34 tuần tuổi. * Niêm mạc thực quản mỏng và nhiều mạch máu nên trẻ dễ bị chảy máu thực quản nếu ọc ói nhiều lần. NM thực quản là biểu mô vẩy tầng không sừng hóa, biểu mô vẩy này biến đổi thành biểu mô trụ đơn tại chổ nối dạ dày – thực quản.

16. Thực quản * Thành thực quản mỏng và đàn hồi kém do lớp cơ chưa phát triển. Lớp cơ 1/3 trên thực quản là cơ vân, 2/3 dưới thực quản là cơ trơn. Cơ thắt thực quản dưới (LES) còn yếu nên trẻ dễ bị trào ngược dạ dày – thực quản. * Trương lực cơ thắt dưới thực quản lúc nghỉ # 20 mmHg, áp lực này bất thường khi giảm dưới 10 mmHg. * Trương lực LES tăng khi tăng áp lực ổ bụng do co thắt dạ dày, co cơ thành bụng, áp lực từ bên ngoài hoặc do kích thích giao cảm, gastrin, kiềm hóa dịch vị, thuốc…

17. Dạ dày * Đặc điểm cấu tạo dạ dày trẻ em: Dạ dày nằm cao ở đốt sống ngực thứ 10 Dạ dày nằm ngang, khi trẻ biết đi, dạ dày từ từ chuyển sang vị thế dọc. Cơ tâm vị rất yếu. Cơ môn vị rất phát triển nên thức ăn dễ ứ đọng ở dạ dày Niêm mạc dạ dày giàu mạch máu, đàn hồi kém do lớp cơ thành dạ dày chưa phát triển

19. Dạ dày * Dung tích dạ dày: Trẻ sơ sinh: 30 – 35 cm3 3 tháng: 100 cm3 1 tuổi: 250 cm3 * Thời gian thức ăn ở DD: 2 – 3 giờ nếu trẻ bú mẹ 3 – 4 giờ nếu trẻ bú sữa bò 4 – 5 giờ: trẻ bú sữa bò béo Thời gian thức ăn ở dạ dày sẽ lâu hơn nếu thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, không được nghiền kỹ, nhai nát.

20. Dạ dày * Chuyển động của dạ dày: Nhu động thực quản kích thích phản xạ mở tâm vị. Nhu động dạ dày chuyển động từ tâm vị đến môn vị. Co bóp dạ dày: xuất hiện khi dạ dày đầy thức ăn, thức ăn không được nghiền nát tốt, co bóp dạ dày thường gây cảm giác đau. Cơ môn vị mở dưới tác động kiềm của hành tá tràng. Cơ môn vị đóng dưới tác dụng toan của axit dạ dày.

21. Dạ dày * Dịch vị: Thành phấn dịch vị giống như người lớn, nhưng chất lượng và khối lượng kém hơn. 85% niêm mạc dạ dày được lót bởi những tuyến bài tiết acide, có các TB tiết ra HCl, pepsinogen và yếu tố nội sinh. Các tuyến ở hang môn vị có TB tiết gastrin. Sự bài tiết acide dạ dày thấp lúc sinh, nhưng tăng nhanh chóng trong 24 giờ, bài tiết acide và pepsin đạt đỉnh cao vào ngày thứ 10 sau sinh.

22. Dạ dày * Dịch vị: Men pepsin chuyển hóa albumine thành peptone, men này hoạt động tốt ở môi trường acide cao, trong khi trẻ càng nhỏ thì độ toan càng yếu nên men này không phát huy hết tính năng. pH dạ dày trẻ sơ sinh 3.8 – 5.8 (người lớn: 1.5 – 2)

23. GASTRIC LIPASE The human stomach is also involved in the digestion of fat. Gastric lipase initiates the digestion of dietary fat and hydrolyzes about 20% of the triglycerides in a meal. It is resistant to the acidic environment of the stomach and does not require bile salts or cofactors for triglyceride hydrolysis. Gastric lipase has an important role in lipolysis in the perinatal period and in conditions where there is decreased pancreatic lipase activity. It is secreted by the chief cells located in the fundus. Gastric lipase activity is detectable at 10 weeks’ gestation in gastric tissues and steadily increases until 20 weeks, correlating with gastric gland development

24. Ruột * Cấu tạo: Trẻ sơ sinh chiều dài ruột gấp 6 lần chiều dài cơ thể. Ruột non dài khoảng 270 cm ở trẻ sơ sinh đủ tháng và phát triển chiều dài bằng ruột người lớn khoảng 450 – 550 cm lúc 4 tuổi. Đại tràng dài khoảng 75 – 100 cm. NM ruột non xếp nếp thành các nhung mao (villi) làm tăng diện tích hấp thu, bề mặt NM lại được tăng thêm bởi các vi nhung mao (microvilli) hay bờ bàn chải chứa men tiêu hóa và các cơ chế vận chuyển aa, dipeptide, tripeptide, chất béo.

25. Cấu trúc ruột non

26. Ruột * Cấu tạo: NM ruột non được thay mới hoàn toàn sau 4 – 5 ngày, cung cấp cơ chế để làm lành ruột nhanh chóng sau tổn thương, tuy nhiên ở trẻ nhủ nhi và trẻ suy dinh dưỡng, quá trình này chậm hơn. Chiều dài ruột phụ thuộc tình trạng dinh dưỡng: trẻ mập khỏe có ruột dài hơn trẻ gầy ốm, trẻ SDD có ruột dài hơn trẻ bình thường do trương lực cơ giảm

27. Ruột * Cấu tạo: Mạc treo ruột dài + manh tràng ngắn, di động làm cho trẻ dễ bị lồng ruột ở tuổi từ 6 tháng – 2 tuổi. Trực tràng dài, các cấu trúc nâng đỡ trực tràng yếu làm cho trẻ dễ bị sa trực tràng khi ho, rặn nhiều. Niêm mạc ruột có nhiều nếp gấp, nhung mao và nhiều mạch máu làm vi trùng dễ cư trú và gây bệnh.

28. Ruột * Chuyển động của ruột: có 3 loại chuyển động Chuyển động quả lắc: giúp nhào trộn thức ăn với men tiêu hóa, tăng khả năng hấp thu. Nhu động: một chiều từ trên xuống dưới, từ ruột non đến ruột già giúp tống các chất đào thải ra ngoài. Chuyển động ngược: chỉ có ở ruột già. Thời gian thức ăn ở trong ruột tối thiểu 12 – 16 giờ ở trẻ nhỏ, ở trẻ lớn và người lớn là 24 giờ.

29. Ruột * Sinh lý hấp thu ở ruột: Hoạt tính men disaccharidase có thể đo được từ tuần 12 thai kỳ, nhưng men lactase chỉ đạt nồng độ tối đa sau 36 tuần tuổi thai. Người châu Á và châu Phi, hoạt tính men lactase có thể giảm sau 4 tuổi, làm bất dung nạp sữa. Hầu hết Na, K, Cl và nước được hấp thu ở ruột non. Muối mật và vitamine B12 hấp thu ở đoạn cuối hồi tràng.

30. Ruột * Sinh lý hấp thu ở ruột: Sắt được hấp thu ở tá tràng và đoạn đầu hỗng tràng. Sự tiêu hóa carbonhydrate xảy ra hoàn tất ở đoạn cuối tá tràng. tinh bột được tách thành glucose, disaccharide và oligosaccharide bởi amylase tụy. Lactose bị phân giải bởi men lactase ở bờ bàn chải thành glucose và galactose. rồi hấp thu vào TB bằng kênh vận chuyển phụ thuộc năng lượng và Na. Sucrose bị phân giải bởi men sucrase thành fructose và glucose. Fructose được hấp thu bởi cơ chế khuếch tán tăng cường.

31. Ruột * Sinh lý hấp thu ở ruột: Protein bị thủy phân bởi các men tụy như trypsine, elastase, chymotrypsine và carboxypeptidase thành acide amin, oligopeptide. Oligopeptide bị phân giải ở bờ bàn chải thành acide amin, dipeptide, tripeptide, sau đó được vận chuyển vào TB bởi những chất mang không cạnh tranh chuyên biệt.

32. Ruột * Sinh lý hấp thu ở ruột: Hấp thu mỡ theo 2 gđ: triglyceride trong thức ăn bị phá vỡ thành monoglyceride và acide béo tự do bởi lipase và colipase tụy. Acid béo tự do sau đó được nhủ tương hóa bởi muối mật tạo ra các thể micelle với phospholipide và các chất tan trong mỡ khác, thể micelle được vận chuyển tới màng TB và hấp thu. Chất béo sau đó được tái ester hóa trong tế bào ruột thành chylomicrons và vận chuyển thông qua mạch bạch huyết tới ống ngực.

33. Ruột * Sinh lý hấp thu ở ruột: Acide béo chuỗi trung bình được hấp thu hiệu quả hơn và có thể được hấp thu trực tiếp vào tế bào mà không cần acide mật. Chúng được vận chuyển tiếp theo tới gan thông qua hệ cửa. Giảm men tụy hoặc thiếu acide mật làm rối loạn hấp thu chất béo. Hấp thu chất béo ở trẻ sơ sinh kém hiệu quả hơn người lớn. Trẻ sinh non có thể mất tới 20% năng lượng từ chất béo, so với chỉ 6% ở người lớn.

34. Ruột * Sự bài tiết của ruột: Trẻ < 1 tuổi bài tiết phân ngoài ý muốn. Sau 1 tuổi có thể giáo dục trẻ đi cầu theo ý muốn. Phân su có từ tháng thứ 4 của thai kỳ, phân có màu xanh đen do mật và các chất tiết của ruột, trẻ tiêu phân su 3 – 4 lần trong vòng 1 – 2 ngày đầu sau sinh. Phân su có thể ra sớm hơn nếu trẻ bị ngạt hoặc thai già tháng. phân su ra trễ khi có dị dạng đường tiêu hóa hoặc bệnh viêm quánh niêm dịch.

35. Ruột * Hệ vi khuẩn đường ruột: Ngay sau sinh, đường ruột vô trùng. 10 – 12 giờ sau sinh, ruột trẻ bị nhiễm bởi 2 loại vi khuẩn: vi khuẩn có lợi (Lactobacilus acidophilus) và vi khuẩn gây bệnh như E.coli… Nhóm lợi khuẩn giúp đường ruột lên men chuyển hóa thức ăn, đồng thời ức chế sự phát triển VK gây bệnh. Sữa mẹ có beta lactose giúp ức chế sự phát triển E.coli

36. Tụy * Là cơ quan đảm nhận chức năng nội tiết và ngoại tiết. * Các men tụy ngoại tiết: trypsin, lipase, amylase, maltase… * Các men này hoạt động tốt trong môi trường kiềm và được hoàn chỉnh ngay sau sinh.

37. Gan * Gan của trẻ tương đối lớn, có thể sờ thấy 1 – 2cm dưới bờ sườn khi thăm khám. * Trẻ sơ sinh thùy (T) gan lớn hơn thùy (P). Ở trẻ lớn và người lớn, thùy (P) gan lớn hơn thùy (T). * Gan là cơ quan tạo máu trong bào thai, chức năng tạo máu giảm sau sinh và hết hẳn lúc 6 tháng tuổi, nên trong giai đoạn thừ 6 tháng – 1 tuổi trẻ dễ bị thiếu máu sinh lý. * Gan còn là cơ quan chống độc, lọc máu từ TM cửa đi lên

38. Gan * Gan bài tiết mật tham gia chuyển hóa mỡ trong thức ăn. Trẻ bị teo đường mật bẩm sinh không bài tiết mật được, tình trạng ứ mật gây xơ gan và rối loạn hấp thu chất béo. * Gan còn là cơ quan dự trữ năng lượng, vitamin A. * Gan có tác dụng lớn trong việc trao đổi chất Protein, Lipide và Glucide.

Đặc Điểm Tâm Sinh Lý Của Học Sinh Tiểu Học / 2023

1. Đặc điểm về mặt cơ thể

– Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,…Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn.

– Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,…Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ.

– Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,…Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em.

Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg. Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ). Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg. Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 – 90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh.

2. Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống

2.1 Hoạt động của học sinh tiểu học

– Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động.

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,…Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,…

+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,…

2.2 Những thay đổi kèm theo

– Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình. Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,…các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ.

– Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt.

– Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình). Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình.

Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập.

3. Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ)

3.1 Nhận thức cảm tính

3.1.1 Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. 3.1.2 Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,…)

Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác. 3.2 Nhận thức lý tính 3.2.1 Tư duy

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động.

Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học.

3.2.2 Tưởng tượng

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi.

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,…. Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.

Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện. 3.3 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,….đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,…Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng. 3.4 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,…Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập.

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định.

Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian. Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ. 3.5 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – lôgic

Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em…

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức. 3.6 Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền,…) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn.

Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời.

Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết,…Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

4. Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học

Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,…Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư…

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã “người lớn” hơn rất nhiều.

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,…khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ.

Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,… 5. Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn…Sau 5 năm học, “tính cách học đường” mới dần ổn định và bền vững ở trẻ.

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình.

Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không được “chụp mũ” nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách ấy. Văn Tường (Trung tâm N-T)

Cập nhật thông tin chi tiết về Đặc Điểm Sinh Lý Tiêu Hóa Của Thỏ / 2023 trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!