Xu Hướng 1/2023 # Cảm Biến Từ Là Gì? Ưu Điểm Của Cảm Biến Từ Là Gì?Ứng Dụng Như Thế Nào? # Top 3 View | Nhatngukohi.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Cảm Biến Từ Là Gì? Ưu Điểm Của Cảm Biến Từ Là Gì?Ứng Dụng Như Thế Nào? # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Cảm Biến Từ Là Gì? Ưu Điểm Của Cảm Biến Từ Là Gì?Ứng Dụng Như Thế Nào? được cập nhật mới nhất trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cảm biến từ là gì?

Cảm biến từ là cảm biến thuộc nhóm cảm biến tiệm cận; là thiết bị dựa trên nguyên lý cảm ứng điện từ. Nó phát hiện ra vật thể mang từ tính ( chủ yếu là sắt) không tiếp xúc; ở khoảng cách gần ( vài mm đến vài chục mm).

Hiểu một cách đơn giản, cảm biến từ sẽ tạo ra từ trường xung quanh nó. Khi đó nếu bất kì vật thể kim loại nào xuất hiện gần khu vực đó sẽ bị từ trường phát hiện; sau đó đưa tín hiệu báo về trung tâm.

Ưu điểm của cảm biến từ là gì?

Có thể chịu được môi trường khắc nghiệt.

Tuổi thọ cao hơn so với các loại cảm biến khác.

Dể dàng lắp đặt và sử dụng đơn giản.

Giá thành tương đối rẻ hơn so với các loại khác.

Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của cảm biến từ như thế nào?

Cấu tạo của cảm biến từ: cảm biến từ sẽ chia thành cuộn cảm, bộ cảm ứng và xử lý tín hiệu; ngõ ra điều khiển.

Nguyên lý hoạt động của cảm biến từ:

Khi được cấp nguồn, dòng điện sẽ chạy qua một mạch chứa cuộn cảm khi từ trường xuyên qua nó thay đổi. Hiệu ứng này sử dụng để phát hiện các vật thể kim loại tương tác với từ trường. Các chất phi kim loại như chất lỏng hoặc bụi bẩn sẽ không tương tác với từ trường. Do đó, cảm biến từ có thể hoạt động t ốt trong môi trường có bụi hoặc trong điều kiện ẩm ướt.

Cảm biến từ có kích thước và thiết diện càng lớn thì từ trường phát ra càng mạnh; điều này đồng nghĩa với khoảng diện tích mà nó có thể phát hiện vật thể càng lớn; hiệu quả sự dụng mà nó mang lại sẽ càng cao.

                                                            Nguyên lý hoạt động của cảm biến từ

Các loại cảm biến từ hiện nay?

Cảm biến từ có thể được phân loại dựa trên việc phát hiện sự khác biệt của cảm biến từ tính như trường thấp; trường trái đất và cảm biến từ trường sai lệch.

Cảm biến trường thấp

Các cảm biến này được sử dụng để phát hiện các giá trị cực thấp. Ứng dụng chủ yếu trong hạt nhân cũng như y tế.

Cảm biến trường trái đất

Cảm biến này sử dụng từ trường của trái đất; trong một số ứng dụng phương tiện cũng như phát hiện điều hướng.

Cảm biến từ trường nam châm

Những cảm biến này sử dụng để cảm nhận từ trường khổng lồ. Các cảm biến thuộc loại này chủ yếu gồm các thiết bị hội trường, cảm biến GMR và công tắc sậy.

Ứng dụng của cảm biến từ là gì?

Dùng để phát hiện kim loại.

Thường sử dụng trong các dây chuyền sản xuất nước giải khát, thực phẩm đóng hộp; đếm sản phẩm, linh kiện điện tử, sản xuất linh kiện.

Người ta có thể sử dụng cảm biến từ để đo độ dày các tạp chất bám vào thành ống sắt từ.

Cảm biến từ còn được ứng đụng để lắp đặt tại một số vị trí trên xe ô tô; với chức năng phát hiện kim loại để cảnh báo cho tài xế lái xe tại nhưng nơi khó quan sát. Những chiếc xe hiện đại còn chưa cảm biến từ để đo tốc độ bánh xe, tốc độ động cơ và nhiều hơn thế nữa.

Chúng thường được thấy trong các ứng dụng công nghiệp và trong thiết bị tiêu dùng. Ví dụ: máy in, máy tính có thể sử dụng cảm biến để phát hiện nắp mở hay giấy thiếu.

Cảm biến tiệm cận được sử dụng rất phổ biến cho các cảm biến từ. Ví dụ về điều đó sẽ là các cảm biến cửa sổ và cửa; trong các hệ thống an ninh gia đình. Bộ cảm biến gắn trên cửa hoặc cửa sổ hoặc cửa sổ gần cảm biến. Khi cửa hoặc cửa sổ mở ra, cảm biến sẽ phát hiện sự vắng mặt của từ trường và truyền tin hiệu  đến hệ thống an ninh. 

Cảm biến từ tính thường được sử dụng trên thang máy và thang máy; điều khiển cổng, phát hiện mức độ và kiểm soát truy cập.

Bên cạnh đó nhiều nơi người ta sử dụng cảm biến từ để đo thể tích chất lỏng trong bình kín; bằng việc thả một tấm xốp có gắn kim loại vào miệng thùng sau đó sử dụng cảm biến từ để đo.

Kết luận

Cảm Biến Là Gì Và Các Loại Cảm Biến?

Hầu hết các thiết bị tự động hay các đồ điện gia dụng ngày nay đều có rất nhiều cảm biến trong nó. Trong nhật ký Các thiết bị điện tự động được lập trình một cách thông minh nhờ các bộ vi xử lý hay còn gọi là CPU. Các CPU này sẽ đo lường các thông số vật lý bên ngoài môi trường thông qua các cảm biến để đưa ra tín hiệu điều khiển các thông số vật lý này ổn định theo một yêu cầu đặt ra. Chẳng hạn tôi lấy một ví dụ về chiếc nồi cơm điện tử. Dưới đáy nồi cơm điện tử có một cảm biến nhiệt độ, nó sẽ nhận biết đến nhiệt độ cạn nước khoảng từ 100-120 độ C (tùy vào hãng thiết kế) . CPU trong mạch điều khiển nồi cơm nhận biết được nhiệt độ này thông qua cảm biến và ra lệnh ngắt điện không cho cấp vào sợi đốt nóng chính mà cho điện cấp vào sợi đốt nóng phụ để chuyển sang chế độ ủ cơm. Đấy, cảm biến nó đóng vai trò quan trọng như vậy đấy. Không có cảm biến thì máy móc sẽ không thể thông minh được. Nếu chiếc cảm biến nhiệt độ bên trong Các cảm biến đều bị thay đổi một giá trị nào đó khi được tác động bởi một thông số vật lý phù hợp. Dù là hoạt động trên nguyên tắc nào thì từ đầu ra của cảm biến cũng phải đưa ra một giá trị điện áp(cảm biến Analog) hoặc một chuỗi dữ liệu số (cảm biến Digital) để đưa vào CPU xử lý. Các cảm biến tương tự (Analog) thông thường như nhiệt điện trở , quang điện trở, cặp nhiệt điện, photo quang, photo transisto thường thấy trong nhiều thiết bị như bếp từ, – Nhiệt điện trở: Còn được gọi là NTC hay PTC. Đây là một cảm biến rất hay gặp trên sửa nồi cơm điện, sửa bếp từ, sửa lò vi sóng, sửa amply của chúng tôi thì có rất nhiều kiểu cảm biến được tích hợp trong các thiết bị này. Vậy cảm biến là gì và có vai trò như thế nào đối với mỗi thiết bị trên? Để minh họa một cách gần gũi nhất thì có thể nói các cảm biến cũng giống như các giác quan của chúng ta như mắt, mũi, lưỡi, da, tai….nhằm nhận biết những thay đổi của các thông số môi trường bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, màu sắc, cường độ âm thanh, mùi. Tuy nhiên chúng ta chỉ có 5 giác quan chính thì cảm biến có đến cả ngàn loại để cảm nhận nhiều thông số vật lý mà giác quan con người không cảm nhận được như từ trường, gia tốc, trọng lực, dòng điện, điện dung….

Tại sao lại phải sử dụng cảm biến trong các thiết bị điện tự động?

nồi cơm kia mà hỏng thì sẽ ra sao nhỉ? chắc chắn là cơm sẽ không được nấu hoặc sẽ sống hoặc là sẽ cháy khê. Nói tóm lại muốn khống chế được các thông số vật lý như nhiệt độ, ánh sáng, dòng điện, từ trường, vận tốc…. thì cần phải dùng đến cảm biến.

Cảm biến hoạt động như thế nào ?

nồi cơm điện tử, bếp hồng ngoại, điều khiển từ xa, lò vi sóng… bếp từ và các hệ thống làm lạnh. Nó có giá trị điện trở thay đổi khi nhiệt độ môi trường bên ngoài thay đổi. Người thiết kế sẽ mắc nối tiếp nhiệt điện trở này với một điện trở cố định và cấp cho mạch này một điện áp cố định. Khi điện trở của nhiệt điện trở thay đổi bởi nhiệt độ thì điện áp trên hai đầu của điện trở cũng thay đổi theo. Điện áp này được đưa vào CPU tính toán và xử lý để nhận biết nhiệt độ tương ứng. Các nhiệt điện trở của bếp từ thông thường có gí trị từ 60K đến 80KOhm ở nhiệt độ bình thường (20 đến 30 độ C). Đối với loại là NTC thì điện trở giảm khi nhiệt độ tăng và với loại PTC thì điện trở tăng khi nhiệt độ giảm.

– Quang điện trở: Còn được biết đến với ký hiệu LDR. Được gặp nhiều trong các đèn ngủ tự động bật khi trời tối, các bộ điều khiển đèn đường… Nó có giá trị điện trở thay đổi theo cường độ ánh sáng chiếu vào nó. Cách mắc và nguyên tắc hoạt động tương tự như nhiệt điện trở, chỉ khác là thông số vật lý tác động là khác nhau. Ở bên ngoài ánh sáng điện trở của quang điện trở rất nhỏ chỉ vài chục Ohm, còn trong bóng đêm thì điện trở của nó lên tới vài Mega Ohm.

– Cặp nhiệt điện: Hay còn gọi là thermocouple Được dùng nhiều trong máy móc công nghiệp như máy nướng bánh, máy đốt rác, máy nấu gang , thép. .. Đây là cảm biến chuyên dụng để đo các nhiệt độ cao. Nguyên tắc hoạt động của nó khác hẳn với nhiệt điện trở. Cặp nhiệt điện có cấu tạo bởi hai thanh kim loại khác nhau, được hàn chung bởi một mối hàn. Khi mối hàn này được cho tác động lên một nhiệt độ nào đó thì trên hai đầu của hai thanh kim loại xuất hiện một hiệu điện thế. Hiệu điện thế này sẽ được đưa vào CPU tính toán và xử lý. Vì nhiệt độ bếp hồng ngoại rất cao lên cảm biến này được dùng trong bếp hồng ngoại. Nếu đo bằng đồng hồ vạn năng trên hai đầu cảm biến này sẽ giống như là thông mạch vì nó không phải là nhiệt điện trở. Còn rất nhiều các loại cảm biến khác nữa như cảm biến gia tốc, cảm biến dòng điện, cảm biến từ trường, cảm biến trọng lực, cảm biến hồng ngoại, cảm biến lực…. nhưng dù có là loại cảm biến gì thì cũng sẽ phải có một đầu ra là điện áp hoặc một chuỗi dữ liệu số để đưa vào CPU xử lý. Với những cảm biến có hai đầu thì đó là cảm biến thụ động, thông thường nó sẽ có giá trị điện trở hoặc điện áp thay đổi theo thông số vật lý tác động lên nó. Với những cảm biến có 3 đầy dây hoặc nhiều hơn thì nó là một tổ hợp các mạch xử lý bên trong. Với những cảm biến này chắc chắn sẽ có 2 đầu dây cấp nguồn nuôi nó, những đầu dây còn lại là những dây để truyền dữ liệu số về CPU.

Hiểu rõ về cảm biến, cấu tạo cũng như nguyên lý hoạt động của nó sẽ giúp bạn rất nhiều trên con đường trở thành một kỹ thuật viên điện tử. Các cảm biến có mặt ở khắp mọi máy móc như bếp từ, lò vi sóng, nồi cơm điện, máy giặt, máy sấy bát, máy sấy tay, máy khử ozon, amply, các thiết bị máy móc tự động…. Mọi điều thắc mắc xin để lại nhận xét dưới bài đăng.

Kỹ thuật viên : Nguyễn Anh Tú!

Cảm Biến Vân Tay Là Gì?

Cảm biến vân tay hiện tại đang là một xu hướng trên điện thoại, laptop và máy tính bảng. Vậy cảm biến vân tay này có ý nghĩa gì trong quá trình sử dụng thực tế của người dùng?

Cảm biến vân tay là gì?

Cảm biến vân tay là gì?

Cảm biến vân tay hay còn có tên gọi khác là cảm biến nhận diện vân tay là một dạng lưu trữ vân tay của người dùng bằng công nghệ sinh trắc học với những loại sóng khác nhau, sau đó lưu lại những bề mặt lồi lõm và cả lớp da của tay để lưu lại nhằm đảm bảo tính bảo mật khi người dùng đăng nhập vào thiết bị. 

Nguyên lý hoạt động của cảm biến vân tay

Nguyên lý hoạt động của cảm biến vân tay

Về cơ bản, cảm biến vân tay là một hệ thống có khả năng lưu bản in vân tay của người dùng một cách nhanh chóng nhờ một hệ thống được đặt dưới khung quét. Người dùng đặt tay lên khung quét đó ( Ví dụ: nút Home trên iPhone 7/7 Plus) và các cảm biến trên khung quét sẽ lưu lại các hình ảnh đó và các phân mèm sẽ phân tích hình ảnh này theo các vị trí lồi/lõm trên đầu ngón tay của bạn. Trên lý thuyết, trong quá trình sử dụng thực tế, nhận dạng vân tay sẽ cho phép loại bỏ hoàn toàn các mật khẩu bảo mật trên điện thoại song vẫn đảm bảo tính bảo mật khi người dùng đăng nhập vào thiết bị. 

Ưu và nhược điểm của cảm biến vân tay trên thiết bị di động

Ưu và nhược điểm của cảm biến vân tay trên thiết bị di động

1.

Ưu điểm

– Các thiết bị tích hợp cảm biến vân tay sẽ có tốc độ mở khóa nhanh hơn chỉ bằng một chạm hoặc vuốt nhẹ.

– Tính bảo mật cao cấp và an toàn hơn rất nhiều, bảo vệ an toàn các dịch vụ quan trọng như Internet Banking và mua hàng trực tuyến. 

– Dễ sử dụng, độ nhạy cao, tiếp cận dễ dàng với người dùng. 

– Cảm biến vân tay không thể làm giả mang đến khả năng bảo mật tuyệt vời. 

2.

Nhược điểm 

– Cảm biến vân tay là một hệ thống xác thức, không đóng vai trò bảo vệ dữ liệu trên thiết bị. Bởi vậy, nếu như bạn bị mất ý thức thì người lạ có thể sẽ dùng ngón tay của bạn để mở khóa. 

– Thiết bị của bạn sẽ không được mở khóa nếu như ngón tay của bạn bị biến dạng do một lý do nào đó. 

Các thiết bị di động tích hợp công nghệ cảm biến vân tay

Các thiết bị di động tích hợp công nghệ cảm biến vân tay

Cảm biến vân tay là tính năng được các hãng di động cũng như các nhà làm phần cứng ưa chuộng rất nhiều bởi khả năng tích hợp dễ dàng, độ nhạy cao và dễ dàng sử dụng. Một số các thiết bị smartphone sử dụng cảm biến vân tay hiện nay như:

– Samsung: Galaxy Note 8, Galaxy J7 Pro, Galaxy J7 Plus, Galaxy S8/S8 Plus,…

– Apple: iPhone 7/7 Plus, iPhone 6, iPhone 8/8 Plus

– Oppo: Oppo F3, F3 Plus,… 

Cảm Giác Là Gì ? Cảm Giác Có Những Đặc Điểm Và Vai Trò Như Thế Nào ?

Cảm giác là gì ? Cảm giác có những đặc điểm và vai trò như thế nào ?

Lời mở đầu Trong cuộc sống thường ngày con người luôn bị tác động bởi các sự vật, hiện tượng vô cùng đa dạng và phong phú. Các sự vật, hiện tượng bằng các thuộc tính của mình như màu sắc, âm thanh, hình dáng, khối lượng, tính chất….tác động vào nhận thức của con người, từ đó đầu óc của con người có được hình ảnh về các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Mà như chúng ta đã biết nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người (nhận thức, tình cảm và hành động). Nó quan hệ chặt chẽ với các mặt kia, nhưng không ngang hàng về nguyên tắc. Nó cũng có quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lí khác của con người. Nhận thức là một quá trình. Ở con người quá trình này thường gắn liền với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoat động. Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan. Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, trừu tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện tượng khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm). Ở đây chúng ta tìm hiểu quá trình phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính, bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang tác động vào các giác quan của con người, như vậy gọi là cảm giác.Vậy chúng ta đặt ra câu hỏi: cảm giác là gì ? Cảm giác có những đặc điểm và vai trò gì ?

Khái niệm Cảm giác. Để tồn tại trong cuộc sống này con người phải chịu sự tác động của vô vàn các sự vật, hiện tượng xung quanh. VD: Khi bước ra ngoài đường ta có thể lắng nghe được tiếng xe cộ chạy ồn ào, nhìn thấy mọi vật đang chuyển động và cũng có thể cảm nhận được thế giới xung quanh ta đang ngày càng có những sự thay đổi mới. Vậy nhờ đâu mà chúng ta có thể làm được điều đó ? Điều đó đặt ra cho chúng ta một câu hỏi lớn và chúng ta có thể tạm trả lời rằng đó là nhờ cảm giác. Mọi sự vật hiện tượng xung quanh ta tất cả đều được bộ não phản ánh lại nhờ vào cảm giác. Nhưng bộ não chúng ta chỉ mới phản ánh được từng thuộc tính bề ngoài của sự vật nhờ vào cảm giác. VD: Ta đặt vào lòng bàn tay xoè ra của người bạn một vật bất kì với yêu cầu trước đó người bạn phải nhắm mắt, bàn tay không được nắm hay sờ bóp thì chắc chắn người bạn không biết đích xác đó là vật gì, mà chỉ có thể biết đươc vật đó nặng hay nhẹ, nóng hay lạnh…nghĩa là người bạn mới chỉ phản ánh được từng thuộc tính bề ngoài của sự vật đó nhờ cảm giác. Từ ví dụ trên cho thấy cảm giác là hình thức đầu tiên mà qua đó mối quan hệ tâm lí của cơ thể với môi trường được thiết lập. Nói cách khác, cảm giác là mức độ phản ánh tâm lí đầu tiên, thấp nhất của con người nói chung và của hoạt động nhận thức nói riêng. Những nghiên cứu về sự phát triển của hoạt động nhận thức xét về mặt tiến hoá sinh vật (phát sinh chủng loại) cũng như về mặt hình thành cá thể (phát sinh cá thể) để chỉ rõ cảm giác là hình thức đầu tiên của cơ thể trong thế giới xung quanh. VD: Những con vật cấp thấp, sơ đẳng chỉ phản ánh được những thuộc tính riêng lẻ, có ý nghĩa sinh học trực tiếp của các sự vật, hiện tượng. Đứa trẻ trong những tuần lể đầu tiên của cuộc đời cũng như vậy. Nói cách khác, chúng mới chỉ liên hệ được với môi trường nhờ cảm giác, chúng mới chỉ có cảm giác.

Đặc điểm của Cảm giác – Cảm giác là một quá trình tâm lý, quá trình tâm lý là những hoạt động tâm lý diễn ra trong một thời gian tương đối ngắn, có mở đầu, diễn biến, kết thúc tương đối rõ ràng. Kích thích gây ra cảm giác là chính sự vật hiên tượng trong hiện thực khách quan và các trạng thái tâm lý của chính bản thân ta. cam giac Ở đây cần thấy sự khác biệt với khái niệm “cảm giác” như là sản phẩm của quá trình nhận thức. Nói cảm giác là một quá trình thì phải có những điều kiện tiền đề để tác động đến não bộ, kích thích não. Từ đó simh ra cảm giác và nó còn tiếp diễn một thời gian rồi kết thúc cảm giác ấy. Nói cảm giác là sản phẩm của quá trình nhận thức. VD: Để quan sát một con hổ, ý nghĩ đầu tiên trong đầu ta là phải có con hổ, rồi khi nhìn thấy con hổ tự nhiên đem đến cho ta cảm giác sợ hãi và cảm giác đó kéo dài một thời gian, cho đến khi con hổ biến mất và cảm giác sợ hãi sẽ tiêu tan dần. Như vậy ta có thể nói rằng: Khi kích thích ngừng thì cảm giác cũng ngừng tắt. – Cảm giác chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng chứ không phản ánh được trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Con người chỉ có thể phản ánh được một hoặc một vài thuộc tính nhất định, những thuộc tính căn bản nhất. Nghĩa là cảm giác mới chỉ cho ta biết từng cảm giác cụ thể, một kích thích tác động sẽ cho ta một cảm giác tương ứng. VD: Khi ta chạm tay vào nước nóng, nó tác động đến tay và gây cho ta một cảm giác nóng thông qua xúc giác ta chưa thể phân biệt được hết các thuộc tính của sự việc ấy và bản chất của nó. – Cảm giác phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp, tức là sự vật, hiện tượng phải đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta, thì mới tạo ra được cảm giác. VD: Khi chạm tay vào nước nóng, tay ta trực tiếp cảm giác được tay ta bị nóng thông qua mạc giác của mình. Phản ánh trực tiếp tác động vào các giác quan của cơ thể truyền đến não để ta phân biệt với phản ánh gián tiếp: Khi sự vật hiện tượng tác động không thông qua các giác quan một cách trực tiếp nhưng vẫn cho ta cảm giác. VD: Khi ta nhìn thấy một người đang ăn chanh, lúc đó ta có cảm giác mình đang nuốt nước bọt và cũng cảm thấy chua giống người đang trực tiếp ăn vậy. Cảm giác ấy đã được con người hình thành qua một quá trình tâm lý, khi đó tác động đến đối tượng khác thì cũng kích thích đến bản thân cảm giác ấy. – Cảm giác ở người chỉ là mức độ định hướng đầu tiên đơn sơ nhất, không phải ở mức độ cao nhất, duy nhất như ở một số loài động vật, nó khác xa về chất so với cảm giác của con vật. Cảm giác ở con người chịu ảnh hưởng của các hiện tượng tâm lí cao cấp khác của con người. Cảm giác của con người phát triển mạnh và phong phú dưới tác động của giáo dục và hoạt động, tức là cảm giác của con người được tạo ra mang đặc thù của xã hội, do đó mang đậm tính của xã hội. VD: nhờ hoạt động nghề nghiệp mà có người thợ dệt phân biệt được 60 màu đen khác nhau, có những người đầu bếp nếm được bằng mũi hoặc có những người đọc được bằng tay. Các đặc điểm trên của cảm giác chứng tỏ mức độ phản ánh tâm lí thấp và tính chất hạn chế của cảm giác. Trong thực tế, để tồn tại và phát triển con người cần phải nhận thức cả những sự vật, hiện tượng không trực tiếp tác động vào các giác quan của mình.

Vai trò của Cảm giác Trong cuộc sống nói chung và hoạt động nhận thức nói riêng của con người, cảm giác có những vai trò quan trong sau đây: – Cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người và con vật trong hiên thực khách quan tạo nên mối liên hệ trực tiếp trong cơ thể và môi trường xung quanh. Cảm giác chỉ phản ánh riêng lẻ từng thuộc tính bên ngoài sự vật, hiện tượng, nó tác động trực tiếp vào cơ quan cảm giác của chúng ta tức là sự vật đang hiện diện ở đây và bây giờ trong mối quan hệ với con người. VI.Lênin đã chỉ rõ: “Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa ý thức và thế giới bên ngoài, là sự chuyển hoá của năng lượng kích thích bên ngoài thành hiện tượng ý thức”. VD: khi thời tiết nắng nóng nhờ có cảm giác mà ta nhận thấy được cơ thể ta đang nóng lên và cơ thể sẽ tự điều tiết toát ra mồ hôi để giảm nhiệt độ của cơ thể. – Cảm giác chính là kênh thu nhận các loại tư tưởng phong phú và sinh động từ thế giới bên ngoài ảnh hưởng quan trọng đến nhận thức cao hơn sau này. Không có nguyên vật liệu quan trọng với cảm giác thì không thể có nhận thức cao hơn. VI.Lênin cho rằng: “Cảm giác là nguồn gốc duy nhất của hiểu biết”. Ngày nay các nhà triết học còn chỉ ra vai trò của từng loại cảm giác trong vật chất thu nhận tư tưởng từ phía khách quan: vị giác 1%; xúc giác 1.5%; khứu giác 3.5%; thính giác 11%; thị giác 83%. – Cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động của võ não, nhờ đó đảm bảo hoạt động thần kinh của con người được bình thường. Nếu con người trong trạng thái “đói cảm giác” các chức năng tâm sinh lí sẽ bị rối loạn. VD: Những người không tiếp xúc với thế giới bên ngoài thì sẽ có tâm trạng không bình thường như: sợ ánh sáng, lo âu, buồn chán,… – Cảm giác là nguồn cung cấp những nguyên vật liệu cho chính các hình thức nhận thức cao hơn “Cảm giác là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận thức”. V.L.Lênin đã nói: “Ngoài thông qua cảm giác, chúng ta không thể nào nhận thức được bất cứ một hình thức nào của vật chất, cũng như bất cứ hình thức nào của vận động”, “tiền đề đầu tiên của lí luận về nhận thức chắc chắn nói rằng cảm giác là nguồn gốc duy nhất của hiểu biết” và “Tất cả hiểu biết đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, từ cảm giác, tri giác”. Nếu không có cảm giác thì chúng ta không hiểu biết gì về hình thức vật chất. VD: khi ta đang đi trên đường mà vấp phải một hòn đá thì ta sẽ bị ngã và lần sau nếu đi qua đoạn đường đó ta sẽ chú ý hơn sẽ không bị té lần nữa. – Cảm giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọng đối với người bị khuyết tật. Những người mù, câm, điếc nhận ra đồ vật, người thân nhờ xúc giác. VD: người bị câm thì giao tiếp với người khác bằng ánh mắt, hành động chân tay và những cử chỉ cụ thể… – Cảm giác giúp con người có cơ hội làm giàu tâm hồn, thưởng thức thế giới xung quanh chúng ta. Cảm giác giữ cho não ở trạng thái hoạt hoá đảm bảo hoạt động của xung thần kinh, giúp cho con người làm giàu tâm hồn, thưởng thức thế giới diệu kì xung quanh.

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Biến Từ Là Gì? Ưu Điểm Của Cảm Biến Từ Là Gì?Ứng Dụng Như Thế Nào? trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!