Xu Hướng 2/2024 # Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non Và Ruột Già # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non Và Ruột Già được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ruột non – ruột già nằm giữa dạ dày và hậu môn, nằm gọn trong khoang bụng của cơ thể. Tuy nhiên, chiều dài của chúng có thể lên đến 5 – 7 m tùy cách đo đạc.

Hình dạng chung của ruột non và ruột già là một cấu trúc hình ống dài.

Trong đó ruột non có chiều dài khoảng 5.5 – 9m, rộng khoảng 1.5 – 3cm.

Ruột già (đại tràng) là phần áp cuối trong hệ tiêu hóa, có độ dài trung bình khoảng 1,4 – 1,8m. Ruột già ngắn hơn ruột non 4 lần nhưng tiết diện lại lớn hơn ruột non.

Ruột non và ruột già gồm có 4 lớp:

2.1. Lớp niêm mạc lót bề mặt của lòng ống tiêu hóa 2.2. Tiếp theo đến lớp dưới niêm mạc 2.3. Ngoài lớp dưới niêm mạc là lớp cơ trơn 2.4. Ngoài cùng là lớp thanh mạc 3.1.1. Tá tràng

Đây là phần đầu tiên và là phần ngắn nhất, lớn nhất (về đường kính) của ruột non. Đi từ môn vị đến góc tá – hỗng tràng, hình chữ “C”, dài khoảng 25 cm.

Tá tràng ôm quanh đầu tụy, đi theo một đường gấp khúc gồm bốn phần: trên, xuống, ngang và lên.

3.1.2. Hỗng tràng và hồi tràng

4/5 đoạn ở trên gọi là hỗng tràng, ranh giới hai phần không rõ ràng. Có 14 – 16 khúc quai hình chữ U bắt đầu từ nơi tiếp với phần lên của tá tràng và tận hết ở hồi tràng đổ vào manh tràng. Hỗng – hồi tràng được treo vào thành lưng bởi mạc treo ruột non, phủ phía trước bởi mạc nối lớn.

3.2. Đối với ruột già

Ruột già chia ra làm 3 phần chính: manh tràng, kết tràng và trực tràng.

Giữa ruột non và ruột già có van hồi – manh giữ không cho các chất ở ruột già ngược trở lại ruột non.

3.2.1. Manh tràng

Có hình dạng giống như một cái túi tròn và tiếp với hỗng tràng, đường kính khoảng 7cm. Ruột thừa từ bờ trong của manh tràng, nơi gặp nhau của ba dải cơ dọc. Ruột thừa hướng xuống dưới, thông với lòng manh tràng.

3.2.2. Kết tràng

Đây là bộ phận chính của ruột già, được chia làm 4 phần: kết tràng lên, kết tràng ngang, kết tràng xuống và kết tràng xích ma. Kết tràng đi từ manh tràng đi lên dọc theo bên phải ổ bụng cho đến khi gặp gan, chỗ gặp gỡ bị uốn cong. Sau đó nó trở thành kết tràng ngang, đi ngang qua ổ bụng. Khi đến gần lách ở bên trái, kết tràng quay xuống để tạo thành kết tràng xuống. Nó đi vào khung chậu nó có hình chữ S tạo thành kết tràng xích ma.

3.2.3. Trực tràng

Kết tràng xích ma nối tiếp với trực tràng, là một ống thẳng, dài khoảng 15 cm và kết thúc ở hậu môn mở ra ngoài cơ thể.

Ngoài ra bên trong lòng ống tiêu hóa còn có sự hiện diện của các vi khuẩn góp phần tiêu hóa thức ăn.

3.2.4. Dịch ruột già

Trong ruột già dịch không có enzyme tiêu hoá mà chỉ có chất nhầy để bảo vệ niêm mạc.

Tại đây không có enzyme tiêu hóa mà chứa chất nhầy làm trơn giúp phân di chuyển dễ dàng. Ngoài ra, giúp bảo vệ niêm mạc ruột già, tiết nhiều hơn khi bị viêm hoặc những tổn thương khác.

Một số chất đến khi đi xuống ruột già thì mới có thể chuyển hóa thành chất dinh dưỡng. Trong ruột già có rất nhiều loại vi khuẩn như escherichia coli, enterobacter aerogenes, bacteroides fragilis,… Các loại vi khuẩn này giúp tổng hợp một số dưỡng cần thiết cho cơ thể như vitamin B, B1, B6, K, axit folic,…

6.2.1. Hấp thu các chất cần thiết mà ruột non làm sót lại 6.2.2. Chức năng bài tiết phân của ruột già

Hậu môn được cấu tạo bởi hai cơ thắt. Cơ thắt trong chính là cơ trơn, được điều khiển bởi hệ thần kinh trung ương. Cơ thắt ngoài chính là cơ vân, chịu sự điều khiển của vỏ não.

Được thực hiện theo quy trình như sau:

7.1. Hội chứng ruột kích thích

Hiện nay, chưa có cách điều trị cho hội chứng ruột kích thích. Cách tốt nhất là nên thay đổi lối sống để giảm bớt các triệu chứng. Cần ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ, tập thể dục thường xuyên, hạn chế các chất kích thích, bia rượu, cà phê, thuốc lá sẽ giúp cải thiện triệu chứng.

7.2. Phòng tránh bệnh viêm đại tràng mãn tính Chế độ ăn uống hợp lý:

Uống nhiều nước kết hợp xoa bóp nhẹ.

Ăn nhiều loại thực phẩm: sữa đậu nành, gạo, khoai tây, cá, rau xanh, trái cây, củ quả giàu chất xơ, giàu Kali

Hạn chế ăn nem chua, tiết canh, rau sống, gỏi các loại, lòng heo… tránh nhiễm khuẩn đường ruột.

Hạn chế cà phê, rượu bia, thuốc lá, những đồ ăn chiên nóng khó tiêu.

Nên ăn thức ăn dễ tiêu, chia nhiều bữa nhỏ, ăn ít vào buổi tối.

Cần đảm bảo đủ thành phần dinh dưỡng, 1g chất đạm, 30 – 35 kcal cho mỗi 1kg cân nặng mỗi ngày. Đồng thời giảm chất béo, tăng cung cấp nước, vitamin và muối khoáng.

Khám sàng lọc định kỳ phát hiện sớm các nguy cơ có thể gây bệnh nguy hiểm.

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim Người

 Trái tim một người trưởng thành có chiều dài trung bình từ 10-15cm (thông thường là từ 12-13cm). Trái tim của phụ nữ có trọng lượng trung bình từ 250-300g, còn trái tim nam giới nặng trung bình từ 300-350g. Hàng ngày, tim bơm khoảng 7.600 lít máu (trung bình từ 5-30 lít/phút) vào các mạch máu có độ dài tổng cộng gần 100.000km.

Giả sử trong điều kiện thông thường, mỗi phút tim đập 70 nhịp, thì trong vòng 70 năm, trái tim của một người bình thường đập hơn 2,5 tỷ nhịp và bơm 250 triệu lít máu. 1. Cấu Tạo và Chức Năng Của Tim

−        Tim là bộ phận quan trọng trong hệ tuần hoàn của con người. Tim được cấu tạo từ một loại cơ đặc biệt là cơ tim. Tim là một khối cơ rỗng, được chia thành 4 buồng: 2 tâm nhĩ và 2 tâm thất. Nhĩ phải và nhĩ trái, thành mỏng, nhận máu tĩnh mạch, đưa xuống thất; thất phải và thất trái, thành dày, bơm máu vào động mạch với áp lực cao. Hai tâm nhĩ ngăn cách nhau bởi vách liên nhĩ, hai tâm thất ngăn cách nhau bởi vách lên thất.

−        Độ dày của các thành tim ở các buồng thay đổi tùy theo chức năng của nó. Thành cơ tim thất trái dày gấp hai đến bốn lần thành thất phải, do nó phải bơm máu với áp lực cao hơn để thắng sức cản lớn của tuần hoàn hệ thống.

−        Năng lượng cần thiết cho sự chuyển động của máu xuất phát từ thành cơ tim.

2. Hệ thống van tim

−        Hướng chảy của máu được xác định bởi sự hiện diện của các van tim. Các van tim là những lá mỏng, mềm dẻo, là tổ chức liên kết được bao quanh bởi nội tâm mạc.

−        Van nhĩ – thất: ngăn giữa nhĩ và thất, bên trái có van hai lá, bên phải có van ba lá. Nó giúp máu chảy một chiều từ nhĩ xuống thất. Các cột cơ gắn với van nhĩ-thất bởi các dây chằng. Cột cơ co rút khi tâm thất co, nó không giúp cho sự đóng của van, mà nó kéo chân van về phía tâm thất, ngăn sự lồi của các lá van về tâm nhĩ trong kỳ thất co rút. Nếu dây chằng bị đứt hoặc nếu một trong các cột cơ bị tổn thương, máu có thể trào ngược về tâm nhĩ khi thất co, đôi khi gây nên rối loạn chức năng tim trầm trọng .

−        Van bán nguyệt: giữa tâm thất trái và động mạch chủ có van động mạch chủ, van động mạch phổi ở giữa tâm thất phải và động mạch phổi. Nó giúp máu chảy một chiều từ tâm thất ra động mạch . Tất cả các van đóng mở một cách thụ động, sự đóng mở tùy thuộc vào sự chênh lệch áp suất qua van. Ví dụ như khi áp lực tâm nhĩ vượt quá áp lực tâm thất thì van nhĩ-thất mở ra, và máu từ nhĩ xuống thất; ngược lại khi áp lực tâm thất lớn hơn áp lực tâm nhĩ, van đóng lại, ngăn máu chảy ngược từ thất về nhĩ (Hình 2).

3. Sợi cơ tim

−        Tim được cấu thành bởi 3 loại cơ tim : cơ nhĩ, cơ thất và những sợi cơ có tính kích thích, dẫn truyền đặc biệt. Cơ nhĩ, cơ thất có hoạt động co rút giống cơ vân, loại còn lại co rút yếu hơn nhưng chúng có tính nhịp điệu và dẫn truyền nhanh các xung động trong tim. Các tế bào cơ tim có tính chất trung gian giữa tế bào cơ vân và tế bào cơ trơn. Đó là những tế bào nhỏ, có vân, chia nhánh và chỉ một nhân. Khác với cơ vân, các tế bào cơ tim có các cầu nối, kết với nhau thành một khối vững chắc, có những đoạn màng tế bào hòa với nhau. Các sợi cơ tim mang tính hợp bào, hoạt động như một đơn vị duy nhất khi đáp ứng với kích thích, lan truyền điện thế giữa các sợi cơ tim nhanh chóng qua các cầu nối. Sự lan truyền điện thể từ nhĩ xuống thất được dẫn qua một đường dẫn truyền đặc biệt gọi là bộ nối nhĩ-thất.          

−        Các sợi cơ tim chứa nhiều ty lạp thể và mạch máu, phù hợp với đặc tính hoạt động ái khí của tim. Thành phần chủ yếu của tế bào cơ tim là các tơ cơ (myofibrille), chứa các sợi dày (myosin) và sợi mỏng (actin, tropomyosin, troponin), sự co rút của chúng gây ra co rút toàn bộ tế bào cơ tim. Xung quanh các sợi cơ có mạng nội sinh cơ chất (reticulum sarcoplasmique) là nơi dự trữ canxi. Như vậy chức năng chính của cơ tim là tự co rút và chúng cũng phản ứng theo cùng một cách thức trong trường hợp bệnh lý : chúng cùng phì đại trong sự quá tải hoặc chúng hoại tử thành những mô xơ trong trường hợp khác.

−        Tim có nhiệm vụ bơm đều đặn để đẩy máu theo các động mạch và đem dưỡng khí và các chất dinh dưỡng đến toàn bộ cơ thể; hút máu từ tĩnh mạch về tim sau đó đẩy máu đến phổi để trao đổi khí CO2 lấy khí O2.

Cấu Tạo Và Chức Năng Sinh Lý Của Mũi

Mũi ngoài có cấu trúc hình kim tự tháp, gốc mũi nằm ở phía trên, giữa hai mắt, nối liền với trán, liên tục với phần đỉnh mũi. Khoảng cách từ gốc mũi đến đỉnh mũi là thân mũi (hay sống mũi).

Phía dưới đỉnh mũi là hai lỗ mũi trước ngăn cách với nhau bởi phần di động của cánh mũi. Bên ngoài lỗ mũi là cánh mũi tạo với má một rãnh gọi là rãnh mũi má.

a. Khung xương sụn của mũi

Những xương mũi này kết hợp với nhau tạo thành sống mũi. Các xương mũi thường thuôn, dài, nhỏ, có kích thước và hình thức khác nhau.

Xương mũi thường được chia thành hai phần đối xứng nhau ở giữa khuôn mặt.

Xương mũi bao gồm các bộ phận như:

Các sụn mũi hỗ trợ hình thành cấu trúc và chức năng của mũi.

Sụn mũi thường bao gồm Collagen, Protein và một số thành phần khác.

Sụn mũi bao gồm:

Hai sụn mũi bên có cấu trúc hình tam giác, phẳng và nằm bên dưới xương mũi.

Sụn cánh mũi lớn, nằm ở hai bên đỉnh mũi, cong hình chữ U.

Sụn mũi nhỏ nằm trong khoang trung gian, có tác dụng liên kết các sụn cánh mũi lớn với sụn mũi bên.

Sụn vách mũi hình tứ giác nằm trên đường giữa trong khoảng trung gian hình tam giác của phần vách mũi xương có tác dụng kết nối xương mũi với sụn bên.

Sụn lá mía có tác dụng kết nối các vạch ngăn và các xương mỏng ngăn cách lỗ mũi.

c. Các cơ của mũi ngoài

Các cơ này là cơ bám da, giúp nở mũi và hẹp mũi.

Tính chất: mỏng, dễ di động, dính, có nhiều tuyến bã. Trừ ở đỉnh mũi và các sụn thì da dày.

e. Ngoài ra còn có các mạch máu và thần kinh.

Mũi trong (hay ổ mũi) là phần bắt đầu từ lỗ mũi trước đến lỗ mũi sau. Chia làm hai hố với một vách ngăn ở giữa gọi là vách mũi, lót bởi các lớp niêm mạc. Ổ mũi được phân chia thành hai vùng cụ thể: vùng hô hấp và vùng khứu giác.

a. Tiền đình mũi

Đây là phần đầu tiên của ổ mũi, tương ứng với phần sụn của mũi ngoài. Tiền đình mũi được lót bằng da, nang lông và một số tuyến bã nhờn. Khu vực này thường chứa nhiều vi mạch.

b. Khoang mũi

Khoang mũi là một phần không gian rộng lớn bên trong mũi. Các khoang được phân chia thành 2 bộ phận cụ thể bởi các vách ngăn. Sự phân chia này giúp mũi thực hiện đúng chức năng ngửi và điều hòa không khí.

Các khoang mũi được lót bằng các biểu mô niêm mạc đường hô hấp. Có nhiều lông mũi và tuyến nhầy, có nhiệm vụ duy trì độ ẩm, cản bụi, bảo vệ mũi khỏi các tác nhân gây dị ứng và kích thích từ môi trường.

c. Vách ngăn mũi

Vách mũi là một mảnh xương thẳng, phía trước là sụn vách ngăn mũi và phần dưới là xương lá mía.

Nói một cách đơn giản, xương mũi có thể được cảm nhận ở giữa mí mắt, sụn kéo dài từ chóp mũi đến giữa. Vách ngăn mũi phân chia lỗ mũi, tiếp tục với khoang mũi. Niêm mạc phủ toàn bộ vách mũi ở tiền đình.

Nền ổ mũi (hay vòm miệng) được tạo thành bởi các mỏm khẩu xương hàm trên và các mảnh ngang của xương khẩu cái. Nền mũi thường rộng khoảng 5 cm và thường đi qua các dây thần kinh cảm giác của hệ thống khứu giác. Được niêm mạc che phủ.

Ở phía sau khoang mũi có hai lỗ mở được gọi là lỗ mũi sau. Lỗ mũi sau có tác dụng đưa không khí đi vào vòm họng và phần còn lại của hệ thống hô hấp.

Van mũi đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm (độ bão hòa nước lên đến 98%) và lọc không khí khi di chuyển đến khoang mũi.

Van mũi là đường hẹp nhất của đường thở. Van mũi bên ngoài thường lớn hơn van mũi trong vách ngăn.

g. Dẫn lưu vào khoang mũi:

Các biểu mô đường hô hấp nối các xoang gắn chặt vào màng bên dưới của mũi. Ở mỗi xoang cạnh mũi có một lỗ nhỏ cho phép dẫn lưu vào khoang mũi.

1.3 Xoang

Xoang cạnh mũi là các hốc rỗng trong các xương thành mũi. Thành các xoang được lót bằng niêm mạc (tương tự khoang mũi), với những tế bào lông chuyển luôn luôn rung động theo một chiều, quét các chất nhầy vào mũi. Do đó bình thường các xoang đều rỗng, thoáng và khô.

Có bốn nhóm xoang, xoang trán, xoang sàng, xoang hàm trên và xoang bướm.

Một sự bất thường ở bất kỳ xoang nào cũng gây ra các vấn đề về xoang.

Các xoang có nhiệm vụ công hưởng âm thanh, làm ẩm niêm mạc ổ mũi, sưởi ấm không khí. Ngoài ra còn làm nhẹ đi trọng lượng khối xương đầu mặt.

Lót mặt trong ổ mũi là niêm mạc mũi. Chia thành 2 vùng:

Vùng nhỏ ở phía trên có các sợi thần kinh khứu giác, gọi là vùng khứu. Nếu nhiễm trùng tại khu này rất dễ theo các dây thần kinh khứu lên tới màng não.

Luồng không khí hít thở qua lỗ mũi sẽ theo 2 hướng: theo ngách trên vào khu khứu giác – theo ngách giữa và dưới là luồng thở.

Vùng lớn ở dưới là vùng hô hấp. Vùng này niêm mạc đỏ hồng, thường có nhiều tuyến niêm mạc tiết ra một chất quánh cuốn với bụi đọng khô thành vảy mũi.

Lông có mặt trong lỗ mũi, có vai trò quan trọng trong việc lọc và làm ẩm không khí trong khí quyển. Lông mũi phục vụ như một cơ chế bảo vệ chống lại mầm bệnh, loại bỏ các vật liệu rắn độc hại và hạt trong không khí.

Cả hai lỗ mũi và khoang mũi được lót bởi màng nhầy, lông mao. Màng tiết ra một chất dính gọi là chất nhầy. Chất nhầy và lông mao này giúp lọc không khí, ngăn sự xâm nhập lạ như vi sinh vật, hạt bụi. Chất nhầy cũng giúp làm ẩm không khí. Bên dưới màng nhầy, có các mao mạch máu làm nóng không khí để phù hợp với nhiệt độ cơ thể.

c. Mạch máu:

Bên dưới lớp biểu mô niêm mạc có tế bào bạch huyết và mạch máu dày đặc bao quanh, gọi là đám rối tĩnh mạch. Nó có tác dụng làm ấm không khí trước khi đi vào phổi. Do đó, khi các đám rối này bị tổn thương, người bệnh thường chảy rất nhiều máu (máu cam).

Mũi làm ấm, ẩm và làm sạch không khí nhờ niêm mạc mũi, mạng lưới mạch máu. Bụi, vi trùng, các dị vật nhỏ được giữ lại ở tiền đình mũi bởi lông mũi, lớp nhầy. Những chất này rơi vào họng và được nuốt hoặc khạc ra ngoài. Các tế bào lông chuyển chuyển động với nhịp độ từ 400 đến 800 nhịp/1 phút. Không khí vào đến phổi được thanh lọc đáng kể. Nếu thở đường miệng thì các dị vật sẽ đi vào thẳng họng, thanh quản, khí quản, phế quản và dễ gây bệnh.

Hệ thống tế bào ở hạ niêm mạc, sản sinh ra các thực bào và dịch thể miễn dịch như các loại IgE, IgG, IgA, IgM…

Ngoài ra thở đường mũi còn có tác dụng tạo một áp lực âm tính ở đường hô hấp dưới. Hiện tượng này bảo đảm sự thông khí tốt ở phổi và đưa vào một khối lượng oxy lớn hơn khi thở đường miệng.

Sự tắc nghẽn hoàn toàn hoặc một phần của mũi có thể dẫn đến một số bệnh của đường hô hấp như viêm họng, viêm khí quản, phế quản, …

Chức năng khứu giác được thực hiện bởi niêm mạc ngửi ở khoang trên chứa tuyến khứu giác và các tế bào thần kinh cảm giác, diện tích 2 – 3 cm2.

Niêm mạc ở vùng này màu đỏ gạch, mỏng, ít tuyến, ít mạch máu, ít lông tuyến.

Các chất có mùi hoà tan trong lớp màng nhầy trên tế bào cảm giác, tạo kích thích tới dây thần kinh khứu giác. Các tế bào thần kinh có hình dạng như các lông mao. Thông thường, mỗi người có khoảng 1 tỷ các tế bào khứu giác. Do đó, diện tích tiếp xúc của các phân tử mùi với các tế bào khứu giác khoảng 500 – 700 cm2. Điều này giúp con người có khứu giác tương đối nhạy và phân biệt được nhiều mùi khác nhau.

Các tế bào khứu giác có nhiệm vụ chuyển những kích thích đó về hành khứu. Ở hành khứu có những tế bào trung gian chuyển những xung động qua củ khứu rồi về các trung tâm khứu giác ở vỏ não. Các trung tâm này có nhiệm vụ phân tích mùi.

Khứu giác là giác quan đầy tính chất bản năng, có tính chất gợi nhớ lâu dài, mà người ta gọi là quen hơi.

Mũi rất dễ bị tổn thương và rối loạn chức năng khứu giác. Tắc mũi ảnh hưởng lớn đối với việc nhận biết mùi.

Ngoài ra, khứu giác kích thích phản xạ tiết nước bọt và dịch vị ở dạ dày.

Lời nói thường được tạo ra bởi áp lực từ phổi. Tuy nhiên, một số người có thể phát ra lời nói bằng cách sử dụng không khí từ mũi, được gọi là âm mũi.

Hố mũi phát ra những giọng mũi và tiếp thu những rung động của không khí trong khi phát âm và biến nó thành những kích thích chủ trì sự phối hợp các cơ họng và thanh quản, đóng vai trò quan trọng trong phát âm.

Để phát ra âm thanh từ mũi, bạn cần hạ thấp vòm miệng để phát ra các nguyên âm và phụ âm bằng cách để không khí thoát ra từ miệng và mũi.

Mũi có tác động đến giọng nói, tạo âm sắc, độ vang riêng biệt của từng người. Khi hốc mũi bị bịt kín hoặc tịt lỗ mũi sau hay trước, giọng nói sẽ mất độ vang, thay đổi âm sắc được gọi là giọng mũi kín.

Bác sĩ Đoàn Thị Hoài Trang

Lưỡi: Cấu Tạo, Chức Năng Và Các Bệnh Lý Thường Gặp

1. Cấu tạo

Lưỡi của con người được chia thành hai phần, một phần miệng ở phía trước và một phần hầu ở phía sau. Phần trước miệng là phần có thể nhìn thấy được nằm ở phía trước và chiếm khoảng hai phần ba chiều dài của lưỡi. Phần sau hầu là phần gần họng nhất, khoảng một phần ba chiều dài của nó. Những bộ phận này khác nhau về sự phát triển phôi thai và cung cấp dây thần kinh. Hai bên trái và phải cũng được ngăn cách dọc theo phần lớn chiều dài bởi một phần mô sợi dọc tạo ra một rãnh giữa, trên bề mặt lưỡi.

Lưỡi có hai nhóm cơ. Bốn cơ bên trong làm thay đổi hình dạng của lưỡi và không gắn liền với xương. Bốn cơ bên ngoài được ghép nối thay đổi vị trí của lưỡi và được gắn vào xương

Chiều dài trung bình từ hầu họng đến đầu lưỡi là 10 cm. Trọng lượng trung bình của lưỡi người đối với nam giới trưởng thành là 70g và đối với nữ trưởng thành là 60g.

Bề mặt trên của lưỡi được gọi là mặt lưng, và được chia bởi một rãnh thành hai nửa đối xứng bởi rãnh giữa. Rãnh tận cùng chia lưỡi thành một phần họng sau và một phần miệng trước.

2. Cung cấp máu cho lưỡi

Lưỡi nhận được nguồn cung cấp máu chủ yếu từ động mạch lưỡi, một nhánh của động mạch cảnh ngoài. Ngoài ra còn có một nguồn cung cấp máu thứ cấp đến gốc lưỡi từ nhánh amiđan của động mạch mặt và động mạch hầu họng đi lên.

3. Dây thần kinh của lưỡi

Bên trong lưỡi bao gồm các sợi vận động, các sợi cảm giác đặc biệt cho vị giác và các sợi cảm giác chung để cảm nhận.

Cung cấp vận động cho tất cả các cơ bên trong và bên ngoài là các sợi thần kinh vận động từ dây thần kinh XII, ngoại trừ cơ ức đòn chũm, được bao bọc bởi dây thần kinh phế vị (X).

Sự phát triển của vị giác và cảm giác khác nhau đối với phần trước và sau của lưỡi vì chúng có nguồn gốc từ các cấu trúc phôi thai khác nhau.

Hai phần ba trước của lưỡi:

Vị giác: nhánh của dây thần kinh mặt (VII) qua các sợi hướng nội tạng chuyên biệt.

Cảm giác: nhánh ngôn ngữ của thần kinh hàm dưới (V3) của dây thần kinh sinh ba (V) qua các sợi hướng tâm nội tạng chung

1/3 sau của lưỡi:

Vị giác và cảm giác: dây thần kinh IX thông qua một hỗn hợp của các sợi hướng tâm nội tạng chuyên biệt và chung.

4. Chức năng

4.1 Vị giác

Hóa chất kích thích tế bào thụ cảm vị giác được gọi là chất tạo vị. Một khi vị ngon được hòa tan trong nước bọt, nó có thể tiếp xúc với màng sinh chất của lông hút, là những vị trí dẫn truyền vị giác.

Lưỡi được trang bị nhiều nụ vị giác trên bề mặt lưng và mỗi nụ vị giác được trang bị các tế bào cảm thụ vị giác có thể cảm nhận các loại vị cụ thể. Các loại tế bào thụ cảm vị giác khác nhau lần lượt phát hiện các chất ngọt, đắng, mặn, chua, cay,..

4.2 Nghiền thức ăn

Lưỡi là một cơ quan phụ quan trọng trong hệ tiêu hóa. Nó được sử dụng để nghiền thức ăn trên vòm miệng cứng, nghiền thức ăn để làm mềm trước khi nuốt. Biểu mô ở mặt trên của lưỡi bị sừng hóa. Do đó, lưỡi có thể nghiến vào vòm miệng cứng mà không bị tổn thương hoặc kích ứng.

4.3 Phát âm

Các cơ bên trong của lưỡi cho phép tạo hình giúp tạo điều kiện thuận lợi cho việc nói.

4.4 Phân phối thuốc

Vùng dưới lưỡi là vị trí lý tưởng để đưa một số loại thuốc vào cơ thể. Niêm mạc miệng rất mỏng bên dưới lưỡi và được bao bọc bởi một đám rối tĩnh mạch. Đường dưới lưỡi có chất lượng mạch máu cao của khoang miệng và cho phép đưa thuốc vào hệ thống mạch máu một cách nhanh chóng, bỏ qua đường tiêu hóa.

Đây là đường dùng duy nhất thuận tiện và hiệu quả (ngoài liệu pháp tiêm tĩnh mạch) nitroglycerin cho bệnh nhân bị đau ngực do cơn đau thắt ngực.

4.5 Thân mật

Lưỡi đóng một vai trò trong sự gần gũi thể xác và tình dục. Lưỡi có thể được sử dụng khi tiếp xúc thân mật, như trong nụ hôn kiểu Pháp và quan hệ tình dục bằng miệng. Nó được sử dụng để tạo khoái cảm.

5. Các bệnh lý

Lưỡi dễ mắc một số bệnh lý bao gồm viêm lưỡi, hội chứng miệng bỏng rát, bạch sản có lông ở miệng, nhiễm nấm Candida ở miệng, xuất hiện lông đen và nứt lưỡi.

Có một số loại ung thư miệng chủ yếu ảnh hưởng đến lưỡi. Chủ yếu đây là ung thư biểu mô tế bào vảy.

Các mảnh vụn thức ăn, các tế bào biểu mô bong tróc và vi khuẩn thường tạo thành một lớp phủ trên lưỡi có thể nhìn thấy được. Lớp phủ này đã được xác định là một yếu tố chính góp phần gây ra chứng hôi miệng, có thể được kiểm soát bằng cách sử dụng dụng cụ vệ sinh lưỡi.

Bài viết trên hy vọng cung cấp các kiến thức cần thiết và các điều thú vị về lưỡi – một trong những bộ phận quan trọng để nhai, nuốt thức ăn và phát âm. Từ đó, các bạn cũng sẽ có những cách phù hợp để phòng tránh những bệnh lý thường gặp ảnh hưởng đến lưỡi.

Bác sĩ Hoàng Thị Việt Trinh

Cấu Tạo & Chức Năng Của Máy Chà Sàn Dạng Liên Hợp

Vệ sinh đơn giản với máy chà rửa sàn liên hợp

Máy chà sàn dạng liên hợp là gì?

Là thiết bị vệ sinh công nghiệp rất được ưa chuộng sử dụng hiện nay. Sản phẩm được cải tiến từ thiết bị chà sàn đơn, máy dần được tích hợp đa dạng những tính năng vượt trội không chỉ giúp nâng cao hiệu quả vệ sinh sàn nhà mà còn rút ngắn thời gian cùng công sức vệ sinh.

Tìm hiểu về chức năng máy chà sàn dạng liên hợp

Là một thiết bị vệ sinh thời hiện đại, thiết bị được đánh giá khá cao bởi sự tiện dụng cùng đa dạng tính năng vận hành. Cụ thể sản phẩm sở hữu những chức năng nổi bật gì?

Vệ sinh sàn nhà chuyên nghiệp

Với mỗi quyết định đầu tư máy, người dùng đều sẽ được tặng kèm bộ phụ kiện đa năng gồm nhiều loại bàn chải, pad chà. Bằng việc kết hợp sử dụng bàn chải chuyên dụng, hẳn quý vị sẽ phải bất ngờ với hiệu quả vệ sinh tuyệt vời mà thiết bị này có thể mang lại.

Hỗ trợ đánh bóng, bảo dưỡng mặt sàn

Sau một thời gian sử dụng, bề mặt sàn nhà thường mất đi độ sáng, bóng như những ngày đầu. Vấn đề này hoàn toàn có thể được giải quyết nhanh chóng bằng việc sử dụng thiết bị chà sàn đúng cách.

Việc chúng ta cần làm chỉ là pha loãng hóa chất tẩy rửa, thay thế bàn chải đánh bóng chuyên dụng và vận hành máy tới toàn bộ bề mặt sàn nhà để trả lại vẻ ngoài sáng bóng cho mặt sàn.

Thiết bị thường được sử dụng tại những không gian có diện tích lớn

Giặt thảm siêu nhanh siêu hiệu quả

model máy lau sàn hiện đại còn được tích hợp thêm khả năng giặt thảm cực kỳ tiện dụng. Thay vì phải nhờ tới đơn vị dịch vụ bên ngoài, với một chiếc máy lau sàn người dùng hoàn toàn có thể chủ động giặt, vệ sinh thảm trải sàn cực đơn giản.

Nhược điểm của máy lau sàn loại liên hợp

Tuy sở hữu nhiều chức năng vượt trội nhưng máy vẫn tồn tại một số nhược điểm không mong muốn, đó là:

Mức giá khá cao

So với máy chà sàn đơn, thiết bị này có mức giá cao hơn khá nhiều. Một sản phẩm rẻ nhất cũng có giá thành trên 20 triệu đồng nên thường chỉ phù hợp với những đơn vị có nhu cầu vệ sinh nhiều cho một không gian rộng lớn.

Bên cạnh đó giá máy còn bị phụ thuộc bởi khá nhiều yếu tố. Ví dụ như: Độ lớn công suất, tính năng, thương hiệu hoặc thậm chí là đơn vị cung ứng. Tùy vào nhu cầu sử dụng, quý vị có thể tham khảo chọn máy chà sàn liên hợp Kumisai, Palada hay máy chà sàn Supper Clean đây đều là những thương hiệu nổi bật trên thị trường hiện nay.

Sản phẩm ngày càng được cải tiến về thiết kế cũng như hiệu năng vận hành. Tuy nhiên việc được tích hợp đồng thời cả tính năng chà rửa và hút khô sàn nhà khiến thiết bị trở lên cồng kềnh hơn cả về kích thước lẫn trọng lượng. Dù vậy đổi lại việc vệ sinh với máy trở lên dễ dàng và hiệu quả hơn rất nhiều.

Việc sở hữu công suất vận hành lớn khiến kích thước máy có phần cồng kềnh, to lớn

Với kích thước to lớn, thiết bị này thường chỉ phù hợp với những khu vực có diện tích rộng và ít đồ đạc như nhà xưởng, bệnh viện, trung tâm thương mại lớn,…

Cấu tạo và nguyên lý vận hành máy lau sàn liên hợp Tìm hiểu về cấu tạo máy Tay cầm điều khiển máy

Đúng như tên gọi của mình, đây là bộ phận giúp người dùng dễ dàng điều khiển di chuyển máy tới các khu vực khác nhau trong quá trình vận hành máy. Bên cạnh đó hệ thống bàn điều khiển cũng được tích hợp trên bộ phận này giúp người sử dụng có thể dễ dàng thao tác với thiết bị.

Một số bộ phận cấu thành của máy lau sàn liên hợp

Bình chứa nước sạch và nước bẩn

Những thiết bị này được trang bị tới 2 bình chứa nước. Thông thường bình chứa nước bẩn được đặt ngay trên bình nước sạch qua đó giúp tối ưu kích thước máy sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của người dùng.

Trong đó bình chứa nước sạch dùng để chứa dung dịch vệ sinh hỗ trợ cho quá trình đánh bóng sàn, còn bình chứa nước bẩn dùng để chứa nước bẩn máy hút vào trong khi chà rửa. Máy cũng được trang bị van điều chỉnh tích hợp trên máy để kiểm soát lượng dung dịch phù hợp cho mỗi lần chà rửa

Motor là bộ phận đại diện cho khả năng vận hành của thiết bị. Số lượng motor sử dụng cho máy sẽ được quyết định dựa trên mục đích sử dụng cùng model máy.

Thường những sản phẩm máy chà sàn loại liên hợp ngồi lái thường sẽ được trang bị từ 2 motor trở lên do nhu cầu sử dụng lớn. Ngoài ra để phục những nhu cầu sử dụng vừa và nhỏ, nhiều model máy chỉ được trang bị 1 motor.

Hầu hết những model máy đều được trang bị động cơ lõi đồng siêu bền bỉ

Bàn chà gắn phía trước

Đây là bộ phận được sử dụng để gắn phụ kiện như bàn chải cứng, bàn chải mềm, mâm gai gắn pad nhằm hỗ trợ quá trình chà rửa sàn, đánh bóng sàn nhanh chóng, sạch sẽ hơn. Có thể nói bàn chà cũng chính là một trong những bộ phận đóng vai trò quyết định đối với hiệu quả làm việc của thiết bị.

Phần lớn những model máy chà rửa sàn nhà liên hợp thường có trọng lượng cùng kích thước khá lớn. Chính vì vậy hầu hết những model máy đều được trang bị hệ thống bánh xe đa chiều cùng tay đẩy chắc chắn để tăng tính cơ động cho thiết bị. Nhờ vậy việc vận hành hay di chuyển máy của người dùng cũng trở nên đơn giản và hiệu quả hơn rất nhiều.

Thiết bị được đánh giá khá cao bởi độ linh động trong quá trình vận hành

Nguyên lý vận hành

Về cơ bản nguyên lý vận hành dựa trên năng lượng từ hoạt động từ động cơ kích hoạt bàn chà máy hoạt động. Cùng với đó hóa chất được truyền từ ống dẫn tới bề mặt sàn nhà với lưu lượng phù hợp.

Bàn chà hoạt động kết hợp với hóa chất tẩy rửa cho hiệu quả vệ sinh, đánh bóng nhanh chóng và cực kỳ tiện dụng. Lúc này motor hút cũng đồng thời được kích hoạt hút sạch nước thải sau khi vệ sinh, qua đó giúp sàn nhà luôn khô thoáng, sáng bóng.

Cấu Tạo Chức Phận Và Các Bệnh Về Tai Cần Biết Đêns

Cấu tạo của tai gồm 3 phần: tai ngoài, tai giữa, tai trong.

Vành tai: vành tai là một lá sụn đàn hồi, hình loa, bên ngoài có da bao phủ

Ống tai ngoài: ống tai ngoài là một ống hơi dốc xuống dưới và ra trước, nửa ngoài ống tai là sụn, nửa trong là xương. Cuối ống tai có màng nhĩ ngăn cách tai ngoài và tai giữa. Thành ống tai có da bao phủ, trong lớp da này có nhiều lông và tuyến bã, tuyến mồ hôi đặc biệt tiết ra một hỗn dịch gọi là ráy tai.

Tai giữa là một hốc xương, thể tích chừng 1cm3 , nằm trong màng nhĩ , tai giữa thông với vòm họng bởi vòi ostat.

Tai trong nằm phía trong tai giữa, tai trong có cấu tạo và hình dáng phức tạp còn gọi là mê đạo.

Chức năng: thu nhận âm thanh

Vành tai có chức năng thu nhận, hứng âm thanh truyền vào lỗ tai ngoài. Sóng âm làm rung động màng tai, các rung động được truyền tiếp, qua các xương, các dịch. Mỗi âm thanh có độ khác nhau, tương ứng với một tần số rung động nhất định. Tai người có khả năng thu nhận những âm thanh có tần số từ 20-20000Hz, nhạy nhất trong phạm vi 1000-2000Hz

Đại cương: là hiện tượng viêm mủ cấp ở tai giữa, bệnh thường gặp ở trẻ em

Nguyên nhân thường gặp: do viêm mũi, viêm họng, viêm VA lan sang tai giữa hoặc do nhiễm khuẩn đường hô hấp như cúm, sởi, bạch hầu.

Triệu chứng

Giai đoạn đầu: trẻ sốt cao, ngạt mũi, sổ mũi, đau tai dữ dội, liên tục hoặc nhói từng cơn kèm theo nghe kém, ù tai, chóng mặt, có thể kèm theo tiêu chảy.

Giai đoạn vỡ mủ: mủ chảy ra tai ngoài do thủng màng nhĩ, bệnh nhân đỡ đau, hết sốt song còn ù tai.

Tiến triển: nếu được điều trị tốt thì bệnh sẽ khỏi hẳn sau vài tuần. Nếu không được điều trị thì sẽ có những biến chứng sau: viêm tai giữa mãn tính, viêm tai xương chũm dẫn đến áp xe não, tiêu chảy kéo dài, nghễnh ngãng hoặc điếc tai.

Điều trị: dùng kháng sinh: penicillin hoặc erythromycin, thời gian dùng khoảng 7-10 ngày; khi có mủ thì chích rạch màng nhĩ để tháo mủ, rồi rửa lại bằng nước oxy già 12 thể tích, rửa xong lau khô, cho bột acid boric vào.

copy ghi nguồn: http://https://health-guru.org/.

link bài viết: Cấu tạo của tai và các bệnh về tai

Những điều cần biết về răng và các bệnh về răng

Cập nhật thông tin chi tiết về Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non Và Ruột Già trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!