Xu Hướng 1/2023 # Đặc Điểm, Công Dụng Cách Trồng Và Chăm Sóc # Top 7 View | Nhatngukohi.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Đặc Điểm, Công Dụng Cách Trồng Và Chăm Sóc # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Đặc Điểm, Công Dụng Cách Trồng Và Chăm Sóc được cập nhật mới nhất trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cây dương xỉ là gì?

Dương xỉ là loại cây thân thảo sống lâu năm, một cây có chiều cao trung bình từ 15 – 30cm. Lá của cây thuộc loại lá kép, mọc thành cụm, có nhiều mép khía dạng tai bèo hoặc có viền răng cưa ngắn trông như những chiếc lược. Nếu được trồng ở nơi nhiều bóng râm, lá cây sẽ có màu xanh xỉn, còn nếu ở những nơi nhiều sáng, lá sẽ mang màu xanh sáng hoặc hơi vàng. Cây thường mọc ở các bìa rừng và vùng núi đá, các khu vực ẩm ướt trong các khu rừng nhiệt đới ẩm ở châu Á.

Dương xỉ là loài cây thân thảo, xanh quanh năm, sống lâu năm, chiều cao khoảng 20-50cm, có thân bò lan hoặc thân rễ với phần cuống lá chứa nhiều vảy màu nâu cứng , có củ chứa thịt.

Tác dụng của cây dương xỉ

Nếu bạn hỏi cây dương xỉ có tác dụng gì thì tôi xin trả lời là tác dụng cây dương xỉ có rất nhiều. Với ngoại hình đẹp, kích thước vừa phải lại có sức sống tốt, cây dương xỉ là loại cây phù hợp để trồng làm cảnh. Giống như một số loại cây như lưỡi hổ hay phú quý, cây dương xỉ cảnh có tác dụng thanh lọc không khí. Các loại khí độc như asen, xylen,…hay các loại bức xạ điện từ từ các thiết bị máy tính đều có thể bị cây hấp thụ. Vì vậy trồng một cây dương xỉ trong nhà làm cảnh là một lựa chọn không tồi, đặc biệt là cho dân văn phòng.

Hơn nữa, vượt trội so với các loại cây khác, cây dương xỉ trồng trong nhà rất dễ sống và dễ chăm sóc. Bạn không cần quá lo lắng về việc cây dễ chết như một số cây cảnh khác. Màu xanh và các lá mọc dày khiến cây nhìn rất mát mắt và xinh xắn. Cây có sức sống cao nên có thể trồng cả thủy sinh và chậu đất trưng bày ở mọi vị trí trong nhà mà bạn muốn. Bạn cũng có thể trồng xương xỉ trong bể cá, khe nước hay hòn non bộ cũng rất đẹp mà tự nhiên hài hòa.

Hẳn các bạn khó tin rằng cây dương xỉ chữa bệnh gì được nhưng dương xỉ lại là một loại dược liệu có nhiều tác dụng trong đông y. Dương xỉ là loài cây ăn được và khá giàu dinh dưỡng. Các loại protein, chất khoáng, chất béo, vitamin và nhiều chất đều có trong cây dương xỉ. Các loại vi khuẩn có lợi trong cây giúp chống viêm, thanh nhiệt và giải độc đối với con người. Vì vậy ta có thể ăn lá cây dương xỉ để chống viêm, trị lở loét, mẩn ngứa.

Xương xỉ xay thành bột cũng được xem như một loại thuốc bôi ngoài chữa bệnh ngoài da như lang ben, vảy nến hay bạch biến. Các chiết xuất dương xỉ được điều chế thành dạng kem bôi da giúp ngăn chặn tia cực tím và chống ung thư da. Thường xuyên bôi cây dương xỉ lên da sẽ giúp bạn có một làn da căng mịn và phòng ngừa nguy cơ lão hóa.

Chứa nhiều thành phần dinh dưỡng và vi sinh vật tốt cho con người, dương xỉ được xem như một loại thuốc bổ chữa một số bệnh. Các bệnh của đàn ông như đau lưng, mỏi gối, di tinh hay tiểu són do thận hư đều có thể chữa khỏi với thuốc sắc từ cây dương xỉ. Công dụng của cây dương xỉ quả là thật nhiều phải không nào.

Các loại cây dương xỉ

Cây dương xỉ cổ đại: Còn có tên gọi khác là cây dương xỉ thân gỗ, cây có lịch sử đến 300 triệu năm. Cây dương xỉ cổ đại không bị tuyệt chủng nhưng số lượng đã giảm nhiều và  sống tại các khu rừng nhiệt đới ngày nay.cây dương xỉ thân gỗ

Cây có thể cao tới 20m, các lá dài tới 4m. Với ngoại hình đẹp và có giá trị lịch sử, người ta thường trồng cây dương xỉ cổ đại trước nhà để làm cảnh.

Cây dương xỉ mỹ: Cây dương xỉ mỹ có lá nhỏ, màu xanh sáng rất đẹp nên là loại cây cảnh được ưa chuộng. Cây có kích thước nhỏ giống như đa số các loại cây dương xỉ khác. Người ta thường dùng cây dương xỉ mỹ làm cây để bàn hay cây bonsai.

Ngoài ra còn một số loại được trồng nhiều như dương xỉ Pháp, dương xỉ Thái Lan có các đặc điểm giống như đặc điểm chung các loại cây thuộc họ dương xỉ khá được ưa chuộng tại Việt Nam.

Ý nghĩa cây Dương Xỉ trong phong thủy

Thực chất mỗi đồ vật , mỗi vị trí đều mang một ý nghĩa phong thủy khác nhau . Đối với cây dương xỉ nó là sự kết nối quan trọng và rất tích cực giữa chúng và không gian của bạn. Nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong không gian nhỏ, đặc biệt là trong các căn hộ và các không gian thành phố. Với sự thiếu tự nhiên ,khô cứng được tìm thấy trong các khu nhà  bê tông ,có dương xỉ trong không gian của bạn không chỉ về thể chất duy trì cuộc sống, tạo một sự kết nối với thiên nhiên. Ngoài ra dương xỉ là cây có tác dụng điều hòa không khí ,thanh lộc những khí thải ,bụi bẩn độc hại.Vậy như bạn, bạn có nên chọn cây dương xỉ không ?

Ngoài ý nghĩa cây dương xỉ trong phong thủy chúng được coi như một phương thuốc chữa bệnh tự nhiên tuyệt vời cho dị ứng gây ra bởi các chất ô nhiễm và độc tố từ không khí hoặc từ các loại vải tổng hợp, đồ nội thất, ghế, giường gối, …. Trong thực tế có một số cây dương xỉ đã được khoa học chứng minh để hút các chất độc và các chất ô nhiễm từ môi trường xung quanh. Nó thực sự làm sạch không gian của bạn một cách tự nhiên.

Vị trí tốt nhất cho dương xỉ trong một văn phòng là: Trong các góc tay trái và bên phải phía trên của căn phòng từ cửa ra vào : Ở bên phải trên bàn của bạn nếu bạn là người thuận tay phải và bên trái của bạn của bạn nếu bạn thuận tay trái

Cây là một ý tưởng tuyệt vời để kết hợp vào cuộc sống và không gian làm việc. Không chỉ cây mang lại sự sống cho những không gian.Với ý nghĩa cây dương xỉ trong phong thủynó giúp chúng ta tập trung năng lượng cho cả ngày như chính sức sống của cây vậy. Mỗi củ dương xỉ nảy mầm là tượng trưng cho sự nảy mầm của tri thức

Khi trồng cây trong điều kiện đầy đủ ánh sáng và nước cây sẽ mọc thẳng ,cành lá xanh mượt ,nó đại diện cho sự ngay thẳng của bạn ,sức sống dẻo dai với thời gian

Cây dương xỉ rất dễ trồng. Nó có thể phát triển trong ánh nắng mặt trời đầy đủ hoặc bóng râm một phần. Mặc dù nó là chịu hạn tốt nhưng dương xỉ thích được giữ ẩm và phát triển mạnh trong đất ẩm. Nó có thể phát triển ở hầu hết các loại đất, trừ cát bãi biển.

Người  ta thường trồng dương xỉ tại phòng , hành lang ,cửa sổ hay trang trí tại các quán cafe…

Cách trồng và chăm sóc Cây Dương Xỉ

Cách trồng cây dương xỉ

Là loại cây dễ trồng và mọc hoang tại nhiều nơi trong tự nhiên, cách trồng cây dương xỉ thường khá đơn giản. Bạn có thể chọn cách trồng cây dương xỉ trong nhà trong chậu đất hoặc trồng cây dương xỉ thủy sinh.

Nếu trồng cây dương xỉ thủy sinh, bạn chỉ cần cố định cây con với đá cuội rồi đổ nước dinh dưỡng vào bình. Sau khi để cây dưới bóng râm với nhiệt độ từ 15-35 độ C, cây con sẽ sẽ lan rễ và phát triển tốt sau hai tháng.

Khi bạn chọn trồng cây trên đất, hãy trộn phân mùn, trấu với đất bằng tỉ lệ thích hợp. Sau khi trồng cây vào chậu, hãy tưới nước thường xuyên để đảm bảo độ ẩm cho đất. Lưu ý tránh tưới quá nhiều khiến cây bị úng.

Cách chăm sóc cây dương xỉ

Cây dương xỉ dễ sống nhưng nếu không chú ý chăm sóc, cây vẫn có thể sẽ chết. Hãy làm theo những hướng dẫn sau đây:

Ánh sáng

Cây dương xỉ là loài cây ưa bóng râm, vì thế không nên đặt cây quá lâu tại vị trí nhiều nắng như ban công hay sân trống. Nên đặt cây tại vị trí râm mát, nếu cần hãy đưa cây ra ngoài nắng mỗi tháng một lần để cây quang hợp tốt.chậu cây dương xỉ

Tưới nước

Cây dương xỉ trồng trong nước thì bạn chỉ cần thay nước hàng tháng cho cây. Còn nếu trồng cây trong chậu đất, bạn nên tưới nước cho cây mỗi ngày để đảm bảo độ ẩm. Nhưng chú ý lượng nước tưới đủ ẩm chứ không làm úng cây.

Dinh dưỡng

Trồng cây dương xỉ trong chậu đất cần bón phân khoảng 2-3 tháng một lần để cây đủ dinh dưỡng. Đối với cây thủy sinh, đơn giản chỉ cần bổ sung dịch dinh dưỡng vào bình nước là được.

Đặc Điểm, Công Dụng, Cách Trồng Và Chăm Sóc

Tìm hiểu cây dừa là cây gì?

Dừa là một loại cây được tìm thấy nhiều ở những vùng nhiệt đới ẩm và phát triển rất tốt trên đất pha cát với khả năng chống chịu mặn tốt. Đặc biệt, nó là loài cây rất ưa thích các nơi sinh sống có nhiều nắng và lượng mưa trung bình cao. Điều này là lý giải tại sao cây dừa là loại cây thường được trồng rất nhiều ở các bãi biển.

Tìm hiểu công dụng của cây dừa theo từng bộ phận

Cây Dừa rất thân quen và hữu dụng đối với đời sống con người. Hầu như tất cả các bộ phận của cây đều có ích như dùng làm nhà, làm các đồ thủ công mỹ nghệ, đồ gia dụng như đũa, bàn, kệ, dệt thảm,..

 Xơ dừa, vỏ dừa

Xơ dừa là lớp vỏ bọc bên ngoài của trái dừa, bao quanh lớp vỏ dừa, xơ dừa thường được sử dụng để làm nguyên liệu đốt như than củi bởi nó có khả năng bắt lửa rất tốt và cháy rất lâu. Ngoài ra, khói của xơ dừa thường được những người hay đi biển hoặc đi rừng dùng làm nguyên liệu để xua đuổi muỗi và côn trùng gây hại rất an toàn và hiệu quả.

Không chỉ vậy, xơ dừa còn là nguyên liệu rất tốt để sản xuất một số mặt hàng gia dụng như: dây thừng, bàn chải, thảm hay ruột gối, đệm,… đây chính là một công dụng của cây dừa rất tuyệt vời trong cuộc sống của chúng ta.

Gáo dừa

Giống như xơ dừa, gáo dừa cũng là nguyên liệu đốt cháy rất tốt và rất được ưa thích bởi khả năng cháy và bắt lửa. Không chỉ vậy, nó còn là nguyên liệu dùng để sản xuất than gáo dừa, than hoạt tính gáo dừa có khả năng hấp thụ cực kỳ tốt và được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực lọc nước, khử mùi, hút ẩm,..

Ngoài ra, gáo dừa cũng được sử dụng để làm bát, gáo múc nước hay những đồ thủ công mỹ nghệ có tính thẩm mỹ và giá trị kinh tế rất cao. Trong âm nhạc, gáo dừa cũng là nguyên liệu để sản xuất một số loại nhạc cụ như trống, đàn gáo dừa,.. tạo ra những âm thanh tựa như tiếng vó ngựa.

Cơm dừa

Cơm dừa (cùi dừa) là phần màu trắng ở bên trong vỏ dừa, phần cơm dừa này rất bổ dưỡng có thể dùng để ăn trực tiếp hoặc để sản xuất nước cốt dừa (sữa dừa) có hương vị rất béo và ngậy.

Bên cạnh đó, cùi dừa khô còn được dùng làm nguyên liệu để sản xuất dầu dừa và mứt trong mỗi dịp Tết Nguyên Đán tại Việt Nam. Hoặc được sử dụng để chế biến các món ăn hàng ngày như: kho thịt, ăn kèm với bánh đa… tạo nên hương vị rất ngon.

Nước dừa

Nước dừa là một loại đồ uống giải khát, giàu chất dinh dưỡng có tác dụng giải nhiệt, thải độc được nhiều người ưa thích trong mùa hè. Đặc biệt, uống nước dừa thường xuyên còn giúp chị em phụ nữ mang thai có nhiều nước ối hỗ trợ sinh con dễ dàng hơn.

Trong nước dừa chứa rất nhiều những chất như đường, đạm, các chất chống oxi hóa, vitamin và dưỡng chất cần thiết cho cơ thể. Tuy nhiên, hàm lượng Kali trong nước dừa cũng rất dồi dào nên các chuyên gia khuyến cáo chúng ta không nên uống quá nhiều nước dừa trong một ngày và hạn chế uống khi lao động nặng, mồ hôi ra nhiều.

Lá dừa

Lá dừa là nguyên liệu được sử dụng để làm một số đồ dùng trong gia đình như chổi, giỏ, thảm,.. Ngoài ra, lá dừa còn có công dụng trong việc lớp mái nhà hay ken với nhau thành phên để che thay cho tường nhà được sử dụng rất nhiều ở những vùng Tây Nam Bộ của nước ta.

Bên cạnh đó, các gân lá có độ cứng cao nên thường được dùng để làm que xiên nướng thịt trong ẩm thực mang lại tính thẩm mỹ cao. Ngoài ra, các chồi non trên ngọn cây dừa cũng có thể ăn được và thường được sử dụng để làm rau ăn. Tuy nhiên, việc khai thác những chồi non này rất dễ khiến cây bị chết nên không được khuyến khích.

Thân cây dừa

Những thân cây dừa sau khi thu hoạch sẽ được gọi là cừ dừa. Cừ dừa là loại được dùng rất nhiều trong các công trình thủy lợi vì có đặc tính ưa nước và bền, chắc nên dùng để gia cố, kè mương, đê, đập,…

Những thân dừa cao lớn hiện nay đang rất ưa thích để làm đồ nội thất trang trí hay thậm trí là để dựng nhà ở. Gỗ dừa hiện nay được xem như là loại gỗ phổ biến thay thế các loại gỗ quý hiếm. Ngoài ra, phần củ hũ dừa bên trên thân cây bao gồm phần chồi non chưa nhú ra bên ngoài của lá và cuống lá cũng là món ăn rất được ưa thích.

Rễ cây dừa

Tưởng chừng rễ cây là phần bỏ đi nhưng không, rễ cây dừa cũng là một nguyên liệu rất hữu ích. Nó có thể được dùng làm thuốc nhuộm bằng cách đập dập rễ thành từng miếng rồi đun sôi để tạo màu. Ngoài ra, rễ dừa còn là nguyên liệu dùng để sản xuất một số loại thuốc trị bệnh lỵ và tiêu chảy.

Lợi ích của cây dừa đối với sức khỏe con người

Ngoài những công dụng của cây dừa trong cuộc sống, dừa còn có một vài lợi ích đối với sức khỏe. Theo đông y, nước dừa thường ngọt ấm, không độc, giúp tăng cường khí lực, giải nhiệt, cầm máu nên rất tốt khi cảm nắng, thổ huyết,… Ví dụ như:

– Khản tiếng: Dùng một cốc dừa non, rau má 8g. Sau đó lấy rau má vắt nước cốt pha với nước dừa rồi uống.

– Kiết lỵ cấp tính: Rau má 50g, nước dừa tươi 1 quả. Pha như cách trên.

– Nôn mửa: Nước dừa 2 chén, rượu nho 1 chén, nước gừng 10 giọt trộn đều để uống

– Viêm thận phù nề: Nước dừa, nước rễ cỏ tranh, nước rễ cỏ lau mỗi thứ 30g. Trộn đều uống.

Ngoài ra, nước dừa còn có tác dụng khử độc hại của rượu, bôi trơn các khớp, trị chứng cam, suy dinh dưỡng, hay hoại tử ruột do bệnh thương hàn,…

Kỹ thuật trồng cây dừa

Chọn đất

Dừa là cây rất dễ trồng, không kén đất, cây có thể sống và cho năng suất tốt trên đất có độ cao cách mặt biển dưới 600 mét; nhưng thích hợp nhất là trên đất phù sa, đất cát pha, đất có hiều hữu cơ và đặc biết đất có hàm lượng kali dồi dào, tầng canh tác dày ít nhất là 0,5 mét.

Chuẩn bị đất trồng

* Đối với đất ruộng: Trước khi lên liếp trồng dừa, nên gom lớp đất mặt ruộng dùng để đấp mô trồng với kích thước mô: chiều rộng có đường kính nhỏ nhất 1 mét, chiều cao tùy vào địa hình của đỉnh triều cường hàng năm nhưng sao cho đỉnh mô cách đỉnh triều cường ít nhất 0,5 mét. Sau đó tiến hành lên liếp hoặc để trồng dừa xen lúa khoảng 2 năm sau lên liếp cũng tốt, mục đích là lấy ngắn nuôi dài.

* Đối với đất vườn cũ: Trước khi trồng nên gom lớp đất mặt để vun mô nếu đất thấp thì ta vun cao như đất ruộng, nếu liếp cao thì không cần vun cao mà làm sao cho không bị úng trong mùa mưa là đạt, riêng kích cỡ mô nên giống như đất ruộng.

* Đối với đất miền Đông Nam bộ: Trước khi trồng cần phải đào hố với kích thước 0,6 m x 0,6 m x 0,4 m mục đích là tiết kiệm nước cho cây hấp thu.

Khoảng cách trồng

Theo kinh nghiệm thực tế của nông dân trồng dừa ở Bến Tre, đối với dừa xiêm trồng 5m x 5m và trồng theo kiểu nanh sấu hoặc hình vuông. Nhưng theo các nhà chuyên môn, để trồng dừa xiêm cho năng suất cao nên trồng với khoảng cách 5m x 6m và trồng theo kiểu hình nanh sấu, trồng theo kiểu này thì tạo điều kiện tốt cho cây hấp thu đầy đủ ánh sáng mặt trời để quang hợp tạo ra hàm lượng chất hữu cơ.

Bón lót

Sau khi đã chuẩn bị mô và hố trồng xong, trước khi xuống giống khoảng 15-20 ngày tiến hành bón lót mỗi mô: phân hữu cơ khoảng 20-30 kg+100g super lân+200gram kali, trộn đều và lấp kín lại bằng mặt mô.

Đặt cây con

Sau khi đã chuẩn bị xong cây giống và đất trồng, tiến hành đặt cây con, trên mô hoặc hố trồng; đầu tiên đào một hố tương đương với kích cỡ của trái dừa giống; cây giống nếu ươm trong bầu nylon thì dùng dao bén cắt đáy bầu, sau đó đặt bầu vào hố đã đào, kéo túi bầu lên khỏi thân cây, cuối cùng lấp đất lại cho bít trái là đạt, nếu cây giống cao quá 0.8 mét thì ta nên cắm cây cột giữ chặt tránh gió làm lung lay gốc ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây.

Chú ý không nên đặt trái quá sâu vì như thế cây sẽ chậm phát triển, cũng không nên đặt trái quá cạn, tức là lấp đất không bít trái thì sau này gốc cây sẽ phình to.

Đối với giống ươm ngoài đất, khi bứng cây lên nên xử lý trái trước khi trồng bằng cách là cắt tất cả rễ cho sát trái, mục đích là kích thích cho cây phát triển bộ rễ mới nhanh hơn, nếu để nguyên không cắt rễ thì phải chờ thời gian cho bộ rễ cũ thối đi, cây mới phát triển bộ rễ mới; thời gian này kéo dài ít nhất 20-30 ngày và nguy hiểm hơn nữa đây là môi trường thuận lợi cho các loại nấm bệnh tấn công rễ non vừa phát triển. Các phần còn lại thì thao tác giống như dừa ươm trong bầu.

Kỹ thuật chăm sóc cây dừa

Thời kỳ kiến thiết cơ bản (cây từ 1-3 năm tuổi)

Cây con sau khi trồng rất cần nước, nếu giai đoạn này thiếu nước cây sẽ chết. Vì vậy, để giữ đủ ẩm cho cây ta nên dùng rơm, rạ, cỏ khô tủ gốc cây trong mùa nắng; khoảng 2-3 ngày tưới cây 1 lần tùy vào ẩm độ ở gốc. Năm đầu tiên nên bón cho cây mỗi gốc 0.5kg phân NPK: 15-15-15 và chia làm 02 lần bón vào đầu và cuối mùa mưa. Cách bón là xới nhẹ quanh gốc và bón rải đều sau đó cào đất lấp phân lại và tưới nước cho tan phân để cây dễ hấp thu. Giai đoạn này cần quan tâm đến bọ cánh cứng (bọ dừa) tấn công đọt non làm cây chậm phát triển, nếu nặng có thể chết cây.

Bắt đầu từ năm thứ 2, hằng năm nên đắp thêm đất thêm vào mô để tạo điều kiện cho rễ phát triển (trên đất ruộng), hoặc bồi bùn mỗi năm 1 lần vào đầu mùa nắng (đất liếp vườn cũ). Phân bón cũng có thể sử dụng NPK: 15-15-15 nhưng liều lượng mỗi gốc 0,75kg và chia làm 2 lần bón vào đầu và cuối mùa mưa. Năm thứ ba cũng chăm sóc như năm thứ hai nhưng lượng phân bón tăng lên 1kg/gốc. Giai đoạn này nếu cây dừa được chăm sóc tốt, đúng quy trình kỹ thuật thì sau 26-28 tháng cây sẽ cho hoa đầu tiên.

Chú ý: ở giai đoạn này cần lưu ý kiến vương thường hay tấn công cây làm cho đọt non bị cong queo, nếu chúng tấn công trúng đỉnh sinh trưởng thì cây sẽ chết, những vết đục của kiến vương là nơi tốt nhất để đuông dừa tấn công. Vì vậy, ở giai đoạn này nên chọn những cây ngắn ngày như dưa leo, cà chua, đậu búng, so đũa… trồng xen vào vườn dừa để lấy ngắn nuôi dài và đặc biệt các cây trồng xen này sẽ là môi trường ngăn chặn sự tấn công của kiến vương và đuông dừa.

Thời kỳ kinh doanh

Giai đoạn này cây đã cho trái ổn định và bắt đầu đi vào thời kỳ kinh doanh vì thế quá trình chăm sóc cây cần phải tuân thủ đúng quy trình hướng dẫn để cây cho năng suất cao và ổn định.

* Chăm sóc: hàng năm nên bồi bùn cho cây 1 lần vào đầu mùa nắng, hoặc nếu có điều kiện nên bón cho cây từ 30-50 kg phân hữu cơ hoai mục/gốc, tỉa dần cây trồng xen và giữ cỏ dại hợp lý sao cho cây có đầy đủ ánh sáng để quang hợp, tránh việc để cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng với dừa hay dây leo chằng chịt trên cây làm cây giảm quang hợp.

* Bón phân: theo các tài liệu nghiên cứu của Viện dầu Thực vật Việt Nam và Tung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư tỉnh Bến Tre thì đối với cây dừa vào thời kỳ kinh doanh cần bón phân với công thức theo tỷ lệ urê-Super lân-Cloruakali: 0,8kg-1.5kg-1,5kg/cây/năm và được chia làm 2 lần bón trong năm, đầu và cuối mùa mưa.

Cách bón: mỗi lần bón đào rảnh 1/2 vòng tròn gốc và cách gốc 1,5-2 mét, sâu 0,15-0,2, rộng 0,2 mét sau đó bón phân vào rảnh đã đào rồi lấp đất lại, cuối cùng tưới nước cho phân tan.

Trong giai đoạn cây dừa khoảng 4-6 tuổi, hàng năm nên tổng vệ sinh cây từ 1-2 lần như: dọn dẹp tất cả các nhen, bông mo khô, tàu dừa khô dính lù xù trên cây, rọc các nhen còn dính quá chặt trên đọt để giúp lá bung nhanh, cây phát triển tốt hơn; ngoài ra, dọn dẹp sạch nhen, bông mo, tàu dừa khô cũng là một phương pháp phòng ngừa kiến vương tấn công dừa rất hiệu quả, song song đó ngừa luôn cả đuông dừa.

Phòng trừ sâu bệnh cho cây dừa

Bọ dừa

* Gây hại:

– Thành trùng và ấu trùng đều gây hại trên lá dừa non chưa bung ra bằng cách cạp biểu bì trên mặt lá theo từng hàng song song với gân chính, những vết cắn phá thường hẹp có màu nâu, sau đó khô, héo, cong queo, giảm khả năng quang hợp. Nếu trên cây có từ 8 lá trở lên bị hại thì sẽ làm giảm năng suất, nặng hơn có thể làm cây chết.

– Phòng trị:

+ Cắt và đốt bỏ các đọt non bị hại nặng để tránh lây lan cây khác.

+ Sử dụng ong ký sinh Tetretichus Brontispae, nấm ký sinh Metrhizium anisopliae.

+ Sử dụng thuốc hóa học như: Fastac, Sumicidine, Actara, … liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì, phun đều lên bó đọt non của cây. Tuy nhiên, hiện nay ở Bến Tre sử dụng phương pháp sinh học là hiệu quả và kinh tế nhất (thả ong ký sinh).

Kiến vương

+ Gây hại:

Chỉ có thành trùng phá hại dừa, chúng đục phá phần mô mềm ở cuối bẹ lá, cắn phá đọt non, hoa dừa lúc chưa trổ làm cho lá bị rách, hoa bị hư, đỉnh sinh trưởng phát triển cong queo, nếu chúng ăn hết đỉnh sinh trưởng cây sẽ chết. Các vết đục của kiến vương là cửa ngõ cho các loại sâu bệnh khác tấn công như bệnh thối đọt dừa hay để đuông dừa đẻ trúng  gây hại. Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Thực nghiệm dừa Đồng Gò, trong tháng thời điểm gây hại nặng nhất của kiến vương là vào những đêm trăng sáng và trên những vườn dừa không có trồng xen.

+ Phòng trị:

– Khi cây dừa khoảng 2 năm tuổi trở lên là thời điểm thích hợp nhất cho kiến vương tấn công. Như vậy, vào giai đoạn này cần phải thăm vườn thường xuyên để phát hiện vết đục của kiến vương, sau đó dùng móc sắt bắt, cuối cùng dùng đất sét trám bít lổ đục để phòng ngừa các loại khác như nấm bệnh hay đuông xâm nhập.

– Không để rơm, rạ mục xung quanh vườn vì đây là môi trường tốt để kiến vương đẻ trứng và phát triển.

– Theo khuyến cáo của các nhà khoa học, để hạn chế việc gây hại của kiến vương ở các vườn dừa trẻ nên trồng xen các cây ngắn ngày, cây họ đậu, cây ca cao, …nhằm hạn chế tầm bay của kiếng vương, giảm khả năng gây hại của chúng rất lớn.

– Sử dụng phương pháp hóa học để phòng trị kiến vương tỏ ra hiệu quả không cao vì đây là loài côn trùng có thể di chuyển rất xa nên rải thuốc không hiệu quả; vì vậy nên áp dụng kỹ thuật canh tác là hiệu quả nhất.

Đuông dừa

+ Gây hại:

Ngược với kiến vương, đuông dừa chỉ gây hại ở giai đoạn ấu trùng. Thành trùng đẻ trứng vào các lổ đục của kiến vương, các vết thương trên cây và đặc biệt hiện nay chúng còn đẻ trứng dưới gốc dừa tấn công phần gốc. Quá trình gây hại của đuông dừa rất nguy hiểm vì rất khó phát hiện, khi phát hiện được thì khó có khả năng để cứu cây khỏi khỏi chết.

+ Phòng trị:

Đối với đuông, phòng trị cũng như kiến vương là phải thăm vườn thường xuyên để phát hiện sớm khi ấu trung còn ở tuổi 1, tuổi 2 dùng dao hoạc đục sắt khoét lổ đục để bắt ấu trùng, sau đó dùng thuốc hạt như Basudin 3G + nước vôi tươi lên lổ đã khoét nhằm phòng ngừa các loại nấm bệnh, côn trùng khác tấn công. Sử dụng biện pháp hóa học hiệu quả không cao, chỉ nên áp dụng kỹ thuất canh tác để phòng là hiệu quả nhất như: hạn chế tối đa việc gây vết thương trên thân dừa hoặc sự gây hại của kiến vương, tăng cường xen canh hợp lý cũng là điều kiện tốt để làm giảm khả năng gây hại của đuông.

Bọ xít trái Amblypelta sp

+ Gây hại: đây là đối gây ra hiện tương rụng trái non và dừa mủ, cả thành trùng và ấu trung đều chích hút ở nụ hoa, trái non và tiết ra độc tố vào vết chích, nếu chích vào giai đoạn trái vừa thụ phấn (còn nhỏ) sẽ làm cho trái non rụng đi, nếu chích vào giai đoạn trái lớn hơn (khoảng 1 tháng tuổi trở lên) thì trái có khả năng không rụng mà vùng mô xung quanh vết chích sẽ bị hoại thư sau này thành trái dừa bị sẹo nhăn nheo hay chảy mủ ra ngoài mà nông dân gọi là dừa mủ.

+ Phòng trị: vệ sinh vườn cho thông thoáng, trồng đúng khoảng cách, không trồng quá dày hiệu quả cao nhất là nên nuôi kiến vàng trong vườn dừa vì đây là thiên địch có thể tấn công bọ xít.

Chuột dừa

+ Gây hại: chuột là loài gặm nhắm có đặc tính rất đặc biệt hơn các loài động vật khác, răng cửa của chúng cứ phát triển dài mãi mãi mà không bao giờ dùng lại, vì thế chúng cắn phá dừa nhằm mục đích để răng mòn không mọc ra dài được, thứ hai là để ăn cơm dừa và uống nước. Trái dừa bị chuột khoét sẽ rụng đi khi đã bị chúng cắn thủng gáo, ở Đồng bằng sông Cửu long, vào thời điểm triều cường ngoài đồng nước ngập sâu, chuột bắt đầu vào các vườn dừa cắn phá làm thiệt hại đến năng suất khá lớn.

+ Phòng trị: thông thường ở Bến tre người dân trồng dừa vào mùa nước lũ là dọn vệ sinh vườn và cây dừa, thăm vườn thường xuyên khi phát hiện trên cây có ổ chuột tiến hành săn bắt hay làm bẩy để diệt chuột nhưng cần phải thay đổi mồi thương xuyên mới có hiệu quả. Có một phương pháp rất cổ nhưng lại rất hiệu quả đối với các vườn dừa trồng đúng khoảng cách, bảo đảm cây không giao tán nhau bằng cách là bọc thiếc quanh thân cây làm cho chuột không leo lên cây được vì nơi bọc thiết quá trơn, chuột không thể bám được để leo lên. Như vậy sẽ bảo vệ được các trái dừa ở trên cây.

Bệnh đốm lá

+ Triệu chứng: trên lá mầm bệnh xuất hiện từ chóp lá trở vào, đầu tiên là những đốm nhỏ màu nâu vàng hình bầu dục, sau đó đốm bệnh lớn dần có màu nâu, tâm vết bệnh màu xám tro, nhiều vết liên kết lại làm cho lá bị cháy. Bệnh thường xuất hiện nhiều ở giai đoạn vườn ươm và những vườn trồng dày.

+ Tác nhân: do nấm Pestalozziap palmarum gây ra.

+ Phòng trị:

– Bố trí khoảng cách trồng hợp lý.

– Nếu bệnh nặng nên phun thuốc hóa học như: Ridomyl, Novral,… liều lượng theo khuyến cáo trên bao bì.

Bệnh thối đọt

+ Triệu chứng: đầu tiên các lá non trên đọt có dấu hiệu mất màu xanh bình thường, sau đó vàng, cuối cùng khô và trên đọt ta nghe có mùi hôi, thối; các lá già phía dưới cũng dần dần vàng, khô và rụng đi; cây chết.

+ Tác nhân: do nấm Phytopthora Palmivora Bult gây ra

+ Phòng trị: thăm vườn thường xuyên để sớm phát hiện cây bị nhiễm bệnh, vì từ khi nấm xâm nhập vào đọt cây đến lúc chết đọt thời gian từ 3-5 tháng. như vậy khi phát hiện cây bị nhiễm bệnh nhẹ, tiến hành phun ngay lên đọt bằng thuốc Ridomyl liều lượng khoảng 30g/bình 8 lít và phun liên tục 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày. Nếu trong vườn có cây bị bệnh chết ta nên gom tất cả các phần bệnh đem đốt sạch để tránh nấm bệnh lây qua các cây dừa khác.

Bệnh nứt rụng trái non

+ Nguyên nhân:

– Đất bị nhiễm phèn, mặn làm hư bộ rễ của cây ảnh hưởng đến quá trình nuôi trái, như vậy trái sẽ rụng trong suốt mùa khô hay sau những cơn mưa đầu mùa.

– Trái rụng trong mùa mưa dầm và thương bị nứt trái có thể là do đặc tính di truyền của cây. Thông thường đây là những cây có trái to, vỏ mỏng, bón quá thừa đạm, thiếu kali, rễ phát triển mạnh nên cây hút nhiều nước, từ đó dễ làm cho trái bị nứt và rụng, có thể rụng cả quày hay chỉ rụng 2/3 quày còn lại 1/3 quày dính trên cây cho đến thu hoạch.

– Rụng trái do nấm: khi trái rụng ta thấy lá đài và nơi tiếp giáp giữa cuống trái với lá đài (mầu dừa) có màu nâu đen, thối mềm.

– Rụng do vi khuẩn: khi trái rụng quan sát thấy trên mầu trái dừa có mủ và có một số lá đài vẫn còn xanh.

– Rụng do di truyền: do chọn giống trên cây dừa có bệnh nứt rụng trái non để trồng.

+ Phòng trị: dừa bị nứt rụng trái non do rất nhiều nguyên nhân nên phương pháp phòng trị ta cần áp dụng biện pháp bao dây bằng cách là ở những vùng đất phèn mặn hàng năm ta nên bón cho mỗi gốc từ 3-5kg vôi bột; song song đó, ở những vùng đất thông thường khác, nếu cây bị nứt rụng trái non ta nên áp dụng biện pháp phòng trị sau: điều chỉnh lại công thức phân bón tức là giảm urê, tăng kali; vào mùa nước lũ hay mưa dầm dùng leng cắt bớt rễ cây để giảm khả năng hút nước của rễ; trên thân đục một lổ có hình tam giác đều, cạnh khoảng 10 cm, đỉnh quay ngược xuống gốc, sâu khoảng 15 cm, sau đó dùng muối ăn (NaCl) trét lên vết đục nhằm giảm lượng nước đưa lên cây và cung cấp một phần clo cho cây.

Nếu phát hiện trái rụng có những vết do vi khuẩn hay nấm bệnh tấn công thì khi cây nở hoa tiến hành phun các loại thuốc trừ nấm trực tiếp lên buồng hoa lúc hoa chưa nở như: Mancozeb, Ridomyl liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì; hoặc các loại thuốc trừ vi khuẩn như: Đồng đỏ hay Starner liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì.

Giới thiệu về Xưởng Tre Trúc

Hiện nay, trên thị trường có khá nhiều đơn vị thiết kế thi công, xây dựng nhà bằng Tre Trúc. Tuy nhiên, thiết kế thi công tre trúc lại là một khía cạnh khác từ nguyên vật liệu, yếu tố thẩm mỹ, kinh nghiệm, khả năng kết hợp, v.v. không phải kiến trúc sư, đơn vị nào cũng có thể thực thi được.

Xưởng Tre Trúc với hơn 10 năm kinh nghiệm trong việc cung cấp, phân phối nguyên liệu tre trúc đến thiết kế, xây dựng nhà tre, mành tre tại TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Thuận, Vũng Tàu, Kiên Giang, v.v. với các khu resort nghỉ dưỡng, khu du lịch nghỉ mát, homestay độc lạ, quán ăn, quán cafe sân vườn trang trí tre trúc, v.v.

Bên cạnh đó, Xưởng Tre Trúc cung cấp các sản phẩm từ tre trúc như: cây tre trúc nguyên liệu, mê bồ, cót ép, bình phong, quang gánh, lá cỏ tranh, v.v.

Đặc Điểm, Ý Nghĩa Và Cách Trồng Chăm Sóc Hoa Lan

Tổng quan về Hoa Lan

1. Thông tin cơ bản của Hoa Lan

Họ Lan (danh pháp khoa học: Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Măng tây, lớp thực vật một lá mầm. Là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bổ nhiều nơi trên thế giới.

Đây là một loại thực vật có hoa và là một trong những họ thực vật lớn nhất trong tất cả các họ thục vật (Từ một số loài chính bằng việc lại giống trong tự nhiên và cả nhân tạo đã tạo lên nhiều loại mới, một số loài là đột biến từ các loài hiện tại)

Vườn thực vật hoàng gia Kew liệt kê 880 chi và gần 22.000 loài được chấp nhận, nhưng số lượng chính xác vẫn không rõ (có thể nhiều tới 25.000 loài)[4] do các tranh chấp phân loại học. Số lượng loài lan cao gấp 4 lần số lượng loài động vật có vú hay hơn 2 lần số lượng loài chim. Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa[5]. Khoảng 800 loài lan mới được bổ sung thêm mỗi năm. Các chi lớn nhất là Bulbophyllum (khoảng 2.000 loài), Epidendrum (khoảng 1.500 loài), Dendrobium (khoảng 1.400 loài) và Pleurothallis (khoảng 1.000 loài). Họ này cũng bao gồm chi Vanilla (chi chứa loài cây vani), Orchis (chi điển hình) và nhiều loài được trồng phổ biến như Phalaenopsis hay Cattleya.

Ngoài ra, kể từ khi du nhập các loài từ khu vực nhiệt đới vào trong thế kỷ XIX thì các nhà làm vườn châu Âu và Bắc Mỹ đã bổ sung thêm khoảng 100.000 loại cây lai ghép và giống cây trồng.

Hoa lan được người tiêu dùng ưa chuộng vì vẻ đẹp đặc sắc và các hình thức đa dạng của chúng. Cũng giống như cây lan, hoa lan hầu như có tất cả các màu trong cầu vồng và những kết hợp của các màu đó. Hoa lan nhỏ nhất chỉ bằng hạt gạo trong khi hoa lan lớn nhất có đường kính khoảng 1 m.

Đa số các loại hoa lan được bán rộng rãi trên thị trường thường không có hương thơm nhưng trong tự nhiên có rất nhiều loại hoa lan có mùi thơm đặc trưng. Vanilla là một loại hoa lan mà hương thơm được dùng trong các loại ẩm thực của thế giới và có nguồn gốc từ México; trong khi đó có các loại hoa lan tỏa ra mùi như thịt bị hỏng để hấp dẫn các côn trùng.

2. Đặc điểm của hoa lan

Đặc điểm sinh vật học cây hoa lan

1. Rễ lan

– Lan là họ sống phụ (bì sinh) bám, treo lơ lửng trên các cây thân gỗ khác. Các dạng thân gỗ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày.

– Rễ làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dưỡng, chúng được bao bỡi lớp mô hút dày, ẩm bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, do đó nó ánh lên màu xám bạc. Với lớp mô xốp đó, rễ có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc dài trên vỏ cây, lấy nước lơ lửng trên không khí.

2. Thân lan

– Lan có 2 loại thân: đa thân và đơn thân.

– Ở các loài lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành). Đó là bộ phận dự trữ nước và các chất dinh dưỡng để nuôi cây trong điều kiện khô hạn khi sống bám trên cao.

– Củ giả rất đa dạng: Hình cầu hoặc hình thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều đặn hoặc hình trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả.

– Cấu tạo củ giả: Gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy, phía ngoài là lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ, tránh sự mất nước do mặt trời hun nóng. Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó làm nhiệm vụ quang hợp.

3. Lá lan

Hầu hết các loài phong lan là cây tự dưỡng, nó phát triển đầy đủ hệ thống lá.

Hình dạng của lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước đến loại lá phiến mỏng.

Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung hay chỉ gấp lại theo gân hình chữ V.

Màu sắc lá thường xanh bóng, nhưng có trường hợp 2 mặt lá khác nhau. Thường mặt dưới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lại khảm nhiều màu sặc sỡ.

4. Hoa lan

– Hoa đối xứng qua một mặt phẳng.

– Bên ngoài có 6 cánh hoa, trong đó 3 cánh ngoài cùng là 3 cánh đài, thường có màu sắc và kích thước giống nhau. Một cánh đài nằm ở phía trên hay phía sau của hoa gọi là cánh đài lý, hai cánh đài nằm ở 2 bên gọi là cánh đài cạnh. Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa, chúng giống nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc. Cánh còn lại nằm ở phía trên hay phía dưới, có hình dạng và màu sắc khác hẳn với các cánh còn lại gọi là cánh môi. Cánh môi quyết định giá trị thẩm mỹ của hoa lan.

– Ở giữa hoa có một trụ nổi lên, đó là bộ phận sinh dục của cây, giúp cây duy trì nòi giống. Trụ gồm nhị và nhuỵ. Sau khi thụ phấn, các cánh hoa héo, cuống hoa hình thành quả lan.

5. Quả và hạt lan

– Quả lan thuộc quả nang, nở ra theo 3 – 6 đường nứt dọc. quả có dạng cải dài đến hình trụ ngắn phình ở giữa. Khi chin, quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc.

– Hạt lan rất nhiều, hạt liti. Hạt chỉ cấu tạo bỡi một lớp chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí. Hạt trưởng thành sau 2 – 18 tháng.

3. Cấu tạo của hoa lan

Hoa lan có cấu tạo từ 7 bộ phận là 3 lá đài, 3 cánh hoa và một trụ mang hoa.

1. Đài hoa

Cấu trúc của hoa lanTất cả các giống hoa lan đều có 3 lá đài, nó là bộ phận dài nhất của hoa lan và phần đài hoa của mỗi loài mỗi khác nhau. Chẳng hạn như Vanda, Ascocentrum thì phần đài hoa sẽ tròn, còn Cattleya thì đài của chúng khá nhọn. Bộ phận này thường đồng nhất nhưng cũng có khi chúng sẽ khác biệt và chúng ta sẽ nhận thấy rõ.

Người ta thường ít chú ý đến đài hoa vì nó không ảnh hưởng nhiều đến giá trị thẩm mỹ của cây. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải công nhận đào hoa cũng góp phần không nhỏ để tạo nên vẻ đẹp của cây, không không có đài hoa lan sẽ trở nên rất lạ. Phần đài hoa của lan Vandacoerulea, Vanda Onomea, Vanda Thananchai… khá to, dài và tròn nhìn rất bắt mắt. Chúng có màu sắc nổi bật và rất ấn tượng. Mỗi loài hoa lan sẽ có những màu sắc đài hoa khác nhau.

2. Cánh hoa

Cấu tạo của hoa lanNhững cánh hoa lan chính là điều cuốn hút người xem nhất khi nhìn thấy chúng, mỗi bông hoa lan sẽ có cấu trúc 3 cánh cạnh bên đài hoa. Và một trong những cánh hoa sẽ biến thành môi. Cánh hoa thường rộng hơn đài hoa và nó là bộ phận quyết định chính đến hình dáng cũng như vẻ đẹp của hoa phong lan.

Một bông hoa lan đẹp sẽ được quyết định rất nhiều bởi cánh hoa, cánh đẹp hoa sẽ đẹp, cánh xấu sẽ khiến hoa xấu đi rất nhiều. Thông thường hai cánh hoa sẽ bằng nhau nhưng đôi khi chúng cũng có sự chênh lệch thay đổi.

Masdevallia hay những loài thuộc giống Bulbophyllum có phần cánh hoa được thu lại thành các cấu trúc mà mắt thường khó có thể nhận rõ được. Với một số loài phong lan cánh hoa có hình ruy băng dài khoảng 0,6m như Paphiopedium sauterianum và Phragnipedium caudatum

3. Môi hoa

Cấu trúc hoa lan có gì đặc biếtSự biến đổi về hình dáng của môi hoa rất đa dạng và trong một hoa lan nó là bộ phận quan trọng nhất. Chúng ta sẽ không thể nào tìm được hai bông boa có môi hoa giống hoặc gần giống nhau, chúng hoàn toàn khác biệt. Và bạn có biết là kết quả của việc thụ phấn thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào cấu tạo của môi hoa hay không.

Môi hoa được tạo thành từ cánh hoa và biến dạng thành chúng, nó được đánh giá là bộ phận đẹp nhất của hoa lan và quyết định nhiều đến giá trị thẩm mỹ của cây. Ở loài lan Cattleya, Laelia, Phaius… môi hoa có hình trụ. Hay như lan Oncidium, Odontoglossum thì môi hoa sẽ phát triển ở diện tích rộng hơn.

Nếu bạn là người yêu thích lan Cattleya thì sẽ thấy môi của chúng rất đặc biệt, nó rất đẹp, cầu kỳ và có nhiều màu sắc khác nhau.

4. Trụ hoa

Đây cũng là một bộ phận tạo nên sự khác biệt cho hoa phong lan với những loài hoa khác. Trụ hoa chứa hai bộ phận sinh dục đực và cái của hoa lan. Phần cái có chất nhầy, còn phần đực là tiểu nhụy mang phấn khối. Số lượng phấn khối thường là 2,4,6,8 và nó cũng là thành phần quyết định họ của lan.

Nguồn gốc và ý nghĩa của hoa lan

1. Nguồn gốc hoa lan

Hoa lan hay còn được gọi là hoa phong lan. Có nguồn gốc từ Brazil. Tuy nhiên loài hoa này được biết đến rộng rãi từ năm 1818. Khi ấy một chuyên gia nghiên cứu về thực vật người Anh, tên là William Cattley. Đã nhận được kiện hàng là các giống thực vật từ Brazil, với một loài cây lạ dùng để bọc bên ngoài. Ông đem đi trồng thử và khi nở hoa. Loài hoa này với vẻ đẹp của mình đã khiến cho người nhìn say đắm.

Cái tên hoa lan – Orchid (Orchidaceae family – họ Lan) xuất phát từ tiếng orchis trong ngôn ngữ Hi Lạp, có nghĩa là tinh hoàn. Phần củ tươi ngầm dưới mặt đất của chúng có hình dạng giống với tinh hoàn, ít nhất đó là những gì mà nhà thực vật học người Hi Lạp đã nghĩ vào thời điểm đó.

Với vẻ đẹp kiêu sa và mùi hương quyến rũ. Loài hoa nay đã vô cùng được yêu thích bởi giới quý tộc nước Anh. Và được gọi với cái tên là Nữ hoàng của các loài hoa.

Họ phong lan phân bố từ 680 vĩ Bắc đến 560vĩ Nam, nghĩa là từ gần cực Bắc như Thuỵ Điển , Aleska, xuống tận cuối cùng ở cực nam của Ostralia. Tuy nhiên tập trung phân bố của họ này là ở trên các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt châu Mỹ và Đông nam á. Ngay ở các vùng nhiệt đới họ phong lan cũng phân bố rộng khắp từ vùng đầm lầy sát Biển Hồ qua các đồi núi thấp lên các vùng núi cao. Mặc dù đa số các loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2000 m so với mặt nước biển, song có một số ít loài sống cả ở độ cao 5000m so với mặt nước biển (ở Colômbia óc một số loài phong lan sống ở núi quanh năm tuyết phủ).

2. Ý nghĩa của hoa lan

Phong lan đã được đề cao tử thời xa xưa bởi những điều mà nó tượng trưng.

Tình yêu

Sắc đẹp

Sự sinh sản

Sự thanh khiết

Sự thấu hiểu

Sự quyến rũ

Ý nghĩa hoa lan theo màu sắc

Hoa lan tím

Đây là loài hoa được rất nhiều người yêu thích và thường được dùng làm quà tặng nhau trong các dịp quan trọng. Đối với người yêu, lan tím là gửi tới thông điệp cho một tình yêu thủy chung, son sắt. Đối với người mẹ yêu của bạn, hành động tặng hoa lan tím thể hiện sự kính trọng, lòng biết ơn đối với tình cảm yêu thương vô bờ bến mà người mẹ đã dành cho con cái.

Hoa lan vàng

Hoa lan màu vàng chính là đại diện cho sự sang trọng, quý phái, an vui, sung túc, hay sự kiên cường, mạnh mẽ, thường được sử dụng trong các buổi lễ khai trường, cưới hỏi, tốt nghiệp,… để thay những lời chúc tốt đẹp nhất đến bạn bè, đồng nghiệp hay cấp trên,…

Màu vàng của hoa lan tạo cảm giác như những ánh nắng ban mai. Khiến cho người nhìn như có chút ấm áp trong long. Với vẻ đẹp dịu dàng nhưng cũng không kém phần rực rỡ. Hoa lan vàng mang thông điệp gửi đến người nhận sự ấm áp và quan tâm.

Nếu bạn được tặng hoa lan vàng. Thì có nghĩa người tặng đang muốn truyền cho bạn một động lực và lời khích lệ đấy.

Ngoài ra trang trí hoa lan vàng trong nhà. Cũng mang ý nghĩa mong những điều may mắn cho gia đình. Hoa lan vàng thể hiện sự vương giả và no đủ.

Hoa lan vàng là món quà thích hợp nhất. Khi muốn tặng quà khai trương, tân gia. Hay tặng quà cho đối tác làm ăn của mình.

Hoa lan trắng

Với màu sắc trắng tươi sáng, hoa đã mang đến sự thanh cao, tinh kiết với tấm lòng chân thành nhất của người tặng hoa muốn dành tặng đối phương.

Những đóa hoa lan trắng toát lên vẻ đẹp trong sáng, tháng thiện, ngây thơ của các cô gái trong tình yêu, minh chứng cho một tình yêu đẹp. Đối với tình mẫu tử, lan trắng nói lên sự yêu thương, tôn trọng và gửi lòng biết ơn tới đấng sinh thành.

Hoa lan hồng

Những bông hoa hồng có chút sắc tín thường được trang trí trong đám cưới. Với ý nghĩa như một lời chúc cho cô dâu chú rể có được cuộc hôn nhân hạnh phúc. Có được nhiều điều may mắn trong cuộc sống.

Hoa lan đỏ

Hoa lan màu đỏ là loại hoa tươi thể hiện một tình yêu cháy bỏng. Như chính màu sắc rực rỡ của mình vậy.

Ngoài ra nó còn mang ý nghĩa thể hiện sự quyền lực. Và quyết tâm chinh phục mọi thử thách của con người.

Nếu một chàng trai tặng hoa lan đỏ cho người mình yêu. Thì có nghĩa là anh chàng đang theo đuổi và cố gắng chinh phục được tình yêu của mình.

Hoa lan xanh

Những bông hoa lan màu xanh khá đặc biệt. Nhờ màu sắc tươi mát và độc đáo ít loài hoa nào có được. Nên hoa lan xanh là loài hoa lan tươi được nhiều người săn đón.

Mang ý nghĩa thể hiện sự sung túc và những điều may mắn. Tặng hoa lan màu xanh cho ai đó. Có nghĩa là chúc cho người đó có được nhiều may mắn trong cuộc sống, tình yêu và công việc.

Hoa lan màu xanh cũng rất phù hợp để trang trí trong nhà. Đem lại sự thanh mát cho ngôi nhà của bạn.

Những bông hoa lan với màu sắc khác nhau. Đều mang ý nghĩa vô cùng tốt đẹp. Rất thích hợp để trang trí trong nhà. Và làm quà tặng đến người thân và những người quan trọng của bạn.

Chúng ta không thể nào bỏ qua những thông điệp mà hoa lan có thể truyền tải.

Loài hoa kỳ lạ này mang lại nét đẹp và sự duyên dáng cho bất kỳ sự kiện nào được tổ chức mà có sự góp mặt của những bông hoa được trưng bày lơ lửng trong không trung. Chúng còn tạo thêm điểm nhấn đầy đặc sắc cho những bó hoa cầm tay hoặc đơn giản là có thể được trồng trong chậu và trở thành tâm điểm trong những dịp đặc biệt. Và như vậy vẫn chưa đủ, hoa lan còn đem lại cho bầu không khí một mùi hương Vani ngọt ngào và khó quên.

Phân loại các loại hoa lan tại Việt Nam

Vì họ lan là một nhóm thực vật rất lớn nên bạn khó hình dung hết được các nhánh phân chia của chúng. Tại Việt Nam, hiện có khoảng gần 500 loại phong lan, chủ yếu sống ở một số khu vực như Đà Lạt, Tây Nguyên,…

1. Phân loại theo hệ thống thực vật học

Cây hoa Lan (Orchid sp.) thuộc họ Phong lan (Orchidaceae); bộ lan (Orchidales); lớp một lá mầm Monocotyledoneac.

Họ phong lan phân bố rộng từ 680 vĩ Bắc đến 560 vĩ Nam, từ gần Bắc cực như Thụy Điển, Aleska, xuống tận các đảo cuối cùng ở cực Nam của Oxtralia. Tuy nhiên tập trung của họ lan chủ yếu ở các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt ở châu Mỹ và Đông Nam Á.

Đến nay loài người đã biết được trên 750 chi với 25.000 loài lan tự nhiên và 75.000 loài lan do kết quả chọn lọc và lai tạo. Ở Việt Nam có hàng trăm loài lan, trong đó các loài lan sau được trồng rộng rãi trên khắp đất nước.

2. Phân loại theo đặc điểm hình thái thân cây

Căn cứ vào đặc điểm hình thái thân cây có thể chia lan làm hai nhóm:

Nhóm đơn thân: đây là nhóm chỉ tăng trưởng về chiều cao làm cho cây dài ra mãi. Nhóm đơn thân chia thành 2 nhóm phụ:

Nhóm phụ lá mọc đối (Sarcanthinae): nhóm này lá được xếp thành 2 hàng mọc đối nhau, lá trên một hàng xen kẽ với lá của hàng kia. Gồm các giống như: Vanda, Aerides, Phalaenopsis…

Nhóm phụ lá dẹp thẳng hay tròn (Campylocentrinae): Papilionanthe, Luisia…

Nhóm đa thân: đây là nhóm gồm những cây tăng trưởng liên tục. căn cứ vào cách ra hoa nhóm này chia thành 2 nhóm phụ:

Nhóm ra hoa phía trên: Cymbidium, Dendrobium, Oncidium…

Nhóm ra hoa ở đỉnh: Cattleya, Laelia, Epidendrum…

Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian như: Centropetatum, Phachyphllum, Dichaea…

3. Phân loại theo môi trường sống của lan

Căn cứ vào môi trường sống của lan cũng có thể chia thành 3 loại:

Địa lan: cây lan sống trong đất hoặc trong giá thể có đặc điểm gần như đất

Phong lan: cây lan sống trong không khí.

Bán địa lan: cây lan có thể sống trong môi trường không khí và trong đất

Việt Nam có khoảng 900-1000 giống lan phần đông do các khoa học nước ngoài tìm ra do đó đều có tên khoa học. Cũng vì vậy nhiều cây chưa có tên Việt Nam hoặc có tên nhưng do một vài người đặt ra hoặc có tên từ trước. Những tên này không được thống nhất, không phân rõ loài và giống cho nên rất phức tạp, hơn nữa lại không được văn vẻ, thanh lịch và thích hợp với loài hoa Vương giả.

4. Các loại hoa phổ biến tại Việt Nam

1. Móng rùa

Hoa nhiều lông ở cánh và lưỡi, thơm mùi hoa nhài; thường có 2 màu hoa tím và trắng, trên lưỡi hoa có các tia đỏ chạy ra từ họng. Thân rất giống primulinum -Long tu với các bớt lõm trên thân, nhưng thường thì giống này các đốt ngắn hơn, thân to hơn; thân có phủ nhiều lớp vỏ phấn thường hay bị bong tróc lớp vỏ này,cho nên được gọi là hoàng thảo vôi.

2. Long tu lào

Không chỉ có hình dáng lạ mà những bụi long tu lào còn cho ra những chùm to hoa đẹp và thơm hương. Một khi ngắm nhìn chúng từ xa bạn sẽ bị vẻ đẹp của những cánh hoa long tu lào làm cho mê hoặc lúc nào không biết.

Trong những loại lan rừng đẹp và hiếm thì giới sành chơi lan rất thích lan long tu lào. Chúng không chỉ dễ trồng mà hoa của chúng khi nở vô cùng rực rỡ. Lan long tu lào rừng thường được tìm thấy trong những cánh rừng có độ cao từ 500 đến 1000 m ở các nước như Thái Lan, Lào và cả Việt Nam. Ở nước ta loài lan này thường phân bố chủ yếu ở các tỉnh như Bảo Lộc, Lâm Đồng vv.

Lan long tu lào là loại cây thân thảo tròn thường cao khoảng từ 30-50cm. Thân được hình thành từ nhiều đốt ngắn bao bọc quanh thân thường có một lớp vỏ mỏng khá dễ bóc. Tại các đốt của thân thường có những nôt lõm sâu vào. Thân cây giai đoạn sinh trưởng khá mập và màu xanh thẫm. Lá của long tu lào thường dày xanh bóng với chiều dài khoảng 10cm. Điểm độc đáo của loại lan này chính là hoa của chúng. Hoa thường mọc ra từ những thân già lớn. Hoa mọc ra trên từng đốt một có màu trắng mỗi bông có 3 thùy với 3 sọc vàng khá đẹp. Một cây trưởng thành mỗi mùa hoa nở thường có từ 4-5 cành mỗi cành từ 15-20 bông hoa nở. Hoa thường nở vào mùa xuân đến đầu hè.

3. Hoàng phi hạc

Hoàng phi hạc là một giống phong lan mọc ở Thailand, Burma, Laos, Việt Nam. Trên các cao độ từ 200 đến 1200 m và là một giống lan cỡ lớn. Thân dài 20-60 cm, giả hành dài, đứng đôi khi hơi cong, phần gốc nhỏ hơn phần trên, có luống rãnh màu vàng óng. Lá mềm và nhọn đầu, rụng lá vào mùa Thu. Hoa to 6-7 cm, mọc 2 chiếc một ở các đốt phía gần ngọn của các thân đã trụi lá. Hoa cánh trắng đôi khi hơi hồng (có người gọi trường hợp này là hồng phi hạc), các cánh bên và lá đài xoắn, môi trắng, môi cuội như cái phễu, họng môi màu vàng chanh. Hoa nở vào khoảng tháng 2-3, lâu tàn (khoảng 20-25 ngày) và thơm nhẹ.

Hoàng phi hạc ưa nắng, không thích ẩm nhiều, trồng có thể ghép vào gỗ, trồng trong giỏ treo nhưng cần giá thể thoát nước nhanh. Trồng ghép gỗ thì nên cách xa giá thể bằng cách chèn 1 cục than củi hoặc 1 cành cây nhỏ giữa gốc lan và giá thể. Trồng chậu thì nên dùng dớn cục to đặt vào chậu trước, cho gốc lan vào rồi lấy dây buộc các cọng thân vào quang treo sao cho gốc cách giá thể 2-3 cm, khi rễ mọc sẽ vươn bám xuống, tránh gốc lan tiếp xúc trực tiếp với giá thể.

4. Hoàng Thảo kèn

Hoàng Thảo Kèn tên khoa học là Dendrobium Lituiflorum. Phong lan biểu sinh trong rừng lá rộng trên thân cây ở độ cao khoảng 300-1600m, phát triển trong nhiệt độ mát đến ấm nóng, loài Kèn còn có khả năng chịu lạnh xuống đến 1,2 º C. Chúng cần ánh sáng trung bình, không ưa nắng trực tiếp.

Thân cây dài 50-80 cm mềm mại rủ xuống, hình trụ,căng tròn, nhẳn bóng, thon nhọn dần về phía đầu ngọn, đôi khi đốt thân thắt hình thoi rất nhẹ có lá hẹp, thuôn dài, dẻo dai rụng vào mùa thu, hoa mang sắc tím quyến rũ biến thiên từ nhạt đến sậm,môi loa hình chiếc kèn,vành môi trắng..

Hoàng Thảo Kèn rất sai hoa, nở nhiều hoa to 6-7 cm, mọc từng chùm 2-3 chiếc trên 1 mắt ở các đốt giữa thân đến ngọn, phát sinh từ thân cây trụi lá cũ. Cây nở hoa từ cuối mùa đông đến mùa xuân, rất thơm và lâu tàn.Kèn cần nhiều ẩm và phân bón trong lúc phát triễn thân non, chỉ để khô khi cây đã ngừng phát triển.

Kèn thuộc loại dễ trồng,nhưng điều đó còn phụ thuộc vào thời tiết vùng miền. Hoàng thảo Kèn nhìn xa rất giống với Den.anosmum vì màu tím trầm na ná nhưng thực tế so sánh nhau thì hình dáng khác biệt hoàn toàn. Giả Hạc kiêu sa, Kèn quyến rũ..

Hoàng Thảo Kèn là một trong những loại lan tuyệt đẹp và quý hiếm. Ngoài tự nhiên bây giờ rất khó còn tìm thấy do bị săn lùng quá nhiều vì vẻ đẹp của chúng. Ở một số nơi trên thế giới nó còn được đưa vào diện được bảo vệ nghiêm ngặt. Nước ta may mắn là một trong những vùng đất đc tạo hóa ban cho loài này, nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời có thể lâm vào nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Người ta đã tính đến chuyện nuôi cấy mô đại trà cho loài này để giảm tải sự săn lùng chúng trên rừng.

5. Lan Trần Tuấn

Lan Trần Tuấn lần đầu tiên được thế giới biết đến và công nhận vào năm 2003 và giống hoa lan này được mang tên người đã phát hiện ra bởi chuyên gia chơi lan Trần Tuấn Anh. Lan có mùi thơm nhẹ.

6. Lan trầm tím

Lan Trầm tím là một trong những loại hoa phong lan quý, hoa có màu tím hồng và thơm nhẹ nhàng dễ chịu như hương trầm. Hoa lan Trầm rất bền, sống khỏe, phù hợp với thời tiết của mọi miền. Nó được Veitch lai tạo từ giống cây Phi Điệp (giả hạc) và cây Song Hồng, hoàng thảo tím. Chính vì thế, lan Trầm tím được thừa hưởng rất nhiều nét đẹp của cây cha và cây mẹ. Đó là sự thừa hưởng có chọn lọc nên vẻ đẹp của lan Trầm tím nổi bật hơn hẳn so với cha mẹ cả về hình dáng, màu sắc và hương thơm của hoa. Trong đó, thân của Trầm tím không quá dài cũng không quá mập, nó hơi ngắn và có chiều hướng lên thẳng. Những bông hoa kiêu sa màu tím hồng cũng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của Trầm tím. Đặc biệt, giống cha mẹ nên Hoa của lan Trầm rất thơm, tuy nhiên nó không quá hắc mà lại rất dễ chịu, khiến lòng người mê đắm. Mùa xuân, những bông hoa tím hồng đua nhau khoe sắc, nổi bật lên giữa muôn vàn loài hoa khác.

7. Đơm cam

Đơn cam là loài lan được dân chơi lan săn lùng nhiều nhất hiện nay thường phân bố ở Tây Nguyên (Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng) và phân bố ở Thái Lan.. Những bông hoa của Đơn cam có sáp cánh hoa và đài hoa màu đỏ cam với một môi màu cam nhạt được đánh dấu với các tĩnh mạch tối màu da cam. Lan sống phụ sinh, nhỏ, cao 10cm – 15 cm. Lá thuôn hẹp, dài 5 – 6cm, rộng 0,7 – 1cm. Cụm hoa ngắn có 2 – 3 hoa màu cam đậm hay đỏ san hô. Cánh môi thuôn đều, đầu nhọn, hoa to 4-5 cm, 1-4 hoa mọc ở các đốt. Hoa rụng vào mùa thu, thời gian ra hoa của Dendrobium unicum là từ tháng 2 đến tháng 5. Những bông hoa có hương thơm và có một mùi hương tương tự như bút chì màu sáp của trẻ em.

8. Lan giả hạc

Lan giả hạc sống bám trên các cành cây ở cao độ khoảng 1000-1300 m tại các khu rừng.Thân nó dài tới 1.20m thường buông rũ xuống. Lá mọc đối cách dài 8-12 cm, rộng từ 4-7 cm.bông to tới 10 cm mọc từ 1-3 chiếc ở các đốt đã rụng lá, nở vào dịp tết. Giả hạc có hai mầu sắc chính: tím hồng và trắng.Cũng có khá nhiều biến dạng hồng nhạt, hồng thẫm hoặc cánh trắng lưỡi tím, nhưng rất dễ nhầm lẫn với giả hạc thân ngắn chỉ chừng 30-40 cm và hoa tím sẫm hơn nhiều.

Giả hạc là bông hoa đẹp và hương thơm nồng nàn,là loại lan than thòng của rừng nhiệt đới, ra hoa khi giả hành đã rụng hết lá,ở mỗi mắt có 1-2-3 hoa. vẻ đẹp hoa còn được tăng thêm nhờ hai bớt tím than nổi bật ở môi hoa,Cho nên nó còn có tên là Lưỡng Điểm Hạc.khi hoa nở thì mùi hương lan tỏa khắp vườn, hoa nở 7-10 ngày mới tàn, khi hoa tàn vẫn còn mùi hương

9. Lan trầm vàng

Hoa lan trầm vàng có mùi thơm nhẹ, nở vào mùa xuân, thường được bán với giá 500.000 đồng/cây.

10. Trúc phật bà

Hoa lan trúc bà có tên tiếng anh là Dendrobium Pendulum là giống hoa nở từ cuối đông đến đầu mùa xuân và có thể kéo dài tới hết mùa xuân, cánh hoa nếu bạn chăm sóc tốt rộng từ 4-7cm và thường mọc ở các khu rừng đất thấp dọc các dảy núi biên giới hiên nay. Hoa lan trúc phật bà là giống hoa lan được rất rất nhiều người yêu thích, hoa rất đẹp và có mùi hương thơm dễ chiu . hoa lan có nhiều cánh xòe rộng mang ba màu rất đẹp với các màu như, trắng vàng phơn phớt tím và dặt biệt cách trồng và cách chăm sóc đều rất đơn giản.

11. Lan ngọc điểm

Lan Ngọc điểm có tên khoa học là Rhynchostylis gigantea là một loài lan rừng rất được ưa chuộng và được trồng phổ biến nhất hiện nay, do mùa trổ hoa của loài này nở vào dịp Tết nên cũng được mọi người gọi với cái tên Nghinh Xuân. Một số tên khác như: Lan Đai Châu, Lan Tai Trâu, ,Lan Đại Châu, Lan Me (trước năm 1975 thường mọc trên những cây me trên một số đường ở Sài Gòn)

Lan Ngọc điểm là một loại Lan rừng có nhiều ở Việt Nam phân bố ở các vùng cao nguyên Nam Trung Bộ, đặc biệt các vùng giáp biên giới Lào và Campuchia ở cao độ thấp nhưng ở vùng nóng Lan Ngọc Điểm xuất hiện nhiều hơn cả. Cây thuộc nhóm đơn thân không giả hành tăng trưởng theo chiều đứng, rất nhiều rễ, mọc thẳng từ thân. Hạt Lan Ngọc điểm nảy mầm trong điều kiện tự nhiên rất mạnh.

Lan Ngọc điểm có thể nói là Lan của tết cổ truyền dân tộc, mùa hoa nở luôn luôn vào tháng 12 âm lịch, trừ những năm nhuận có thể nở sớm hơn. Đây là loại Lan có mùi thơm thoang thoảng vì thế rất có ý nghĩa, nếu trong giờ giao thừa bên bàn thờ có vài chậu mà tỏa hương tưởng nhớ người quá cố, có thể nói đây là một loại Lan quốc hồn, quốc túy của Việt Nam. Ngọc điểm là loại Lan chịu nóng, nhiệt độ thích hợp cho Lan từ 26 – 30oC. Lan Ngọc điểm được bán khắp nơi tại các nhà vườn và các cửa hàng Phong Lan. Hiện nay Lan Ngọc Điểm thường được khai thác từ các vùng bên nước bạn Campuchia, Lào và ở Việt Nam như vùng Đông Nam bộ và miền cao nguyên Nam Trung Bộ, với cao độ trung bình <600m, như các vùng Nha Trang, Bình Thuận.

Ngọc điểm là loại Lan ưa sáng 60%, ánh sáng trực tiếp dễ làm cây bị bỏng lá, cường độ ánh sáng thay đổi từ 15.000 – 20.000 1m/m2. Tuy nhiên, nếu cây Lan được trồng trong điều kiện quá rợp, cây tăng trưởng chậm và yếu ớt, bộ rễ phát triển kém, cây khó ra hoa. Nhưng sự ra hoa của Lan Ngọc điểm không phải do ánh sáng nhiều hay ít, nắng hay rợp, tất cả là do thời gian chiếu của ánh sáng trong ngày. Vì thế cây Lan Ngọc điểm chỉ nở hoa vào dịp tết âm lịch, tức vào thời điểm trong năm có ngày ngắn đêm dài.

12. Lan long tu

Không chỉ có hình dáng lạ mà những bụi long tu lào còn cho ra những chùm to hoa đẹp và thơm hương. Một khi ngắm nhìn chúng từ xa bạn sẽ bị vẻ đẹp của những cánh hoa long tu lào làm cho mê hoặc lúc nào không biết.

Trong những loại lan rừng đẹp và hiếm thì giới sành chơi lan rất thích lan long tu lào. Chúng không chỉ dễ trồng mà hoa của chúng khi nở vô cùng rực rỡ. Lan long tu lào rừng thường được tìm thấy trong những cánh rừng có độ cao từ 500 đến 1000 m ở các nước như Thái Lan, Lào và cả Việt Nam. Ở nước ta loài lan này thường phân bố chủ yếu ở các tỉnh như Bảo Lộc, Lâm Đồng vv.

Lan long tu lào là loại cây thân thảo tròn thường cao khoảng từ 30-50cm. Thân được hình thành từ nhiều đốt ngắn bao bọc quanh thân thường có một lớp vỏ mỏng khá dễ bóc. Tại các đốt của thân thường có những nôt lõm sâu vào. Thân cây giai đoạn sinh trưởng khá mập và màu xanh thẫm. Lá của long tu lào thường dày xanh bóng với chiều dài khoảng 10cm. Điểm độc đáo của loại lan này chính là hoa của chúng. Hoa thường mọc ra từ những thân già lớn. Hoa mọc ra trên từng đốt một có màu trắng mỗi bông có 3 thùy với 3 sọc vàng khá đẹp. Một cây trưởng thành mỗi mùa hoa nở thường có từ 4-5 cành mỗi cành từ 15-20 bông hoa nở. Hoa thường nở vào mùa xuân đến đầu hè.

13. Thủy tiên tím

Thủy Tiên Tím là cây thộc loại giả hành lớn, khác với với loại kiều thân vuông, kiều thân tròn, màu nâu hoặc xanh đen; dài từ 40-100 cm, lá mọc so le từ khoảng giữa thân đến ngọn. Hoa mọc từ gốc lá, có nhiều kiểu hoa. Thân cao chừng 30-60 cm (có khi tới 80 cm), cây không rụng lá.kiều tím không có mùa nghỉ, cây phát triển mạnh vào tháng 2 đến tháng 8 dương lịch.

14. Hạc Vỹ

Hạc vỹ thuộc dòng nobile thân thòng, rụng lá vào mùa thu. Cây ưa nắng, cần rất nhiều nước trong mùa phát triển. Có thể trồng bó trên gỗ lũa hoặc chậu đất nung nhưng ghép vào lũa sẽ đẹp hơn do dáng cây thòng ngả xuống, khi ghép nên ghép 1 mặt để dễ trưng bày.

Hạc Vỹ Lào tương tự Hạc vỹ miền nam thường có thân rất dài và rất mảnh, đường kính thân chỉ bằng 1/3 đến ½ thân giả hạc, lá cũng nhỏ và mỏng. Hoa chỉ mọc trên những đốt trụi lá, mỗi cụm hoa có từ 1 đến 3 hoa màu tím nhạt, cánh môi trắng có nhiều lông mịn, phía trong cánh môi có những đường gân ngang màu tím đậm. Trong điều kiện tự nhiên, cây rụng hết lá vào mùa thu nên ra hoa đồng loạt trên các đốt. Thân Hạc Vỹ rất dài nên khi hoa nở tập trung sẽ tạo thành một khóm hoa lớn tha thướt như đuôi hạc, có lẽ cũng vì thế chúng còn được gọi là Đại Ý Thảo mặc dù thân rất mỏng manh.

Nên để cây chịu nắng trực tiếp, sẽ cho bộ lá xanh và rất dày, Khi nuôi trồng Hạc Vỹ trong vườn ở đồng bằng, phải giảm nước, giảm ánh sáng vào mùa đông giúp cây đi vào giai đoạn khô hạn rồi rụng lá. Với khí hậu miền Nam, lá rất chậm trở vàng và rụng, vì vậy người trồng thường phải cắt hết lá đi dù biết cây chỉ ra hoa nhiều khi rụng lá tự nhiên. Khi lá rụng hết, thân khô trắng, căng tròn, sẵn sàng cho một mùa hoa…

Những trong đời sống

Nhiều loài lan ngoài việc được dùng làm cây cảnh còn là vị thuốc quý được Đông y sử dụng. trong đó, một số vị thuốc đang ngày càng trở nên quý hiếm.

1. Thiên ma:

Thiên ma còn gọi là minh thiên ma, xích tiễn, định phong thảo, là thân rễ phơi hay sấy khô của cây thiên ma Gastrodia Elata Blume họ Lan Orchidaceae, dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh.

Thiên ma vị ngọt tính bình, quy kinh Can.

Thành phần chủ yếu: gastrodin, gastrodioside, vannillyl, vanillin, alkaloid, vitamin A. Gần đây chứng minh: Thiên ma tố (Gastrodin) là thành phần có hiệu lực chủ yếu và đã chế nhân tạo được.

Tác dụng dược lý theo Y học cổ truyền: có tác dụng tức phong chỉ kinh, bình can tiềm dương. Chủ trị các chứng: kinh phong co giật, phá thương phong (uốn ván), can dương thượng, kháng đau đầu chóng mặt.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

– Thiên ma có tác dụng an thần chống co giật.

– Thuốc có tác dụng làm giảm đau, tác dụng giảm đau của loại mọc hoang mạnh hơn loại trồng. Thuốc chích thiên ma và loại do nhân tạo cũng có tác dụng giảm đau. Thuốc còn có tác dụng kháng viêm.

– Thiên ma làm tăng cường lưu lượng máu ở tim và não, làm giảm lực cản của mạch máu, làm giãn mạch ngoại vi, có tác dụng hạ áp, làm chậm nhịp tim, nâng cao sức chịu đựng thiếu oxy của động vật thí nghiệm.

– Polysaccharide của thiên ma có hoạt tính miễn dịch.

Bài thuốc thường dùng: Trị động kinh: Ngọc chân tán: thiên ma, phòng phong, khương hoạt, chế bạch phụ tử, chế nam tinh, bạch chỉ lượng bằng nhau tán bột mịn, mỗi lần uống 3 – 6g, ngày 2 – 3 lần, uống với nước sôi hoặc rượu.

Trị đau đầu hoa mắt chóng mặt: Thiên ma hoàn: thiên ma 15g, xuyên khung 5g, chế thành hoàn, mỗi lần uống 3 – 6g, ngày 3 lần.

Trị đau khớp, chân tay tê dại:

– Ngưu tất 10g, thiên ma 10g, toàn yết 3g, nhũ hương 5g, tán bột mịn hồ làm hoàn hoặc sắc uống.

– Thiên ma hoàn: thiên ma, đỗ trọng, ngưu tất, tỳ giải, phụ tử, đương quy, sinh địa đều 10g, huyền sâm 12g, tán bột mịn luyện mật làm hoàn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g. Trị đau khớp do phong hàn thấp.

Liều dùng và chú ý: liều thường dùng: 3 – 10g. Tán bột uống 1 – 1,5g/lần.

2. Thạch hộc:

Thạch hộc (Dendrobium nobile Lindl,), tên khác là kẹp thảo, hoàng thảo dẹt, kim thoa hoàng thảo, hoàng thảo cẳng gà, huỳnh thảo; người chơi lan gọi là lan phi điệp hay phi điệp kép. Là một cây thảo phụ sinh, mọc bám trên cành cây to hoặc ở vách đá ẩm. Thân dẹt có rãnh dọc chia nhiều đốt, phía cuống thuôn hẹp, phía ngọn dày hơn, màu vàng nhạt. Lá ngắn có bẹ. Hoa màu hồng hoặc trắng pha hồng, mọc thành chùm ngắn ở kẽ những lá đã rụng. Quả dài hình thoi. Cây thuốc trên nhỏ dưới to, giống như cái hộc, mọc ở núi đá nên có tên thạch hộc. Ở nước ta, cây thạch hộc mọc nhiều ở miền Bắc và miền Trung.

Theo tài liệu cổ, thạch hộc vị ngọt, nhạt, tính hơi lạnh, vào 3 kinh phế, vị và thận.

Liều 6 – 15g, tươi dùng liều 15 – 30g, dùng thuốc thang nên cho vào trước.

Thuốc tươi thanh nhiệt sinh tân mạnh.

Không dùng trong trường hợp thấp thịnh hư hàn.

Thành phần chủ yếu: Herba Dendrobii – dendrobine, dendranine, nobilonine, dendroxine, dendrin, 6-hydroxy-dendroxine.

Tác dụng dược lý: có tác dụng hạ nhiệt, giảm đau nhẹ. tăng tiết dịch vị, trợ tiêu hóa, làm tăng nhu động ruột và thông tiện, nhưng liều cao thì tác dụng ngược lại làm tê liệt cơ ruột. Nồng độ thuốc thấp có tác dụng hưng phấn tá tràng cô lập của thỏ, nồng độ cao thì có tác dụng ức chế. Thạch hộc có tác dụng làm tăng đường huyết ở mức độ trung bình, lượng cao Thạch hộc có thể ức chế hô hấp, tim, hạ huyết áp.

Trường hợp sốt khát nước, mồm khô, có thể dùng thạch hộc 8 – 16g, sắc uống giải khát, nếu sốt cao kết hợp với thạch cao, tri mẫu, dùng tốt.

Trị chứng vị nhiệt (thường có lở loét mồm), kèm ăn vào dễ nôn, nôn khan (trường hợp viêm dạ dày mạn): dùng bài:

Thanh vị dưỡng âm thang: thạch hộc 12g, bắc sa sâm 16g, mạch môn, hoa phấn, bạch biển đậu, trúc nhự tươi mỗi thứ 12g, giá đậu tươi (mầm đậu sống) 16g, sắc uống.

Trị khát phương: thạch hộc 12g, thiên hoa phấn 24g, tri mẫu 16g, mạch môn 12g, bắc sa sâm 20g, sinh địa 20g, xuyên liên 4g, sắc uống.

Một số bài thuốc kinh nghiệm có thạch hộc:

Thuốc trị ho đầy hơi: thạch hộc 6g, mạch môn đông 4g, trắc bá diệp 4g, trần bì 4g; nước 300ml, sắc còn 200ml, uống trong ngày.

Thuốc trị chứng hư lao gầy mòn: thạch hộc 6g, mạch môn 4g, ngũ vị tử, đảng sâm, chích cam thảo, câu kỷ tử, ngưu tất, đỗ trọng mỗi thứ 4g; nước 300ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

3. Bạch cập:

Bạch cập mọc hoang dại ở nhiều vùng cao mát ở nước ta như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang…

Cây bạch cập còn có tên là bạch căn, cam căn, liên cập thảo. Thuộc họ Lan. Vào mùa hạ, ở đầu cành nở hoa rất đẹp, màu đỏ tía. Vị đắng ngọt sáp, tính hơi hàn. Quy kinh phế, can, vị.

Có nhiều nơi trên thế giới đã nghiên cứu dùng hoa, toàn thân, rễ cây lan này làm thuốc và cũng đã có sản phẩm được bán trên thị trường.

Thành phần chủ yếu: Bletilla mannan (gồm mannose và glucose). Trong rễ tươi bạch cập có tinh bột, glucose, tinh dầu, chất nhầy, nước.

Tác dụng dược lý theo Y học cổ truyền: thu liễm cầm máu, tiêu sưng sinh cơ.

Chủ trị các chứng: khái huyết, thổ huyết, phế ung, chấn thương ngoại khoa gây chảy máu.

Hiện nay bạch cập được dùng chủ yếu trong phạm vi nhân dân, làm thuốc cầm máu, trong những trường hợp nôn ra máu, đau mắt đỏ, dùng ngoài đắp lên những mụn nhọt sưng tấy, bỏng lửa. Ngày dùng từ 4 – 12g dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc.

Bài thuốc thường dùng:

Chữa thổ huyết: bạch cập tán nhỏ, uống với nước cơm hay nước cháo. Ngày uống 10 – 15g.

Đổ máu cam: bạch cập tán nhỏ, hòa với nước, đắp lên sống mũi và uống. Ngày uống 1 – 3g.

Chữa bỏng lửa: bạch cập tán nhỏ, hòa với dầu vừng bôi lên.

Vết thương do đâm chém: bạch cập 20g, thạch cao 20g, hai vị tán nhỏ trộn đều, rắc lên vết thương rất chóng hàn miệng.

4. Lan tục đoạn:

Tên khoa học Pholidota chinensis Lindl, thuộc họ Lan-Orchidaceae.

Phong lan có thân rễ to 4 – 10mm, có thể đến 20cm, rễ dài, có lông, giả hành cách nhau, hình thoi, cao 4 – 6cm, to 1cm, mang mỗi cái một cặp lá ngắn nhưng khá rộng, dài 18cm, rộng 2,5 – 6cm. Bông hoa dài 10 – 25cm xuất hiện ở giữa các giả hành mới, ở phần trên các lông này có nhiều hoa nhỏ, 2cm; các lá đài và cánh hoa có màu vàng nâu, trong khi cánh môi lại trắng tinh, cột có nắp vàng. Ra hoa tháng 3 – 7, có quả tháng 2.

Bộ phận dùng: giả hành – Psendobulbus Pholidotae.

Nơi sống và thu hái: loài của Nam Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta cây mọc ở vùng núi cao 1.200 – 1.500m từ Lào Cai (Sa Pa), Vĩnh Phú (Tam Đảo) qua Quảng Trị, đến Kon Tum, Lâm Đồng (Đà Lạt). Cũng thường được trồng trong chậu để làm cảnh vì cây có nhiều hoa, lại có mùi thơm. Thu hái quanh năm. Dùng tươi, hoặc đồ rồi phơi khô dùng dần.

Tính vị, tác dụng: vị ngọt nhạt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt dưỡng âm, hoá đàm chỉ khái, tư âm giải độc, lương huyết giảm đau, nhuận phế sinh tân.

Công dụng: được dùng trị viêm phế quản cấp và mạn tính, ho khan, viêm họng mạn tính; viêm amiđan cấp, đau răng; lao phổi với khái huyết, lao, bệnh hạch bạch huyết thể lao; loét dạ dày, tá tràng, trẻ em suy dinh dưỡng; choáng váng, đau đầu, suy nhược thần kinh. Dùng 15 – 30g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài trị viêm xương tủy mạn tính, đòn ngã tổn thương. Giã cây tươi thêm rượu dùng đắp.

Bài thuốc thường dùng:

Suy nhược thần kinh: lan tục đoạn, dây hà thủ ô đỏ, mỗi vị 30g sắc uống.

Viêm amiđan cấp: lan tục đoạn tươi 30g, giang bán quy tươi 60g, Nhất chỉ hoàng hoa tươi 15g sắc uống.

15. Lan lô hội:

Tên khoa học – Cymbidium aloifolium(L.) Sw, thuộc họ Lan – Orchidaceae.

Mô tả: phong lan hay địa lan thành bụi dày, giả hành nhỏ, hình trái xoan, bị che khuất bởi bẹ lá. Lá nhiều mọc đứng hình dải, tròn và có 2 thùy không đều ở chóp, dai, màu lục sậm, có bẹ vàng, dài 0,3 – 1m, rộng 1,5 – 5cm. Chùm thưa, dài đến 1 – 2m; hoa rộng 5cm, phiến hoa đỏ nâu, môi thắt vào giữa, trắng có đốm hồng, thùy giữa rộng, mép nhăn. Quả nang 4,5 x 3cm. Hoa tháng 2 – 7, quả tháng 9.

Bộ phận dùng: toàn cây – Herba Cymbidii Aloifolii.

Nơi sống và thu hái: cây của Á châu ở Xri Lanca, Ấn Độ, Nêpan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Việt Nam. Cây rất phổ biến ở vùng đồng bằng cho tới độ cao 800m từ Sơn La, Quảng Ninh, qua Nghệ An, Hà Tĩnh, các tỉnh Tây Nguyên đến Tây Ninh, Kiên Giang, Côn Đảo cũng thường được trồng làm cảnh.

Công dụng: cây được dùng để tắm cho trẻ em gầy yếu. Ở Quảng Ninh (Tiên Yên), nhân dân dùng chữa cam trẻ em. Cũng được dùng làm thuốc điều hòa kinh nguyệt. Lá giã nhỏ, pha thêm rượu dùng đắp trong trường hợp gãy chân tay trật khớp, sưng khớp, đau gân.

Kỹ thuật trồng hoa lan

1. Kỹ thuật trồng hoa lan

Có điều kiện khí hậu thích hợp với đặc tính của hoa lan nên hiện nay, ở nước ta nhiều loại lan quý như ngọc điểm đai trâu, ngọc điểm đuôi cáo, hoàng thảo thủy tiên… Bên cạnh phương pháp trồng lan phổ biến hiện nay là ghép, còn có cách trồng hoa lan trong chậu.

Trồng hoa lan được xem là một thú chơi tao nhã đòi hỏi sự đầu tư tỉ mỉ và niềm yêu thích thực sự của người chơi. Muốn có một giỏ lan đẹp, bên cạnh phương pháp trồng lan phổ biến nhất hiện nay là ghép, còn có cách trồng hoa lan trong chậu.

Thiết kế vườn

Kỹ thuật trồng và chăm sóc phong lanNếu trồng lan kinh doanh cần thiết kế khung giàn lan làm bằng sắt chắc chắn, đảm bảo bền, chống gió bão. Giàn che ánh sáng dùng lưới màu xám hay xanh đen. Giàn đặt chậu làm bằng sắt, giàn treo làm bằng tầm vông hay sắt ống nước. Xung quanh vườn cần dựng hàng rào chắn chắc chắn hay rào bằng lưới B40. Thiết kế hàng trồng theo hướng Bắc Nam để vuông góc với dường đi của ánh nắng. Các chậu lan cần chọn cùng cỡ kích thước, cùng giống, cùng độ tuổi, bố trí theo từng khu vực để dễ chăm sóc. Nước tưới phải sạch, có rãnh nước dưới dàn lan để tạo khí hậu mát cho vườn lan. Nếu trồng lan để chơi trên lan can, mái hiên, sân thượng cần chú ý rằng tiểu khí hậu các nơi này thường bị khô nóng do ảnh hưởng của các kết cấu bê tông, mái tole… xung quanh. Cần đặt thêm các chậu cảnh khác như cau, mai chiếu thuỷ, nguyệt quế… để giảm bớt ảnh hưởng của các yếu tố này. Cần che bớt ánh sáng mặt trời, tránh ánh nắng chiếu toàn bộ, nhất là vào buổi chiều.

Chọn giống

Loài thích hợp cho trồng lan kinh doanh là Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium, Vanda, Cattleya… đây là những loài ra hoa khoẻ, đẹp và bền cây, cho thu hoạch liên tục. Nếu trồng lan để chơi, giải trí nên trồng Dendrobium, Vũ nữ, Hồ điệp; đây là những loài dễ chăm sóc và ra hoa. Có thể nhân giống bằng nuôi cấy mô hay tách mầm. Điều kiện môi trường nuôi cấy mô phong lan với nhiệt độ 22-27°C, cường độ ánh sáng thích hợp, pH từ 5-5,7. Khử trùng mô bằng Starner 20 WP cấy bằng Clorox hoặc Hipocloritcalci, bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng. Có thể tách mầm từ các chậu lan lớn, mỗi phần để 2-3 nhánh. Dùng dao sắc khử trùng bằng cồn, vết cắt cần gọn, sau cắt bôi vôi vào vết cắt cho nhanh lành sẹo.

Chuẩn bị giá thể và chậu

Có thể than gỗ, xơ dừa, vỏ lạc làm giá thể để trồng lan. Than gỗ nung cần chặt khúc, kích thước 1 x 2 x 3cm, than phải ngâm, rửa sạch, phơi khô. Xơ dừa xé cho tơi ngâm khoảng 1 tuần cho bớt tanin và mặn, phơi khô. Mụn dừa cũng cần rửa sạch phơi khô. Vỏ dừa chặt khúc 1 x 2 x 3 cm xử lý bằng nước vôi 5%. Chậu trồng bằng nhựa hay đất nung, kích cỡ tuỳ loại và độ tuổi.

Kỹ thuật chuyển chậu

Nếu dùng lan cấy mô thì khi lan mô đạt khoảng 4cm cần chuyển ra ngoài. Cây mô rửa sạch để trên miếng lưới hay rổ kê trên chậu nước để giữ mát cho cây con. Giai đoạn trồng chung trên giàn lấy xơ dừa bó xung quanh cây lan cấy mô, dùng dây thun cuốn lại rồi đặt lên giàn. Sau khi trồng trên giàn được 6-7 tháng thì chuyển sang chậu nhỏ. Khoảng 6 tháng thì chuyển sang chậu lớn. Sau mỗi lần chuyển chậu khoảng 1 tuần mới được bón phân. Việc thay đổi chậu còn tùy kích cỡ của cây, mức độ thối, hư mục rêu bám… Nếu trồng lan để chơi, lan lâu ngày ra hoa ít cần dỡ lan ra khỏi chậu, cắt bớt các rễ già và quá dài, chuyển sang chậu mới, thay giá thể mới, lan sẽ sinh trưởng tốt và ra hoa trở lại.

2. Kỹ thuật nhân giống hoa lan

– Giao phấn:

Giao phấn trong tự nhiên là một hiện tượng thông thường gần như bắt buộc với với đa phần các loại lan. Chính vì điều này mà hoa lan có sự phong phú về chủng loại như thế. Giao phấn thường tạo ra những giống mới, qua chọn lọc, những cây con có đặc tính hơn hẳn cây bố mẹ.

– Chiết tách cây con:

Khi chậu lan quá đầy thì người ra dùng phương pháp này để tách cành làm tăng số lượng cây mới. Khi tách, chỉ tách những giả hành già khi hoa tàn và có tuổi từ 2 – 3 năm.

Sau khi tách, giả hành được ươm lại trên giá thể ẩm để tạo chồi con. Các chồi con này được nuôi cùng với giả hành cho đến khi mọc rễ mới, đủ sức phát triển ổn định mới tiến hành tách lần 2.

Với một giả hành già như thế có thể cho 1 – 2 cây con/ đợt.

Khi áp dụng phương pháp chiết tách này, tuy nó sẽ đảm bảo được tính di truyền của cây bố mẹ song thế hệ cây con lại sinh trưởng không đồng đều. Trong trường hợp cần phục vụ cho nuôi trồng quy mô lớn là rất khó.

 Cách chăm sóc hoa lan

– Ánh sáng:

Hoa lan ưa bóng râm, ở nơi mát mẻ thì cây sẽ giữ được độ xanh tươi, hoa luôn tươi tắn và duy trì sự sống lâu hơn. Tránh đặt hay treo chậu lan ở những nơi có ánh sáng trực tiếp và gay gắt, như vậy lá cây sẽ bị cháy và cây cũng không sống lâu được.

Lưu ý là không nên thay đổi vị trí của chậu lan thường xuyên, như vậy thì hoa sẽ không thể thích nghi kịp thời với hướng sáng và độ ẩm, làm cho hoa nhanh bị rụng hơn.

Đối với cách trồng hoa lan trong chậu, không nên thay đổi vị trí của chậu quá nhiều lần.

Các loại lan khác nhau thì nhu cầu về độ chiếu sáng cũng sẽ khác nhau, ví dụ như lan hồ điệp có thể chịu được ít nắng (30%), lan Cattleya chịu tốt hơn một chút (50%), lan Dendrobium và Vanda lá hẹp chịu được mức ánh sáng khá tốt (70%), còn lan Vanda lá dài và bò cạp thì lại chịu được lượng ánh sáng rất tốt (100%).

– Nhiệt độ:

Hoa lan không phải là loài ưa nóng những cũng không hề ưa lạnh. Hãy luôn đảm bảo về nhiệt độ cho cây, nếu người trồng cảm thấy thoải mái ở mức nhiệt độ nào thì hoa lan cũng sẽ cảm thấy thoải mái. Nhất là độ ẩm cũng cần được giữ đủ.

– Tưới nước:

Trong quá trình sinh trưởng của hoa lan rất cần nước, nhưng không nên tưới nhiều, mỗi tuần chỉ cần tưới 1 – 2 lần với lượng nước vừa phải là được. Kết hợp sử dụng những loại giá thể có khả năng giữ ẩm tốt như rêu, xơ dừa phủ quanh gốc cây.

– Cắt tỉa:

Khi lan ra hoa, không nên để cành hoa trên cây quá lâu vì cây sẽ mất lượng lớn dinh dưỡng để nuôi hoa. Tốt nhất, khi thấy hoa ở ngọn đã tàn và cành chỉ còn lác đác vài bông thì nên cắt bỏ đi để tập trung dinh dưỡng nuôi cây.

– Phân bón:

Thời kì chăm bón, phục hồi sức sống cho chậu lan bắt đầu từ khi cắt bỏ cành hoa. Tưới phân hóa học NPK 20 – 20 – 20, kết hợp các loại phân hữu cơ khác như phân cá, bánh dầu,….

Khoảng 3 – 4 tháng sau đó, cây đã tươi tốt và khỏe mạnh trở lại thì tiến hành xử lý cho cây tiếp tục ra hoa. Có thể áp dụng phân bón NPK tỉ lệ 6 – 30 – 30 hoặc 10 – 52 – 17 cho đến khi chậu lan nở hoa. Khi xuất hiện cành hoa mới thì lại trở về chế độ phân NPK 20 – 20 – 20 hoặc xen kẽ chế độ 10 – 30 – 30.

– Phòng bệnh

Muốn cành lan luôn xanh tốt, bên cạnh một chế độ chăm sóc đặc biệt thì cần phải chú ý xịt thuốc phòng bệnh cho lan. Đối với bệnh do nấm thì có thể dùng thuốc Benomeyl, Captan, Aliette….

Bệnh do vi khuẩn thì xịt các loại thuốc Kasimin, Physan 20, Nacossan…Trường hợp bệnh do nhện đổ thì dùng Kelthane; do côn trùng hay rệp thì dùng Supracide, Mipcin… Hay nên dùng thuốc Methaldehyde cho lan khi có ốc sên gây hại.

Định kỳ xịt thuốc cho cây 7 – 10 ngày/ lần vào mùa mưa và 15 – 20 ngày/ lần vào mùa nắng để hạn chế tối đa nguy cơ cây bị bệnh.

Kết

Ý nghĩa hoa lan là biểu tượng của sự tình yêu, sắc đẹp, giàu sang. Cánh hoa lan được quan niệm là sự thu nhỏ của những người Phụ nữ hoàn hảo. Là biểu tượng của giàu có, hoàn hảo, sắc đẹp,… với những ý nghĩa tiềm ẩn ấy, hoa lan là một trong những loài hoa rất được yêu thích. Bởi vậy, mà hoa lan luôn được yêu thích khắp mọi nơi.

Hoa Cẩm Tú Cầu : Đặc Điểm, Tác Dụng, Cách Trồng Và Chăm Sóc

Hoa cẩm tú cầu loài hoa của sự duyên dáng, quyến rũ nhất. Vẻ đẹp của bông hoa này toát lên ngay từ cái tên “cẩm tú cầu” của nó.

Đặc điểm của hoa cẩm tú cầu

Hoa cẩm tú cầu nổi bật bởi những cánh hoa mỏng manh, xếp chồng chen chúc lẫn nhau. Nhưng những cánh hoa này lại tạo nên một khối cầu hoa vô cùng đẹp. Kỳ lạ phải không!

Nhiều người yêu hoa rất thích cẩm tú cầu. Thế nên không hề khó hiểu khi loại hoa này xuất hiện rất nhiều trong đời sống.

Hoa cẩm tú cầu được dùng trong trang trí đám cưới, kỉ niệm, hay đơn giản được dùng để làm thành những bó hoa tuyệt đẹp.

Các loại hoa cẩm tú cầu

Bạn có biết không? Màu hoa cẩm tú cầu phụ thuộc vào nồng độ pH của đất trồng đấy! Thật tuyệt phải không?

Thế nên, nếu muốn có hoa màu trắng sữa thì duy trì độ pH là 7. Còn nếu bạn để độ pH của đất trên 7 thì sẽ cho ra hoa có màu hồng hoặc tím. Và độ pH nhỏ hơn 7 thì sẽ cho ra hoa màu lam.

Xuất hiện đầu tiên từ các nước Đông Á (từ Nhật Bản đến Trung Quốc). Ngoài ra, cẩm tú cầu cũng mọc rất nhiều ở Nam Á, Đông Nam Á và cả ở châu Mỹ.

Tại Việt Nam

Nhắc đến cẩm tú cầu là mọi người chắc chắn sẽ nghĩ đến Đà Lạt. Với khí hậu mát mẻ quanh năm, Đà Lạt chính là vùng đất lý tưởng cho các loại cẩm tú cầu phát triển.

Ngoài ra, nếu có dịp đến thăm đỉnh Bà Nà, bạn cũng sẽ dễ dàng bắt gặp rất nhiều hoa cẩm tú cầu ở đây.

Thế giới

Là loài hoa đại diện cho sự chân thành. Thế nên, cẩm tú cầu có rất nhiều ở Nhật Bản. Bên cạnh đó, cẩm tú cầu cũng rất phổ biến ở Trung Quốc và các nước Đông Á khác.

Ý nghĩa hoa cẩm tú cầu

Có rất nhiều ý kiến tranh cãi về ý nghĩa của loài hoa kiêu sa này. Người thì nói cẩm tú cầu mang nét lạnh lùng, nên tượng trưng cho sự vô cảm, bất cần.

Kẻ thì cho rằng, vì màu sắc của hoa thay đổi theo nồng độ pH của đất. Nên loài hoa này cũng đại diện cho sự thay đổi của tình yêu.

Nghe người xưa kể là có một vị hoàng đế làm việc có lỗi với người ông yêu. Vị hoàng đế này quyết định mang tặng cô một đóa cẩm tú cầu xinh đẹp thay cho lời xin lỗi từ tận đáy lòng.

Vậy nên, cẩm tú cầu cũng là loài hoa người ta hay tìm đến khi muốn gửi đến ai đó một lời xin lỗi chân thành.

Toàn bộ cây có chứa chất phytochemical (có tác dụng kháng viêm, chống oxy hóa tốt), canxi, selen, kẽm và magiê… Vì thế nó cũng được sử dụng để làm thuốc.

Để điều trị các bệnh như viêm khớp dạng thấp, bệnh đa xơ cứng, đái tháo đường tuýp 1, bệnh viêm ruột, bệnh chàm và bệnh vẩy nến.

Ngoài ra nó còn đùng để điều trị các vấn đề về đường tiết niệu như nhiễm trùng bàng quang, niệu đạo, ve2y tuyến tiền liệt và bệnh sỏi thận.

Hơn nữa Vỏ cây cẩm tú cầu được dùng ngoài da có tác dụng giúp vết thương mau lành, chữa bỏng, đau cơ và bong gân.

Lưu ý là lá của loài cây này có chứa độc tố, nếu không hiểu biết thì bạn tuyệt đối không được tự ý sử dụng.

Cẩm tú cầu tồn tại ở các dạng :

Dạng tươi

Chiết xuất chất lỏng hay rượu thuốc

Dạng viên nang

Thuốc sắc

Tán bột.

Loại thảo dược này có 6 công dụng tuyệt vời sau:

Thuốc lợi tiểu tự nhiên

Tốt cho sức khỏe đường tiết niệu vì thế được dùng hỗ trợ điều trị tình trạng viêm tuyến tiền liệt hay phì đại tuyến tiền liệt. Ngăn ngừa tình trạng nước tiểu đọng lại trong niệu đạo gây nhiễm trùng khi kết hợp với cỏ ngựa.

Giúp phòng chống sỏi thận, sỏi bàng quang

Chống viêm vì thế giúp giảm bớt nhiễm trùng, viêm thận và giảm các triệu chứng viêm khớp rất tốt.

Chống oxy hóa

Chiết xuất dạng lỏng: khoảng 2 – 6ml.

Dạng sirô: 1 thìa cà phê/lần, uống 3 lần/ngày.

Dạng khô: không dùng quá 2g thân hoặc rễ/lần.

Liều dùng của cẩm tú cầu ở mỗi người là khác nhau. Liều lượng dựa trên tuổi tác, tình trạng bệnh lý, cơ địa. Cẩm tú cầu có thể không an toàn. Vì thế trước khi uống cần phải hỏi bác sĩ.

Tác dụng phụ khi dùng cẩm tú cầu

Theo thử nghiệm thì sử dụng Cẩm tú cầu tương đối an toàn. Đôi khi vẫn có tác dụng phụ như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, tức ngực hay chóng mặt và

Thận trọng khi dùng cẩm tú cầu

Phụ nữ có thai hoặc cho con bú

Tham khảo bác sĩ khi đang dùng thuốc khác

Dị ứng nhóm thuốc nào

Bạn có bất kỳ bệnh tật mãn tính, rối loạn hoặc tình trạng bệnh nào khác

Cách trồng hoa cẩm tú cầu

Hoa này bạn có thể tiến hành trồng cẩm tú cầu từ hạt hay nhánh đều được.

Một thời gian sau, bạn sẽ thấy thân cây tú cầu con phát triển ra. Tuyệt lắm đúng không! Khi nào cây con cứng cáp thì bạn có thể tách cây con ra, và đem trồng ở chỗ khác nữa đấy.

Cách chăm sóc hoa cẩm tú cầu

Tỉa cành cũng chính là một bước chăm sóc cẩm tú cầu không thể bỏ qua. Theo bạn thời điểm nào cần tỉa cành?

Nhưng…

Chăm cây thì không thể thiếu phân bón. Hoa cẩm tú cầu cần được bón phân từ 1 đến 2 lần trong năm.

Tài liệu tham khảo :

Định nghĩa về cẩm tú cầu wiki Tác dụng của hoa cẩm tú cầu của hellobacsi Cách trồng và chăm sóc cẩm tú cầu báo mới

Cây Hoa Mai: Đặc Điểm, Ý Nghĩa Và Cách Trồng, Chăm Sóc Cây Mai Sau Tết

Tại Việt Nam, cây mai phân bố chủ yếu tại những khu rừng thuộc dãy Trường Sơn, Đồng bằng sông Cửu Long, và các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa. Ở các vùng cao nguyên cũng có một số lượng ít cây sinh sống.

Nguồn gốc của hoa mai là từ Trung Quốc. Cây mai đã xuất hiện trên đất nước Trung Quốc cách đây khoảng hơn 3000 năm trước. Giống như theo ghi chép của Phí Cung Ấn đời Minh ở sách “Trân hương bảo ngự” nói rằng: “Đắc Kỷ ái lãm hàn mai. Trụ tằng ngự tuyết đồng lãm chi”. Dịch ra có nghĩa là Đắc Kỷ thích ngắm hoa mai trong giá lạnh. Trụ vương thường đội tuyết cùng ngắm.

Từ thời xa xưa, người Trung Quốc vốn yêu thích hoa mai, không những xem Mai, Tùng, Cúc thuộc nhóm “Tuế hàn tam hữu” mà còn coi hoa mai chính là quốc hoa của mình.

Hoa mai ban đầu vốn xuất xứ từ cây hoang dại. Cây thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới, khả năng sinh trưởng và phát triển tốt. Cây mai được chăm sóc cẩn thận thì hoa nở sẽ rất đẹp và cây có tuổi thọ cao.

Chính nhờ đặc điểm rụng lá vào cuối mùa đông, nở hoa khi đầu mùa xuân nên cây mai thường được trồng làm cây cảnh chơi Tết Nguyên Đán ở Việt Nam nói riêng và ngày xuân của người dân Á Châu nói chung.

Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 24 loại cây mai và Việt Nam có khoảng 19 loại. Trong đó, 6 loại mai phổ biến nhất trên thế giới đó là Mai Cao Miên (Mai vàng Campuchia), Mai vàng Indonesia, Mai vàng Myanmar, Mai vàng Nam Phi, Mai vàng châu Phi và Mai vàng Madagascar.

Ở Việt Nam, bài viết sẽ đưa ra 8 loại phổ biến nhất trong tất cả các loại mai hiện có, đó là: Mai Tứ Quý, Bạch Mai, Hồng Mai, Hạnh Mai, Hoàng Mai, Song Mai, Mai Chiếu Thủy và Nhất Chi Mai.

Mai Tứ Quý

Cây mai Tứ Quý còn được gọi là cây mai đỏ và có tên khoa học là Ochna Atropurpurea. Đây là loài hoa kiểng, quanh năm mùa nào hoa cũng nở. Đặc biệt hơn nhiều loài khác, cây mai này nở hoa 2 lần, lần đầu màu vàng, lần sau màu đỏ. Hoa 5 cánh vàng tươi sẽ rụng hết khi tàn, còn 5 đài hoa chuyển sang đỏ sẫm và úp vào như búp ôm lấy nhụy hoa, Nhụy hoa kết hạt, khi non có màu xanh nhưng lúc già sẽ đổi thành màu đen, dần to lên và đẩy đài hoa nở bung lần hai thành những đóa hoa mai màu đỏ.

Bạch Mai

Hoa bạch mai màu trắng tinh khiết, gồm 6-8 cánh dày, hơi tròn, nhụy vàng và khá giống như hoa sứ. Hoa có hương thơm dịu nhẹ thoang thoảng và dễ chịu. Loài mai trắng này khá khó trồng và chăm sóc. Cây có chiều cao tối đa khoảng 15m, được trồng chủ yếu ở Bến Tre, vùng núi Bà Đen – Tây Ninh, Hà Tiên.

Mai Chiếu Thủy

Cây mai chiếu thủy là loài cây đa niên có tên khoa học là Wrightia Religiosa. Cây chỉ cao khoảng 1,5m có nhiều cành nhánh, gốc cây khá to. Lá cây nhỏ nhưng dài và mọc theo cặp. Hoa mai chiếu thủy màu trắng và mọc thành từng chùm nhỏ, gồm 5 cánh nhỏ và có mùi thơm nhẹ nhàng. Được gọi như thế là do cây có đặc điểm cuống hoa luôn hướng xuống dưới đất.

Đặc điểm của cây mai vàng

Cây mai có dáng vẻ vô cùng thanh cao, thuộc loại cây đa niên, tức có thể sống và phát triển tốt đến hơn một trăm năm. Mai vàng là cây thân gỗ, nên thân cứng cáp, cành hơi giòn nhưng vẫn có thể uốn để tạo dáng cây. Thân cây xù xì và nhiều cành nhiều nhánh. Cây có tán lá thưa, nếu để phát triển tự do thì cây mọc từ hạt có thể cao tối đa tới 20 – 30m. Gốc cây khá to, và bộ rễ cây mai vàng lồi lõm có độ đâm sâu tới 2 – 3m.

Lá mai vàng là lá đơn, mọc xen kẽ so le, có phiến lá dạng hình trứng thuôn dài. Lá có màu xanh biếc nhưng mặt dưới của lá màu hơi ánh vàng.

Tuy hoa mai thường nở vào mùa xuân nhưng gần đây thời tiết thay đổi nhiều nên việc ra hoa cũng bị ảnh hưởng, thường dẫn đến hiện tượng cây mai nở sớm hoặc hoa mai nở trái mùa. Không phải tất cả hoa đều có thể đậu quả. Nếu hoa nào đậu thì sau khi tàn, bầu noãn của hoa sẽ phình to lên. Thời gian sau sẽ kết hạt.

Từ lâu hoa mai là một loài hoa quý mang nhiều tầng ý nghĩa. Giống như miền Bắc có hoa đào thì hoa mai chính là tượng trưng cho miền Nam. Hình ảnh hoa mai là biểu tượng mang lại những điều tốt lành, mang lại sự giàu sang, phú quý. Để những cánh mai nở rộ khi mùa xuân sang thì cây mai phải trải qua mùa đông khắc nghiệt. Thế nên, cây mai tượng trưng cho sự mạnh mẽ, kiên cường và cổ vũ con người vượt qua khó khăn cố gắng đạt được những thành quả tốt đẹp.

Không những thế, hoa mai còn có ý nghĩa tượng trưng cho sự cao thượng, quyền quý. Chính vì thế mà cây hoa mai thường xuất hiện trên các tựa tranh “hoa khai phú quý” và thuộc một trong bốn loại cây tứ quý là “tùng, cúc, trúc, mai”.

Hoa mai cùng với muôn loài hoa khác đua nhau khoe sắc vào mỗi dịp Tết đến xuân về thế nên ý nghĩa cây mai ngày Tết là rất quan trọng. Trong đó, ý nghĩa của hoa mai đầu tiên khi hoa nở là báo hiệu năm cũ đã qua đi, một năm mới nữa lại đến. Ý nghĩa hoa mai vàng tươi sáng là tượng trưng cho sự hy vọng, may mắn và phát lộc nên hầu hết gia đình nào cũng không quên chuẩn bị một nhánh mai hay một chậu mai xinh đẹp để trang trí trong nhà.

Theo quan niệm của dân gian cho rằng, cây mai nhà ai nở càng nhiều cánh thì tài lộc, phú quý càng nhiều. Nhất là nếu cây mai đó nở toàn là những bông hoa 7 cánh thì sẽ đem lại ý nghĩa là “đạt cát đại lợi”.

Ý nghĩa của hoa mai vàng còn thể hiện sự đoàn kết gắn bó, niềm vui và niềm hạnh phúc, tình yêu thương rộng lớn. Do đó, mọi người càng thêm thân thiết, gắn bó nhờ ý nghĩa của hoa mai ngày Tết.

Ngoài mai vàng, những cây hoa mai trắng quý giá cũng mang lại những ý nghĩa tượng trưng riêng. Ý nghĩa hoa mai trắng đó là biểu tượng cho người quân tử, khí thế, sự kiên cường và tâm hồn cao thượng, tinh khiết.

Công dụng của cây hoa mai

Công dụng lớn nhất của cây hoa mai đó chính là trồng làm cây cảnh trang trí trong nhà, nhất là vào mỗi dịp Tết đến xuân về. Nhờ cây có thể tạo dáng, tạo thế đẹp, sắc hoa rực rỡ nổi bật và ý nghĩa tích cực nên hoa mai rất được ưa chuộng và trồng phổ biến trong các gia đình mỗi người.

Bên cạnh đó, cây hoa mai còn có tác dụng làm thành phần cho một số vị thuốc để chữa trị nhiều loại bệnh. Chẳng hạn như, có thể sử dụng hoa để chữa một số bệnh như tức ngực, lao hạch, ho, bỏng, đau họng và chóng mặt, chán ăn.

Từ đó, hoa mai được chế tạo thành những bài thuốc dân gian chữa bệnh hiệu quả, từ các bệnh đau đầu, huyết áp tăng, đau dạ dày, viêm xơ gan mức nhẹ, chướng bụng, đầy hơi, viêm họng, đau khớp, tức ngực, viêm loét,…

Ngoài ra, cây hoa mai còn được dùng để chế biến kết hợp cùng với các loại thịt, cá chép, trứng gà, nấm hương, hải sâm,… thành một số món ăn độc đáo. Ẩm thực tự nhiên, hương vị thơm ngon bổ dưỡng khó có thể cưỡng lại.

Kỹ thuật nhân giống cây mai vàng

Cây hoa mai có thể được nhân giống bằng nhiều phương pháp nhưng phổ biến nhất là gieo hạt và chiết cành. Mỗi cách đều có những ưu nhược điểm khác nhau đối với cây mai.

Bằng phương pháp gieo hạt, ta sẽ có số lượng nhiều cây mai con. Như thế sẽ không bị mất nhiều công sức hay tốn quá nhiều thời gian. Cây mai mọc từ hạt có thể cao tới 30 – 40 năm nếu được tự do phát triển. Tuy nhiên, nhược điểm của cách này là cây mai mới sẽ không mang những đặc tính tốt từ cây mẹ như cây ít cành hơn, hoa lá nhỏ, màu sắc khác,…

Kỹ thuật trồng cây mai vàng

Thời điểm trồng cây mai lý tưởng nhất là vào đầu mùa mưa. Mật độ, khoảng cách trồng cây cần được chú ý đảm bảo hợp lý, đủ rộng cho cây sinh trưởng tốt.

Theo kỹ thuật trồng mai, đất trồng cần được chuẩn bị từ trước với đầy đủ độ ẩm, độ mùn và chất dinh dưỡng. Đất có thể trộn hỗn hợp cùng với xơ dừa, tro trấu, than bùn và phân chuồng hoai mục để tăng độ mùn và chất dinh dưỡng cho đất.

Cây mai là cây chịu được nắng hạn nên bạn có thể tưới nước 2 lần/ngày vào sáng và chiều tối. Lượng nước tưới phù hợp, đảm bảo cây không bị chết héo hoặc cũng không quá nhiều gây ngập úng cho cây.

Thường xuyên dọn cỏ dại, vun xới gốc và bắt sâu bệnh cho cây. Nên diệt cỏ vào thời điểm trước khi vào mùa mưa. Và một số sâu bệnh cần được chú ý là sâu đục thân, sâu tơ, rầy bông,…

Cách chăm sóc cây mai sau Tết

Cây mai cần được cắt tỉa cành hợp lý tùy theo hình dạng và kích thước ban đầu của cây. Theo cách chăm sóc cây mai, thông thường sẽ cắt bỏ ⅓ cành đi hoặc tỉa cành trên ngắn hơn hàng dưới giống như dáng cây thông. Thời điểm tỉa cành hợp lý là trước ngày 15 âm lịch, nếu chậm chất thì cũng chỉ nên vào ngày 20.

Đồng thời, sử dụng phân urê hòa nước để tưới quanh gốc cây hoặc phun để cây nhanh chóng hồi sức và đâm chồi. sau khi cây hồi lại thì nên để cây ra nắng thích nghi dần. Từ đó cây sinh trưởng và phát triển nhanh chóng.

Cách tạo dáng cây mai vàng

Trước khi tạo dáng, bạn cần phải cắt tỉa những cành không cần thiết hoặc yếu, bị sâu bệnh hại. Thời điểm thích hợp nhất để uốn cành là khi cây phát triển mạnh, tức vào cuối tháng 7 – cuối hè.

Dụng cụ dây uốn cành mai thì nên lựa chọn dây kẽm, dây đồng, dây chì, dây vải quấn quanh để không gây hại cho cây.

Trước tiên, bạn cần phải uốn theo trình tự từ thân đến cành chính, tiếp đến những cành quanh thân cây. Cành lớn được uốn trước rồi mới đến cành nhỏ. Và bạn cần định hình những hình dáng đã chuẩn bị từ trước để tạo dáng quấn dây cây mai vàng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đặc Điểm, Công Dụng Cách Trồng Và Chăm Sóc trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!