Xu Hướng 1/2023 # Các Thiết Lập Đèn Flash Rời Cho Người Mới Chơi (Phần Ii) # Top 5 View | Nhatngukohi.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Các Thiết Lập Đèn Flash Rời Cho Người Mới Chơi (Phần Ii) # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Các Thiết Lập Đèn Flash Rời Cho Người Mới Chơi (Phần Ii) được cập nhật mới nhất trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chọn một Chế Độ Chụp Chọn chế độ chụp phù hợp với ý định và nội dung của ảnh bạn muốn chụp. Chụp ảnh có đèn flash có thể được sử dụng ở bất kỳ chế độ chụp nào.    -Chọn Shutter-priority AE khi bạn muốn chụp các đối tượng chuyển động và không bị nhòe, hoặc sử dụng hiệu ứng nhòe để thể hiện sự chuyển động.    -Chọn Aperture-priority AE nếu bạn muốn điều chỉnh chiều sâu trường ảnh để sử dụng hiệu ứng bokeh, hoặc để tạo một ảnh có nét dày. Nếu chế độ đèn flash được chọn là E-TTL, có thể thực hiện chụp ảnh có đèn flash ở bất kỳ chế độ chụp nào trong Basic Zone và Creative Zone của máy ảnh. Tuy nhiên, không thể thực hiện bù phơi sáng bằng đèn flash ở chế độ Full Auto và các chế độ cảnh. Mặt khác, nên sử dụng chế độ chụp bù phơi sáng thủ công khi chọn chế độ đèn flash thủ công. Xác định các thiết lập chẳng hạn như khẩu độ của , tốc độ cửa trập và độ nhạy sáng ISO tùy vào ý định chụp, và bạn có thể điều chỉnh công suất đèn flash bằng tay dựa trên các điều kiện này. Chọn một Chế Độ Đồng Bộ Cửa Trập Chọn một chế độ đồng bộ cửa trập sau khi chọn chế độ chụp. Sử dụng High-speed sync khi tốc độ cửa trập mong muốn cao hơn tốc độ tối đa mà đèn flash có thể đồng bộ. Cân nhắc sử dụng đồng bộ màn chắn đầu tiên hoặc đồng bộ màn chắn thứ hai đối với các ảnh phơi sáng lâu.    -Để thực hiện cài đặt dùng trình đơn máy ảnh, chọn chế độ mong muốn từ [Shutter synchronization] trong [External flash function settings]. Để cài đặt bằng đèn flash, nhấn nút High-speed sync (FP flash)/Shutter-curtain synchronization. Nhấn nút này mỗi lần sẽ cho phép chuyển đổi giữa đồng bộ tốc độ cao và đồng bộ cửa trập-màn chắn.

Ống kính với thân máy, cái nào quan trọng hơn?

Điều chỉnh độ nhạy sáng ISO Điều chỉnh độ nhạy sáng ISO trực tiếp ảnh hưởng đến phơi sáng và hoàn thiện của ảnh. Có thể điều chỉnh độ nhạy sáng ISO khi ảnh tối hơn mong muốn, hoặc khi tốc độ cửa trập đã chọn chậm hơn mong muốn. Để điều chỉnh thiết lập ISO, nhấn nút ISO trên máy ảnh, chọn một độ nhạy sáng ISO phù hơp.    -Với độ nhạy sáng ISO cao, độ nhạy của cảm biến hình ảnh với ánh sáng sẽ tăng và ánh sáng khuếch tán yếu từ đèn flash có thể không phát hiện được ở độ nhạy sáng ISO thấp có thể được chụp và phản xạ trong ảnh, do đó dẫn đến ảnh chung sáng hơn. Tuy nhiên, vì khó đo những thay đổi ở mức phơi sáng khi độ nhạy sáng ISO thay đổi, bạn nên chụp thử cùng với các thay đổi độ nhạy sáng ISO. Một độ nhạy sáng ISO cao hơn cũng hiệu quả để chống rung máy hoặc chuyển động của đối tượng ở cả chụp ảnh bình thường lẫn chụp ảnh có đèn flash. Xác Định Độ Sáng Nền Sau Dùng Bù Phơi Sáng Ánh sáng từ đèn flash khó có thể vươn đến nền phía sau chủ thể, do đó, bạn có thể áp dụng Bù Phơi Sáng để điều chỉnh độ sáng của nền sau. Bù phơi sáng có thể dựa trên những điều chỉnh độ sáng ngoài phạm vi có thể chiếu sáng bởi ánh sáng từ đèn flash. Ở các mẫu máy có thông số trung bình và cao, có thể cài đặt mức bù bằng cách xoay Bánh Xe Điều Chỉnh Nhanh trong khi nhấn hờ nút cửa trập hay có thể điều chỉnh bù phơi sáng bằng cách vận hành bánh xe chính trong khi nhấn và giữa nút Bù Phơi Sáng. Đặt mức bù bằng cách xoay Bánh Xe Chính trong khi nhấn và giữ nút Bù Phơi Sáng. Xoay bánh xe sang phải sẽ tăng độ sáng, trong khi xoay sang trái sẽ làm cho ảnh tối hơn. Có thể cài đặt mức bù bằng cách xoay Bánh Xe Điều Chỉnh Nhanh trong khi nhấn hờ nút cửa trập. Xoay bánh xe sang phải sẽ tăng bù độ sáng, và xoay sang trái sẽ giảm độ sáng. Xác Định Độ Sáng của Đối Tượng Dùng Công Suất Đèn Flash Để điều chỉnh độ sáng của một đối tượng trong phạm vi của đèn flash, hãy điều chỉnh công suất đèn flash. Dùng bù phơi sáng nếu bạn dùng chế độ E-TTL flash. Chỉ có công suất đèn flash thay đổi trong thao tác bù phơi sáng bằng đèn flash. Do đó, chỉ có thể làm dịu độ sáng của đối tượng trong phạm vi của đèn flash mà không ảnh hưởng đến độ sáng của nền sau. Đối với các mẫu máy có thông số trung bình và cao, các điều chỉnh được thực hiện bằng cách nhấn nút Bù Phơi Sáng và xoay Bánh Xe Chính. Tuy nhiên, khi làm như thế, các thiết lập đã cho biết trên đèn flash sẽ được ưu tiên, và mất khả năng điều chỉnh trên máy ảnh. Do đó, khi chụp ảnh có đèn flash, bạn nên điều chỉnh bù phơi sáng bằng đèn flash trên máy ảnh.

Với 15 triệu đồng, bạn có cơ hội tiếp cận với combo máy ảnh nào?

Điều Chỉnh Góc của Đầu Đèn Flash Bằng cách dùng đèn flash ngoài có đầu đèn flash điều chỉnh được, có thể điều chỉnh góc đèn flash để cải thiện kết quả của ảnh. Cũng sẽ có thể sử dụng ánh sáng phản xạ bằng cách phản xạ ánh sáng từ một bức tường hoặc trần nhà để có hoàn thiện mịn hơn. Phẩm chất cao nhất của chụp ảnh có đèn flash dùng máy ảnh số sẽ là khả năng chụp được số ảnh chụp thử mong muốn. Khi ảnh không phù hợp, cách ngắn nhất để cải thiện sẽ là thực hành lặp đi lặp lại bằng cách thay đổi các thiết lập chẳng hạn như chế độ chụp, chế độ đồng bộ, và độ nhạy sáng ISO. Một chiếc đèn flash ngoài thực sự sẽ cho phép không chỉ điều chỉnh góc của đầu đèn flash, mà còn cho phép điều chỉnh góc của đèn flash (chiều rộng bao phủ của đèn). Điều chỉnh góc đèn flash sẽ giúp mở rộng phạm vi biểu đạt nhiếp ảnh của bạn. Để thực cài đặt trên máy ảnh, chọn [Zoom] trong trình đơn [External flash function settings], và chọn một độ dài tiêu cự (góc ngắm). Để cài đặt bằng đèn flash, nhấn nút Zoom và chọn độ dài tiêu cự dùng nút +/-, sau đó xác nhận lựa chọn dùng nút SEL/SET. Phạm vi bao phủ tối ưu của đèn flash sẽ được chọn tự động cho khớp với ống kính được sử dụng khi chọn Auto trên máy ảnh (M của M Zoom sẽ không xuất hiện trên đèn flash). >>> Tìm hiểu thêm về mua máy ảnh trả góp tại .

Cách Thiết Lập Tính Năng Chia Sẻ Trong Gia Đình Cho Các Thiết Bị Apple

Chia sẻ trong gia đình (Family Sharing) cho phép bạn và tối đa năm thành viên khác dễ dàng chia sẻ nội dung Apple Books, mua ứng dụng trên Apple Store, đăng ký gói Apple Music gia đình và sử dụng chung dung lượng iCloud. Gia đình bạn cũng có thể chia sẻ ảnh và lịch chung, hoặc tìm thiết bị thất lạc của thành viên khác.

Trước tiên, bạn cần đảm bảo những yếu tố sau trên tất cả thiết bị thành viên trong gia đình:

ID Apple đã đăng nhập vào iCloud.

iPhone, iPad hoặc iPod touch chạy iOS 8 trở lên, Mac chạy OS X Yosemite trở lên.

1. Thiết lập Chia sẻ trong gia đình

Trên iPhone, iPad hoặc iPod touch của bạn:

Lưu ý: Người tổ chức (Family Organizer) là người đầu tiên thiết lập tính năng Chia sẻ trong gia đình và chịu trách nhiệm thiết lập các mục chia sẻ, cũng như thanh toán toàn bộ nội dung và ứng dụng mà mọi thành viên trong gia đình mua.

2. Thêm thành viên vào nhóm

Trên iPhone, iPad hoặc iPod touch của bạn:

Thành viên đó đang ở gần bạn, hãy yêu cầu họ nhập ID Apple.

Thành viên đó không ở gần bạn, hãy chọn giải pháp gửi lời mời bằng tin nhắn iMessage.

Thành viên là con nhỏ, hãy tạo ID Apple cho chúng.

3. Kiểm tra xem thành viên gia đình có chấp nhận lời mời không

Sau khi gửi lời mời, bạn có thể kiểm tra trạng thái chấp nhận của từng thành viên. Trên iPhone, iPad hoặc iPod touch của bạn:

Để chấp nhận hoặc từ chối lời mời tham gia một nhóm gia đình, trên iPhone, iPad hoặc iPod touch của bạn:

4. Bắt đầu chia sẻ

Apple Store, Apple Music Family, Apple Arcade, Apple News+, Apple TV, Apple TV+ và iCloud.

Chia sẻ album ảnh, lịch và lời nhắc.

Chia sẻ vị trí cá nhân giúp tìm các thiết bị thất lạc của thành viên khác.

Nếu bạn có con dưới 13 tuổi, bạn có thể bật yêu cầu mua hàng và quản lý thời gian sử dụng ứng dụng của con trẻ.

Chia sẻ trong gia đình được thiết kế để sử dụng cho gia đình (bao gồm người lớn và trẻ em). Mỗi thành viên chỉ có thể tham gia vào một nhóm gia đình và chuyển sang nhóm gia đình khác mỗi năm một lần. Ngoài ra, các tính năng có thể khác nhau tùy theo vùng và quốc gia bạn sinh sống.

Sau khi hoàn thành thiết lập Chia sẻ trong gia đình, toàn bộ thành viên có thể mua ứng dụng thông qua một tài khoản chung, cũng như sử dụng được tất cả những ứng dụng mà thành viên khác đã mua.

Hướng Dẫn Lập Trình Python Cho Người Mới Bắt Đầu

Windows:

Ubuntu

Sử dụng “Grammar Version” 3.x (Ngữ pháp phiên bản 3.x):

Project đã được tạo ra.

Thêm nội dung cho chúng tôi :

print ("Hello Python!"); x = 5; y = 10; z = 20; print (x + y + z);

Chạy file chúng tôi bằng cách nhấn phải chuột vào nó và chọn:

Kết quả nhận được khi chạy chúng tôi :

Trong Python, module có thể hiểu một cách đơn giản là môt file nguồn ( *.py), nó có thể phơi bầy ra các lớp (class), hàm (function) và các biến toàn cục (global variables), mà các module khác có thể sử dụng.

Khi nhập khẩu (import) một file nguồn Python khác. Tên của file được đối xử như là một namespace (Không gian tên)

“Python package” đơn giản là một thư mục chứa các “Python module”.

Khi bạn tạo một package có tên “org.o7planning.test” sẽ có 3 thư mục được tạo ra là “org”, “o7planning”, “test”, trong mỗi thư mục tạo sẵn một file có tên “__init__.py”. Các file “__init__.py” thực chất không có nội dung bên trong, nhưng nó nói với Python rằng hãy đối xử với các thư mục chứa nó như là một “package”.

Bạn có thể tạo một module bên trong package, chẳng hạn tôi tạo một module có tên “mymodule.py” trong package “org.o7planning.test”:

Và trong một module khác có thể nhập khẩu “mymodule” để sử dụng với cú pháp:

# Nhập khẩu module "mymodule" trong package "org.o7planning.test" import org.o7planning.test.mymodule

Hoặc nhập nhẩu một class “myclass” trong module “mymodule”:

# Nhập khẩu một class nằm trong module mymodule. from org.o7planning.test.mymodule import myclass HàmMô tả

math.floor(x)

Trả về phần nguyên của x như một kiểu float, là só nguyên lớn nhất và nhỏ hơn hoặc bằng x.

math.fabs(x)

Trả về giá trị tuyệt đối của x.

# Nhập khẩu module math để sử dụng. import math # math.floor(x) # Hàm này trả về số nguyên (interger) lớn nhất và nhỏ hơn hoặc bằng x. print ("math.floor(100.12) : ", math.floor( 100.12) ) # Hàm trả về giá trị tuyệt đối (absolute value). print ("math.fabs(-100.72) : ", math.fabs( -100.72) )

Tạo một module với tên “mymodule” và nằm trong package “org.o7planning.test”. Trong mymodule định nghĩa một hàm có tên sayHello.

Chú ý: Trong bài hướng dẫn này tôi không giới thiệu chi tiết về hàm. Nếu bạn là một người mới bắt đầu với Python, bạn không cần lo lắng về điều đó.

# Định nghĩa một hàm, truyền vào tên người # và trả về một chuỗi. def sayHello(name) : return "Hello "+ name # Sử dụng hàm sayHello ở trên. text = sayHello("Python") print(text)

Trong một module khác bạn muốn sử dụng hàm sayHello của “mymodule” bạn cần phải nhập khẩu module này, hoặc chỉ nhập khẩu hàm sayHello của module này.

import module:

# Import module. import org.o7planning.test.mymodule # Gọi hàm sayHello của mymodule: greeting = org.o7planning.test.mymodule.sayHello("Python") print(greeting)

Import function:

# Nhập khẩu hàm sayHello. from org.o7planning.test.mymodule import sayHello # Gọi hàm sayHello của mymodule: greeting = sayHello("Python") print(greeting) 6- Tra cứu thư viện Python

Khi làm việc với Python, bạn cần các tài liệu để có thể tra cứu các thư viện Python, và cách sử dụng chúng. Các tài liệu này được giới thiệu trên trang chủ của Python, các tài liệu này rất đầy đủ và chi tiết cho từng phiên bản khác nhau của Python.

Khái Niệm Các Chỉ Số Flash : Gn,Ttl,Hhs,Tốc Độ Ăn Đèn Body Là Gì ?

Khái niệm các chỉ số flash : GN,TTL,HHS,Tốc độ ăn đèn body là gì ?

vuanhiepanh.com Giải thich các chỉ số của flash

GN – Guide Number – Chỉ số công suất

Năng lực của đèn được đánh giá qua chỉ số hướng dẫn GN, cho biết cự ly ăn đèn ứng với giá trị khẩu độ và ISO cho trước.Chỉ số GN cơ sở được ghi trên catalogue của đèn cho biết cụ ly phủ sáng (flash range) xa nhất của flash là bao nhiêu mét (hoặc feet) ứng với độ nhạy sáng ISO tối ưu (thường là ISO=100), với góc mở tiêu cự 35mm trên máy film (hoặc máy ảnh FX), trong môi trường truyền dẫn ánh sáng tốt nhất (trên catalogue của flash sẽ ghi cụ thể các thông số) . Với GN cơ sở ghi trên catalogue, nếu D là cự ly phủ sáng ta có:

D = GN/F-Number

Nếu nhìn công thức trên ta sẽ thấy nếu khẩu độ càng mở thì đoạn đi của flash tương ứng GN càng dài.Lưu ý: Mỗi một lần tăng F-Stop hoặc ISO lên 1 nấc thì GN sẽ tăng lên 1.41 lần. Ví dụ đèn Canon Flash 550EX có GN = 55, nếu tăng từ ISO=100 lên ISO=200, ta sẽ có GN= 55 x 1.41 = 78. Cự ly phủ sáng là chiều dài của đường đi tia sáng flash không phải là khoảng cách từ máy đến chủ thể. Nếu đánh đèn phản xạ trần, đường đi của tia sáng phải tính là đoạn đường từ flash đến trần và từ trần đến chủ thể (phải trừ hao thêm khả năng phản sáng của trần nữa).

E-TTL (I -TTL) hay là Pre-flash của sony – Cân bằng phủ sáng tự động

E-TTL – Evaluative Through The lens (hay I-TTL – Intelligent Through The Lens): ước lượng ánh sáng đèn qua ống kính. Hệ thống này không dùng bộ phận cảm biến flash sensor trên đèn để đo sáng mà nó dùng một nguồn sáng thứ cấp có công suất thấp và xung ngắn gọi là Pre-flash phát ra trước nguồn sáng chính, quang kế trên máy ảnh sẽ phân tích và tổng hợp giữa ánh sáng môi trường và ánh sáng do nguồn sáng thứ cấp này phát ra để quyết định công suất cho đèn. Nói đơn giản hơn, đèn sẽ phát ra nguồn sáng “nháp” và máy ảnh dùng nguồn sáng này làm cơ sở quyết định công suất cho nguồn sáng chính. Quá trình đo sáng trong chế độ này tương tự chế độ đo sáng ma trận trên máy ảnh, nguồn sáng Pre-flash sẽ đánh sáng mọi vật thể trong khung ảnh, máy ghi nhận, phân tích và đưa ra kết quả về công suất để cân bằng phủ sáng cho đèn

Synchronized Flash Speed – Tốc độ ăn đènTốc độ ăn đèn là thời gian khi chủ thể nhận được ánh sáng từ đèn, khi film (hoặc cảm biến) đã lộ sáng hoàn toàn cho đến lúc đèn ngừng phát sáng. Khi thiết kế đèn flash, các kỹ sư đã tính toán “thời điểm” đèn phát sáng tương thích với “thời điểm” màn trập đóng mở.

Maximun Flash Sync Shutter Speed

Tốc độ đóng màn trập tối đa đồng bộ với flash là tốc màn trập ở mức tốc độ cao nhất có thể để đồng bộ hoá với flash. Đối với các DSLR hiện đại thường là 1/180s hoặc 1/250s.

Normal Sync – Đồng bộ đèn bình thường.

Normal Sync là tốc độ ăn đèn bình thường, nó bao gồm từ tốc độ ăn đèn tối đa về tới tốc độ chậm nhất của máy ảnh, và B (là rất nhiều tốc độ).Trong các D-SLR luôn tồn tại 2 màn trập đóng và mở với thời gian chính xác. Khi nhấn nút chụp, màn trập thứ nhất sẽ mở để lộ cảm biến (hoặc phim) và sau đó màn trập thứ hai sẽ đóng lại kết thúc quá trình phơi sáng. Khoảng giữa thời gian “đóng và mở” gọi là thời gian phơi sáng có thể kéo dài tới 30s (có thể lâu hơn) hoặc nhanh tới 1/8000s hoặc 1/10.000s tuỳ theo DSLR. Có tên gọi khác cho màn trập thứ nhất và thứ hai (first curtain/second curtain) là màn trập trước và màn trập sau (front/rear curtain)Khi đang ở chế độ Normal Sync. Với tốc độ chụp chuẩn, “màn trập thứ nhất mở, đèn flash nháy, màn trập đóng lại”. Khi vượt quá tốc độ ăn đèn tối đa, màn trập thứ nhất chưa mở ra toàn phần, thì màn trập thứ hai đã bắt đầu di chuyển, và khi màn trập thứ nhất vừa đến điểm cuối, thì flash nháy để ghi nhận nguồn sáng và màn trập thứ hai đóng lại, tạo thành “một khe lộ sáng” khoảng phơi sáng ở giữa hai màn trập. Đèn flash phát sáng trong quá trình đóng màn trập nhanh này không đủ thời gian để phơi sáng toàn bộ khung ảnh mà chỉ kịp đủ để rọi sáng một phần khung ảnh.

Auto FP High-Speed Sync – Đồng bộ đèn tốc độ cao tự động

Chế độ này cho phép tốc độ màn trập đóng nhanh hơn “Tốc độ đồng bộ đèn tối đa – Maximun Flash Sync Shutter Speed”. Với chế độ Auto FP High-Speed Sync cho phép đèn đánh đồng bộ với máy ảnh lên đến 1/4000s phù hợp cho những cảnh chụp cần tốc độ màn trập đóng nhanh như chụp ảnh trong môi trường ánh sáng chói chang cần tăng tối đa tốc độ màn trập, hoặc như các cảnh chụp cần bắt đứng hình ảnh di chuyển. Trong chế độ Auto FP High-Speed Sync, đèn flash sẽ nháy liên tục trong quá trình phơi sáng với chu kỳ 50.000Hz, như vậy ảnh sẽ được flash rọi sáng toàn phần.

Lưu ý thêm: khi tốc độ ăn đèn càng cao thì hiệu suất GN càng giảm. Ví dụ đối với đèn Canon 380EX, ở tốc độ màn trập là 1/500s thì GN tương ứng là 10.8 nếu như ở tốc độ màn trập là 1/4000s thì GN tương ứng là 3.8

Là việc đánh đèn trong lúc chụp với tốc độ chậm. Hiệu quả của ảnh nhận được sẽ là kết quả của chế độ hoà trộn giữa hiệu ứng tốc độ chậm để tăng sáng trong vùng tối và hiệu quả đánh flash làm rõ nét chủ thể trong vùng phủ sáng.

Có 2 chế độ trong slow sync là flash nháy ngay khi màn trập vừa mới mở (Front- Curtain Sync) và chế độ nháy flash tíc tắc ngay khi sắp kết thúc quá trình phơi sáng (Rear-Curtain Sync). Mặc định, nếu không gán chế độ Rear-Curtain Sync, được hiểu là Front-Curtain Sync (một số DSLR không ghi chế độ Front-Curtain, không nên hiểu lầm là máy không có chế độ này). Với chế độ Front-Curtain Sync, khi chụp một chủ thể đang chuyển động, đèn flash sẽ đánh sáng buộc chủ thể phải “tạm”đứng im cho đến khi đèn flash kết thúc quá trình đánh sáng, và quá trình phơi sáng vẫn tiếp tục ghi nhận những chuyển động của chủ thể. Kết quả ta sẽ có chủ thể đứng yên và những vệt nhoè do chuyển động tiếp nối phía sau. Và ngược lại với Rear-Curtain Sync

FV lock – Khoá thông số đèn

Cũng có tên gọi khác là FE Lock (Flash Exposure Lock). FV Lock (Flash Value lock) là chế độ khoá thông số đèn để bố cục lại ảnh mà không làm thay đổi các thông số trên đèn.

Flash Exposure Compensation (FEC) – Bù trừ sáng trên flash

Với việc thay đổi bù trừ sáng trên flash, ta có thể ứng dụng vào việc chụp bủa vây flash – Flash Exposure Bracketing (FEB) bằng cách gán cho máy ảnh chụp bủa vây liên tục với 3, 5 hoặc 9 tấm ảnh với các trị số phát sáng (FEC) khác nhau.

Repeating Flash -RPT: Chế độ chớp sáng đèn liên tục

Stroboscopic flash hay RPT – Repeating flash là hiệu ứng chớp một chuỗi đèn liên tục cách khoảng đều nhau trong một lần phơi sáng duy nhất.

Đèn Speedlight sẽ chiếu liên tục một loạt ánh sáng trắng (tạch tạch_ – trước khi đèn nổ chính thức, nhằm xoá trắng và làm đồng tử của mắt người (hoặc thú vật) khép lại, giảm thiểu hiện tượng mắt đỏ.

Speedlight auto zoom capability – Góc chiếu sáng thay đổi tự động

Không nên hiểu nhầm “zoom capability” là cự ly phát sáng của đèn mà nên hiểu là góc chiếu sáng (angle of coverage) của đèn ứng với một tiêu cự nào đó (dù thực tế là khi thay đổi góc phát sáng, thì GN cũng thay đổi theo).

Những đèn chớp điện tử “cổ điển” dùng cho máy film 135 thường chỉ có một góc chiếu sáng, khoảng 60 độ chiều dọc và 45 độ chiều ngang, ứng với ống kính tiêu cự 35mm. Nếu ống kính có tiêu cự dài hơn như 50mm thì không có vấn đề gì, nhưng nếu sử dụng ống kính có tiêu cự ngắn hơn như 24mm, 17mm…, thì vấn đề phát sinh là ảnh sẽ bị tối 4 góc do nằm ngoài vùng phủ sáng của đèn.Các đèn Speedlight được cải tiến phù hợp với các DSLR có chức năng thay đổi góc chiếu sáng phù hợp với khá nhiều các tiêu cự của ống kính, kể cả fisheye. Nó có thể tự động điều chỉnh góc chiếu sáng của đèn phù hợp với tiêu cự hiện hành hoặc cũng có thể tuỳ biến để chọn góc phủ phù hợp với ý đồ sáng tác.Năm 1985, Minolta cho ra đời cái máy ảnh Dinax 7000 (maxum 7000). Đây là chiếc máy Autofocus đầu tiên, mở màn cho một thời kỳ “chạy đua vũ trang” của các hãng máy mà kỹ thuật hàng đầu luôn luôn là Minolta, Canon và Nikon. Thập niên kế tiếp (từ 1991-2000) có nhiều phát minh trong nhiếp ãnh. Trong những khám phá quan trọng thời kỳ này, có lẽ phát minh về flash có tốc độ ăn đèn cao HSS ( High Speed Synchronisation) là một trong những phát minh đóng vài trò hàng đầu.

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Thiết Lập Đèn Flash Rời Cho Người Mới Chơi (Phần Ii) trên website Nhatngukohi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!